Trâu Vàng Hồ Tây







Hoà thượng Khổng Lồ thời Lý. Tài cao đạo sâu. Ai cũng nể sợ. Đi tu từ trẻ. Một cây gậy sắt. Cái đãy nhiệm màu. Chu du thiên hạ. Không màng danh lợi. Không mê bạc vàng. Hiểu cuộc đời ngắn như hơi thở. Sống yêu thương. Sống có ích từng giây. Sống tỉnh thức, không tích nghiệp chướng mang xuống mồ, để đại hoạ cho con cháu. Sống được như thế, phải tu luyện nhiều đời, nhiều kiếp. Khổng Lồ là đại trí thức, hiền tài hiếm có của đất Việt, vua rất quí trọng, luôn bàn việc nước cùng Khổng Lồ.

Vua cần nhiều đồng. Đúc khí thiêng thờ Phật. Đất Việt không có đồng đen. Vua triệu Khổng Lồ. Sang Trung Quốc quyên.

Khổng Lồ lội suối trèo non, vượt ngàn trùng ghềnh thác những sông lớn, núi cao, vực sâu, đến kinh đô Bắc phương.

Vua Trung Quốc hỏi:

- Hòa thượng phương nào? Đến đây làm gì?

Khổng Lồ thưa:

- Dân nước tôi mộ đạo. Cầu bệ hạ đồng đen. Mở Phật Pháp Đại Việt.

Vua nghiêm mặt hỏi:

- Cần bao nhiêu đồng?

Khổng Lồ từ tốn đưa cái đãy nho nhỏ:

- Tâu bệ hạ. Cái đãy này là đủ.

Vua nhìn cái đẫy xinh xinh be bé, thấy nhẹ tấc lòng, kẻ cả nói lớn:

- Lấy cả trăm đãy. Trẫm cũng vui lòng.

Vua sai mở kho. Qua sân vào. Khổng Lồ choáng váng. Trước Tượng Trâu Vàng. To như cái nhà. Sáng chóe trời đất. Khổng Lồ đau ruột, đau gan như bị đâm, cắt, xé. Vàng và đồng đen xương máu dân mình. Còng lưng, nát thịt đào từ lòng đất Mẹ. Họ bắt mình đúc tượng Trâu Vàng cướp về. Hình tượng “Con trâu là đầu cơ nghiệp” Việt tộc sơ khai thiêng liêng! Trâu Vàng đang bị tù giam nơi kