TÁC GIẢ
TÁC PHẨM




ANH ĐỘNG



. Tên thật Nguyễn Việt Tùng
. Sanh năm 1941 tại Vĩnh Thuận - Kiên Giang
. Hiên cư ngụ tại Thị Xã Kiên Giang
. Hội viên Hội Nhà Văn Việt Nam, Hội Văn nghệ Dân Gian Việt Nam

TÁC PHẨM ĐÃ XUẤT BẢN :

. Bác Ba Phi (tiểu thuyết)
. Bóng núi Tô Châu (tiểu thuyết)
. Xôn xao đồng nước (tiểu thuyết)
. Dệt chặng đường xuân
. Đường về Miệt Thứ (ca cổ).....








TIỂU THUYẾT


BÁC BA PHI - PHẦN I (1 & 2)

















































BÁC BA PHI


LỜI NGƯỜI VIẾT

Chuyện nguyên mẫu của bác Ba Phi chỉ nói về thiên nhiên giàu đẹp của xứ sở U Minh, nơi quê hương đang sống, nào rắn rùa, tôm cá, chim chuột tuyệt đối không có chuyện nào nói đến chiến tranh cả. Cuộc kháng chiến chống Mỹ mỗi lúc một ác liệt, chuyện bác Ba Phi mỗi lúc một phát triển đa dạng, lan truyền nhanh, nhân rộng theo những “kênh” đường dây giao liên, vận tải, theo đường hành quân, nơi ăn ở của bộ độ, cơ quan cách mạng. Cứ cái mô-típ gài cốt chuyện rồi tạo một thắt nút có kịch tính phóng đại nhảy vọt, mạnh ai nấy sáng tác rồi đổ thừa đó là truyện của bác Ba Phi. Có những “môn đồ” muốn thuyết phục người nghe còn thề bán mạng là chính mình ngồi giáp mặt bác Ba nghe kể chuyện vào trường hợp nào... nào đó, số môn đồ đó không loại trừ tôi.
Tôi nhớ không lầm, mãi cho đến những năm giặc bình định ác liệt, có nghĩa là vào đầu Việt Nam hóa chiến tranh, từ chiến trường 1C, tôi là người “đưa” bác Ba Phi tham gia vào chiến tranh.
Chiến trường ác liệt đến người ta tưởng tượng rờ đâu cũng đụng cái chết, gian khổ đến thân thể lính ta vào những mùa nước bị ghẻ lác loang lở từ “lỗ chiếu môn đến đỉnh ruồi”. Và đói khát, bệnh hoạn đến vàng da, rụng trọi tóc. Con người cần có tiếng cười như tim cần có máu. Phương tiện chiến tranh hiện đại của địch ở đây thường dùng áp đảo ta ngoài máy bay “cán gáo” còn pháo bầy, tàu binh các loại, trực thăng vận và xe lội nước. Để mượn bác Ba Phi giải tỏa bớt nỗi “ớn xương sống” các loại nầy ở lính ta, tôi nghiên cứu đưa bác ra hàng thế trận diệt chúng từ từ... Đến khi chấm dứt cuộc chiến tranh chống Mỹ, chuyện bác Ba Phi vẫn còn là văn học truyền khẩu, chưa thấy xuất hiện thành văn ở sách báo nào...
Có lần tôi thầm thì với bác Nguyễn Tuân về ý định muốn đưa chuyện truyền khẩu bác Ba Phi vào văn học. Bác Tuân khuyến khích ngay:

“Cậu mổ xẻ ông Ba Phi trên mảnh đất của cậu, bằng con dao của cậu rồi xào nấu với nguyên liệu riêng của cậu, nó sẽ trở thành một món đặc sản thích hợp khẩu vị bạn đọc hơn bất kỳ ai”...

- ANH ĐỘNG -




PHẦN I : MÙA KHÔ



1- CHIẾC TÀU KHÔNG ĐỘNG CƠ.


- Lửa cháy ! Lửa cháy ! Ông nội ơi, lửa cháy gần tới Lung Tràm rồi.

Thằng Đậu đứng ngoài sân, chổng mông réo ông nội nó tựa đuổi bò ăn mạ. Bác Ba Phi với tay lên gác chụp vội cây chèo, chạy ra sân. Nhưng bác lại chạy trở vô, đến bên đầu vách vớ lấy chiếc khăn choàng tắm tiều bịt khấc lên đầu, quay trở ra. Vừa đến thềm nhà, bác lại quên chiếc áo và gói thuốc bánh giồng, lại quay trở vô lần nữa. Bác lận gói thuốc vào lưng quần, vắt chiếc áo lên vai. Bác Ba Phi lại chạy ra. Khi bác xuống tới bến thì thấy thằng Đậu đã cầm sào đứng sẵn trước mũi ghe.

Nhìn ông nội lính quýnh, thằng Đậu mắc cười, nó dậm chân, réo quyết liệt:

- Rút đi ! Ông nội cứ cà rịch cà tang để rùa nó bò xuống lung “chém vè” hết trọi.

Bác Ba Phi nhảy vội xuống lái ghe, xeo bung ra dòng nước. Vừa kềm lái thả xuôi theo dòng nước chảy, bác Ba vừa sửa lại chiếc khăn bịt khấc trên đầu, vắt lại chiếc áo từ vai này qua vai kia, vận lại cái lưng quần lá nem lưng trắng. Chiếc ghe bị nước U Minh đạp trôi nhanh quá, tấp hông vào cọc cây cầu khỉ bắc ngang kinh, rồi hất ra một cái làm hai ông cháu bác Ba chới với. Chiếc ghe chòng chành. Thằng Đậu cằn nhằn ông nội;

- Vậy đó ! Ông nội kềm lái gì đâu...
Bác Ba lụp chụp quơ chèo nạy mạnh cho chiếc ghe bung ra giữa dòng, hào hển bảo cháu:
- Không sao, còn kịp...

Chiếc ghe tam bản sức chở hàng chục tấn của hai ông cháu bác Ba Phi đã cặp lại mé Lung Tràm. Quả như bác dự kiến, ngọn lửa đốt đồng còn cháy xa lơ tận trên kinh Đường Ranh. Lửa giăng thành hình vòng cung, cháy nà xuống. Mùa khô cỏ cao ngập đầu, xuống ủ thành một lớp bổi khô làm mồi cho lửa cháy nhạy vô cùng ! Dưới lớp cỏ bổi ấy là mặt đất lỗ chỗ những hố lá, lò rèn. Một địa thế như vậy rất thuận lợi cho các loài rùa, rắn, ếch, chuột xây dựng những “thành phố” mà sống mọc râu. Nhưng hôm nay, bọn chúng phải bồng chống nhau chạy trối chết bởi ngọn lửa ác hại này.

Ngọn lửa như một lũy tre, đỏ kéo giăng từ mé biển vô tới Kinh Ngang, cứ ào ào từ trên gió cháy nà xuống. Các loài rùa, rắn, trăn, chồn chạy dồn xuôi theo chiều gió mà tỵ nạn. Bởi vậy hai ông cháu bác cột sợi dây đỏi ghịt mũi ghe vào gốc cây, dùng sào banh cặm ép lái ghe sát vào bờ. Rồi hai ông cháu hè hụi khiêng một tấm ván lớn làm cây đòn dày bắc từ be ghe lên bờ thành một nhịp cầu. Lặn ngụp trong biển khói mù mịt của ngọn lửa từ trên gió thổi xuống, hai ông cháu bác Ba vẫn mắm môi gần ngạt thổi, nước mắt chảy ràn rụa, họ cố làm cho xong cái “bến phà” cho các loài vâït từ trên bờ bò xuống.
Xong đâu đó, hai ông cháu bác Ba cầm hai thanh gỗ, quấn khăn trùm mặt để chống khói, kẻ ngồi mũi, người ngồi lái ghe mà chờ. Lửa cứ từ trên gió cháy đùa xuống một cách tàn bạo ! Lửa bay tàn đỏ trời, rơi vãi đầy người bác Ba và thằng Đậu, họ phải luôn tay đập phủi để khỏi bị lửa ngún cháy quần áo.
Hàng rào lửa cháy tràn xuống còn độ vài trăm mét nữa tới mé Lung Tràm, nhưng ông cháu bác Ba Phi vẫn chưa thấy động tĩnh gì. Thằng Đậu sốt ruột:

- Coi mòi bữa nay trớt quớt rồi đó ông nội !
Bác Ba cũng hoài nghi:
- Không lẽ kỳ vậy. Chờ chút coi.

Bác Ba Phi nói vừa dứt, bỗng thấy trên mé lung, chỗ đám cỏ xanh rì vụt động đậy. Thằng Đậu nhóng lên xem. Bác Ba cũng nhìn theo. Có lẽ là hơi lửa quận vào lùm cỏ rung rinh. Họ càng nhìn kỹ. Không ! Có một con gì xạo xự bên dưới. Ơ, không phải chỉ một con, mà có đến cả bầy ! Rồi bất thần một con chuột cống nhum lông đen sì vọt ra. Con chuột chạy ra khoảng trống, vội dừng lại, giương đôi mắt tròn đen, nhìn ngơ ngác. Rồi một con chồn đèn vàng óng cũng vọt ra, dừng lại cạnh con chuột, đảo cặp mắt lừ đừ nhìn chuột như muốn dò hỏi một chuyện cơ mật. Chuột cống quay lại nhúc nhít hai hàng ria mép có lẽ muốn trao đổi một vấn đề quan trọng với anh bạn đồng hành. Nhưng phía sau, từ trên đám cỏ đã xao động rào rào do đàn chuột cống và chồn đèn tràn tới. Thấy hai loại nầy là đồ vô dụng, bác Ba Phi lắc đầu chán nản, vung thanh gỗ lên ra vẻ từ chối. Con chuột cống với con chồn đèn càm đầu thấy thái độ người chủ ghe không đồng ý tiếp đón, chúng liền mở mũi sang hướng khác, dàn đàn tuôn đại xuống Lung Tràm, lội qua bên kia. Ông cháu bác Ba ngồi trên ghe nhìn chuột và chồn lội đầy nghẹt một khúc sông mà vỗ tay cười ngất. Họ đậu ghe ở đây là để đón bắt loại rùa, có giá trị hơn.
Thế rồi đến những con trăn vằn vện lần lượt bò ra, bất chợt lọt đến khoảng đất trống, con nào cũng cất đầu lên, le le cái lưỡi ba chia dường như hỏi chào bác Ba Phi để thăm dò đường đi. Bác Ba cũng vung thanh gỗ lên, lắc đầu, làm lũ trăn cụt hứng, quay đầu bò đi hướng khác. Nhìn theo những con trăn, bác Ba lẩm bẩm:

- Ai công đâu bắt chúng nó về. Da trăn lúc này rẻ mạt, thịt xảm xì. Dù có mướn cũng không ai thèm ăn.

Bác Ba Phi cùng thằng Đậu cứ cầm hai thanh gỗ ngồi chờ. Và sau đó, lúc hàng rào lửa bủa xuống còn độ một trăm mét, bấy giờ cái “mặt hàng” của hai ông cháu bác Ba chờ đợi mới lần lượt xuất hiện. Mé cỏ rung lên như có một con trốt xoáy, một số rùa nho nhỏ bằng cái chén ăn cơm rải rác bò ra. Rùa vàng, rùa quạ, rùa nắp, rùa hôi đều có mặt. Ra đến khoảng trống, chúng xếp thành hàng đôi đi xuóng “bến phà” cà rì cà rụp. Thằng Đậu thấy rùa nhỏ con tỏ vẻ không hài lòng, đưa mắt ngó chừng để dò ý ông nội. Bác Ba chặt lưỡi, lắc đầu ngầm bảo là mình cũng chán. Hai ông cháu bác Ba ngồi nhích lại hai bên đầu cầu, dùng thanh gỗ gạt những con rùa đang bò, rơi xuống nước. Rùa rớt bao nhiêu thì bám vào be ghe bấy nhiêu.
Lửa cứ cháy nà tới. Rùa xếp hàng ba rồi hàng tư vội vã chạy rụp rụp xuống ghe một cách khẩn trương. Bấy giờ có những con rùa lớn hơn, mai đen ngời bằng cái tô úp đầu.
Thằng Đậu cũng lại dòm chừng ông nội để hỏi ý kiến. Bác Ba có hơi suy nghĩ rồi mới chíp môi, nhự gật đầu. Đến lúc hàng rào lửa đã cháy còn độ năm mươi mét nữa là tới mé lung, bây giờ rùa bự mới lụp cà lụp cụp bò tới. dẫn đầu là một chú càng đước mai lớn bằng cái sàng gạo, hai đầu yếm nhọn lởm chởm hình răng cưa. Khi đến đầu cầu, chú càng đước dừng lại, đưa tay chùi nước mắt và hả họng cúi đầu chào bác Ba . Bác Ba Phi vuốt râu, mỉm cười và gật đầu một cách hài lòng. Từc thì đàn rùa xếp thành hàng bốn bò thẳng xuống.
Nhưng cái thứ “thầy rùa” này cũng gian manh đáo để, trong mỗi đầu hàng tư chúng lại xen vào một chú nhỏ. Hai ông cháu bác Ba cương quyết không chấp nhận, thấy con rùa nào nhỏ bò lộn trong hàng liền bạt tai một cái, rơi xuống nước. Lũ rùa bị rơi thành dề đeo theo hai bên be ghe, một tay quạt nước nâng tấm thân nặng nề cho nổi lên khỏi chết đuối.
Lửa cháy ào tới. Đám cỏ xanh mỗi lúc một xáo động. Cỏ guộng giồng và ngã liệt. Đó là những đàn rùa lớn nhất chạy chết, đang tràn tới. Chúng chạy loạn xạ không còn trật tự gì cả. Mạnh con nào nấy mang chiếc mai kình càng của mình mà chồm đại lên lưng đồng loại để tranh nhau xuống phà. Chúng bị khói un, nước mắt nước mũi chảy choàm ngoàm, nhưng vẫn cứ chạy bằng ba chân còn một chân đưa lên che lấy mặt.
Rùa xuống đã đầy ghe. Bác Ba ra lịnh cho thằng Đậu mở sợi dây cột đằng mũi. Bác rút đòn dày rồi nhổ sào banh xô chiếc ghe bung ra. Những con rùa tới sau phải nhảy bừa xuống sông, kết bè với đám rùa đeo theo hai bên be ghe nãy giờ, thế là hai ông cháu bác Ba Phi cho ghe bung ra giữa dòng sông, xuôi theo nước trở về.
Đàn rùa đeo theo hai bên ghe, khi ra giữa sông sợ bị chìm, chúng hoảng vía đạp nước quyết liệt. Cứ một chân vịn vào be ghe, ba chân đạp nước làm cho chiếc ghe của hai ông cháu bác Ba Phi lướt tới ào ào. Ghe càng lao tới thì đàn rùa càng sợ sút tay rơi lại, chúng càng quyết liệt bám chặt và bơi miết. Chiếc ghe mỗi lúc một tăng tốc. Chồm chồm cỡi nước tạo thành hai vệt sóng cuộn tròn hình chữ V trắng xóa. Hai ông cháu bác Ba Phi khỏi phải chèo, bơi gì nữa. Thằng Đậu ngồi trước mũi ghe gõ dầm cộp côïp mà ca bài “Dân Liên Xô vui hát trên đồng hoa”. Bác Ba thì ở sau lái cứ cắp chèo vào nách mà kềm cho ghe đi đúng hướng. “Chiếc tàu không có động cơ của hai ông cháu bác Ba Phi cứ lướt sóng chồm tới. Gió phất phơ chòm râu màu bông sậy dưới cằm làm cho bắc Ba nghe lòng mênh mong thơ thới. Bác lận lưng lấy gói thuối bánh giồng ra vừa kềm lái vừa vấn hút. Bác cứ nhả khói, nhìn mây, hiu hiu ánh mắt kềm con tàu lướt sóng ào ào mà không nghe một tiếng vang, một nhịp chao động rung rinh nào của máy nổ. “Chiếc tàu” của hai ông cháu bác Ba Phi đang độ tăng tốc, bỗng có tiếng đàn bà đâu đó kêu réo chí chóe trên mặt sông:

- Tàu tóp máy ! Tàu làm ơn tóp máy.

Bác Ba giật mình nhìn sang. Ơ kìa, những chiếc xuồng chở lúa khẳm mẹp chèo đi ngược chiều. Xuồng của họ đang bị những đợt sóng tàu của hai ông cháu bác Ba đánh bổ chòng chành sắp bị lật đến nơi ! Bác Ba vội rà máy chèo làm động tác hãm tốc, nhưng không kham. Chiếc ghe cứ chồm tới ào ào, mũi vẹt nước bung ra hai luồng sóng dữ. Mấy người đàn bà chèo những xuồng lúa sợ bị đánh chìm, cứ kêu réo thất thanh. Bác Ba không biết phải làm sao, đành thét:

- Tàu rùa ! Tàu không có gắn máy. Tàu rùa, tóp máy không được!
- Và cứ thế, bác Ba kềm lái cho chiếc ghe chở rùa của mình chạy một mạch về tới nhà, lủi tuốt vô ụ bến.

Bác Ba gái nghe hai ông cháu thằng Đậu về tới, vội chạy ra mở tấm đăng sậy chận ngang họng đìa cho chiếc ghe chở rùa chống vô đậu luôn phía bên trong rồi mới bửng tấm đăng lại. Hai ông cháu bác Ba Phi mệt đừ, lững thững lên nhà. Thằng Đậu thì sà xuống ôm lấy con chó Đuổi, còn bác Ba ngồi dựa trên ghế trường kỷ, lột khăn bịt khấc, gỡ áo vắt vai ném vào góc giường, thở ra, bảo bác gái:

- Tối rồi, dọn cơm ra bỏ bụng ba hột đi bà !



2- QUYẾT BẮT CHO ĐƯỢC KẺ TRỘM.


Đêm ấy bác Ba Phi đậu chiếc ghe chở đầy rùa trong khẩu đìa bèo bên cạnh nhà. Sáng ra kiểm tra lại thấy số rùa trong ghe vơi đi rất nhiều. Thế nầy là thế nào ? Không lẽ có kẻ trộm ? Ở xứ nầy ai không phải là bà con cật ruột thì cũng là bạn bè chí cột với nhau, từ trước tới giờ chưa một nhà nào bị vi sơ một trái ớt, một trái cà, bữa nay bị mất cắp là vô lý ! Nhưng tại sao rùa trong ghe không có cánh lại bay biến đi mất ? Vòng bao lưới thành ghe còn y nguyên, với độ cao và dày như vậy rùa không thể trèo ra hoặc chui lọt được. Bác Ba chấp tay sau đít đi tới đi lui suy nghĩ mãi. Bác hút đến mấy điếu thuốc mà vẫn không đoán nổi lý do tại sao. Nhất định phải rình xem tận mắt coi rùa bị mất bằng con đường nào.

Chiều hôm ấy, hai ông cháu bác Ba Phi giả vờ dắt nhau xuống xuồng bơi ra sông Đốc, có công chuyện. Đến vàm Rạch Lùm, bác Ba cùng thằng Đậu neo xuồng lại, đợi hết canh một ông cháu bơi đáo trở về. Rón rén đậu xuồng đằng bến nhà dì Sáu, bác Ba cầm cây mác rừng cán dài, thằng Đậu cắp cây dáo nhỏ, hai ông cháu bí mật phục kích sau bụi tre xiêm trên bờ đìa, cạnh chiếc ghe chứa rùa. Măïc dù muỗi bu như trấu vãi, nhưng hai ông cháu bác Ba Phi cứ kên mình nằm êm ru, chờ đợi...

Đêm mỗi lúc một khuya. Con gà tàu lai cúm núm của bác ở ngoài chuồng đã đập cánh gáy “Ò ó o... cúm núm” đến mấy lượt, vậy mà hai ông cháu bác Ba vẫn chưa thấy bóng dáng tên trộm nào léo hánh. Thằng Đậu mấy lần than buồn ngủ, nhưng bác Ba động viên cháu ráng chịu. Thằng nhỏ cũng nghe lời, kiên trì cắp dáo nằm bên ông nội, thỉnh thoảng nó khoa khăn đuổi muỗi.

Gần đến canh năm, hai ông cháu bác Ba Phi chợt thấy mặt nước đìa chỗ gốc cây mù u, phía bên kia bờ khi không lại chao động một vùng. Bèo tai tượng chập chờn chao đảo cuộn quận lên thành một vực xoáy. Rồi từ dưới nước có vật gì đen thui lớn bằng cái khạp da bò từ từ lừng lên. Một lúc nó trồi lên khỏi mặt nước một thêm cao. Cố xem kỹ, bác Ba nhận ra đó là một con người dị dạng. Con người kia dang hai cánh tay ngắn ngủn vẹt bèo cho trống thêm ra. Rõ ràng là kẻ trộm ! Nó từ đâu tới ? Nó tuột xuống đìa hồi nào mà lặn luồn vào đây ? Thằng Đậu khẽ bấm vào tay ông nội ngầm ý hỏi, nó được ông ra hiệu lại bảo rằng cứ yên tâm. Hai ông cháu bác Ba Phi kẻ gườm dáo, người cầm mác chuẩn bị xáp lá cà với tên trộm có cái đầu và đôi tay kỳ dị kia.
Tên trộm chẳng hay biết gì, nó cứ dang hai cánh tay ngắn ngủn vẹt bèo và rẽ nước lội tới bên chiếc ghe chở rùa, đến nơi, nó với tay nắm mũi ghe đu mình lên. Chiếc ghe nhún xuống một cái, đầu mũi khẳm đừ. Tên trộm đã ngồi gọn trên sạp mũi ghe. Chợt nhìn thấy toàn thân tên trộm, thằng Đậu suýt nữa bật ngửa ra chết giấc. Trời ơi ! Một người có nước da đen như quần lãnh, thân hình mập múp tựa cái lu. Cặp đùi nó gân guốc, nhưng sao hai tay nó lại ngắn ngủn, dáng vóc lùn tịt ? Khiếp đảm nhất là cái đầu, làm sao mà nó dẹt lét lại và có hai con mắt thồ lộ to bằng trái cau đóng thượng trên óc o ?
Nghe cháu nội run lẩy bẩy bên mình, bác Ba làm tỉnh sờ vào nó và động viên:

- Kẻ trộm có tài hóa trang, đừng sợ cháu ạ.
Thằng Đậu thều thào:
- Một thằng lùn dị dạng, ông nội ơi ?
- Một thằng gù da đen có cái đầu dẹp vậy thôi.

Tên trộm bây giờ vẫn còn ngồi êm chưa thấy động đậy gì. Hai ông cháu bác Ba Phi chắc mẻm tính mạng hắn đã nằm gọn trong tầm tay của mình rồi. Họ cứ gườm sẵn vũ khí chờ đợi. Chốc sau, họ thấy tên trộm từ từ chồm tới, vói tay qua lớp lưới bao thành ghe, bắt ra một con rùa lớn bằng chiếc dĩa bàn. Cái bụng của tên trộm phề phệ quá cỡ, phía dưới có mang một tạp-dề trắng phóc. Bác Ba nghĩ thầm: “Người đầu bếp mới đeo tạp dề, có đâu kẻ trộm cũng lại đeo, nghĩa là làm sao ?”. Nhưng bác Ba lại chợt hiểu ra: lớp hóa trang bằng lọ nghẹ của nó bị cỏ cào trôi mất phần phía dưới bụng.
Trong lúc ấy tên trộm đưa con rùa vô miệng. Cái miệng của nó rộng đến mép tai, táp một cái “bụp” rồi nhai ràu rạu. Rồi cứ thế, hắn thò tay vào lưới bắt từng con rùa ra ngồi nhai ngon lành. Nó nhai rùa nghe giòn tan tựa người ta nhai cà pháo muối chua vậy. Tên trộm ăn một hơi đến năm bảy con rùa mà chưa thấy hắn đã thèm.
Nãy giờ nằm theo dõi kỹ lưỡng, bác Ba Phi hiểu chắc chắn tên trộm này là ai rồi ! Ức quá, bác Ba cùng thằng Đậu cầm vũ khí đứng bật dậy, thét:

- Ếch !

Quả đúng là con ếch lớn ngoại cỡ.
Con ếch bà nghe tiếng động liền nhảy ùm xuống đìa. Lặn tuốt về phía gốc cây mù u. Bác Ba Phi thở phào. Lâu nay bác biết chỗ gốc cây mù u kia có một cái hang ếch ăn ngầm, nhưng đâu có ngờ con ếch này lại tự tung tự tác quá vậy?

Sáng hôm sau, bác Ba cùng thằng Đậu tìm cách bắt cho được con ếch bà ăn trộm rùa hồi hôm. Bác bảo thằng Đậu tháo cái quai thùng đựng dầu lửa, là một que sắt lớn bằng chiếc đũa ăn cơm, dài độ một gang tay. Bác Ba dùng búa, kềm, đục, giũa chặt ngạnh, mài, uốn que sắt thành một lưỡi câu thật bén. Bác dùng sáu sợi dây chì gộp lại nhưng không se săn, tóm vào lưỡi làm nhợ câu. Theo kinh nghiệm, nhợ câu hoặc nhợ bẫy cứ để nhiều tao bung xòe như vậy, khi mắc một con vật lớn dù nó có giãy vùng thế nào cũng không thể cóc dây mà đứt đi được. Chúng có cắn thì từng sợi nhợ nhỏ bị lọt vào kẻ răng.
Làm xong, bác Ba bảo thằng Đậu ra chuồng bắt một con vịt xiêm lông vừa đâm ra ràng, cột vô lưỡi câu, thả xuống đìa.

Đến canh năm đêm sau, bác Ba cùng thằng Đậu ra ngồi rình tại bụi tre xiêm để chờ xem ếch ăn câu. Trời vừa hừng đông thì hai ông cháu thấy bèo tai tượng chỗ gốc cây mù u động đậy. Hai ông cháu bấm tay ra hiệu. Con ếch bà từ dưới nước trừng lên, nó cũng làm những động tác y như đêm trước. Trời tang tảng sáng, thằng Đậu thấy rõ hơn cái đầu của một con ếch lớn. Bữa nay chẳng những nó không thấy sợ sệt, ngược lại còn nghe khoái trong bụng vô cùng. Nó cứ nhìn chăm chăm vào cặp mắt ếch trợn lên thồ lộ đang dáo dác tìm mồi.
Côn ếch bà thấy con vịt xiêm đang đủng đỉnh rỉa rỉa giữa đìa, liền vung hai tay vẹt bèo, lội tới. Đến gần con vịt, ếch bà dừng lại, khỏa bèo, hớp nước súc miệng sào sạo rồi phun ra cái “phèo”. Làm mấy động tác vệ sinh cá nhân xong, ếch bà chồm tới trững mồi. Ánh mắt ếch bà trợn lên đen ngời tỏ vẻ vui thích, đầu nghiêng qua nghiêng lại, thè lưỡi liếm mép soàn soạt. Rồi ếch bà với tay bưng con vịt xiêm đưa lên mũi ngửi. Bỗng, ếch sa sầm tỏ vẻ không hài lòng về miếng mồi chưa được vừa miệng. Ếch lại cầm con vịt lên, rẽ đôi cánh ra xem. Nhìn cánh vịt mới đâm lông ống bum búp, ếch thua buồn lắt đầu, bỏ con vịt xuống lặn một hơi vào cái hang ngầm ở chỗ gốc mù u.
Bác Ba Phi cùng thằng Đậu ngồi núp sau bụi tre xiêm nhìn theo, sau khi ếch bỏ đi, bác Ba đứng lên thở ra, bảo với thằng Đậu:

- Ếch chê con vịt xiêm này còn hôi lông, không chịu ăn.

Ông cháu vô chuồng bắt một con vịt mái ta chân vàng, mỏ vàng, lông trắng phau. Con vịt này đang lứa đẻ mập múp, đít sà kéo lết. Họ đem ra đổi vào chỗ con vịt xiêm bị ếch chê.

Sáng hôm sau nữa, cũng vào lúc trời vừa hừng đông, con ếch từ dưới hang ngầm trong gốc cây mù u lội ra, đội bèo nổi lên. Ông cháu bác Ba Phi cũng núp sẵn sau bụi tre xiêm rình xem. Con ếch trừng lên nháy nháy đôi mắt tỏ vẻ hân hoan trước buổi sáng, rồi đưa hai tay ngắn ngủn lên vươn vai, ngáp dài một cách sảng khoái. Miệng ếch rộng tựa miệng can lân múa địa, xương hàm bạnh ra như hai cái cong xuồng. Mặt nước đìa chao động. Con vịt ta lông trắng bị cột vào lưỡi câu đang ung dung rỉa bèo nhởn nhơ, chợt thấy ếch bà, nó nhẹ vỗ cánh rũ nước, ngóng cổ lên nhìn, ngoáp chiếc mỏ vàng óng kêu cạp cạp. Ếch bà thấy con mồi béo ngậy liền vẹt bèo lội băng băng tới. Những động tác dầu tiên, ếch cũng làm vệ sinh cá nhân. Ếch vốc nước súc miệng xì xoạp, phun ra cái phèo. Sau đó nhìn con mồi một cách chăm chỉ, tỏ vẻ hài lòng. Mắt ếch ngời lên long lanh, gật đầu liền mấy cái, thè lưỡi liếm mép, rồi nhích lại bợ con vịt đưa lên. Con vịt hoảng hốt giãy giụa, đập cánh kêu quàng quạc. Gặp đúng con mồi vừa miệng, ếch bà chép chép môi, nước dãi tứa ra, liền há họng táp bập một cái, nhai ngấu ngốn. Nhưng sau đó dường như ếch phát hiện có vật gì không bình thường lẫn trong miếng ăn. Ngậm miệng lại, nghiêng đâu, ếch nheo mắt kiểm nghiệm.
Bác Ba Phi với thằng Đậu núp sau bụi tre xiêm, thấy thời cơ đã đến, ông cháu vụt đứng dậy một lượt, nạt lớn:

- Ếch !

Và ông cháu bác Ba kẻ cắp dáo, người cầm mác xông ra. Con ếch chợt thấy hai ông cháu bác Ba Phi hùng hổ, hoảng hốt nhào ngang, cắm đầu lặn thoát thân. Chẳng ngờ bị lưỡi câu trong họng xốc ngập vào hàm ếch, giật lại. Ếch bật đầu lên, nhảy dựng một cái và cắm xuống lặn tiếp. Lần này lưỡi câu đã xốc ngập ngạnh vào xương hàm ếch, buộc nó bật trở lại. Thế là ếch đã bị mắc câu, nổi phình lên mặt đìa, giãy giụa, chòi đạp làm nước văng trắng dã. Ếch cố lôi chạy về phía gốc cây mù u nhưng bị sợi dây câu ghịt lại. Sáu sợi dây chì rẽ ra căng thẳng tựa sáu sợi dây đàn lục huyền cầm. Hết phương vùng vẫy. Ếch bà căng thẳng sáu sơi nhợ câu, hai tay cào cào những sợi dây cố bứt cho đứt. Sáu sợi dây chì có sợi thẳng sợi dùng, trường độ khác nhau, bật lên những âm thanh cao thấp tạo thành một bản nhạc hấp dẫn vô cùng.

Mặt trời mỗi lúc một lên. Chim rừng đã dậy, cất tiếng líu lo chào mừng buổi sáng. Nhạc chim hòa cùng “nhạc ếch” nghe rộn rã làm sao ! Nhạc ếch có những bè trầm là đà trên mặt đìa, thỉnh thoảng xen tiếng ồm ộp tựa điệu trống.

Bác Ba Phi ngồi tựa lưng vào bụi tre xiêm mà nghe lòng rộn ràng kỳ lạ. Tâm hồn bác Ba như tỉnh như say theo tiếng nhạc ếch du dương mùi mẫn. Tức cảnh sinh tình, bác Ba cứ mơ màng lim dim, cầm que củi gõ vào gốc tre ca bài “Dạ cổ hoài lang” hòa theo nhạc ếch:

- “Từ, (là từ) phu tướng, bảo kiếm sắc phan lên đàng...”


CÒN TIẾP....



ANH ĐỘNG

© CẤM ĐĂNG TẢI LẠI NẾU KHÔNG CÓ SỰ ĐỒNG Ý CỦA TÁC GIẢ


TRANG CHÍNH TRANG THƠ ĐOẢN THIÊN BIÊN DỊCH HỘI HỌA ÂM NHẠC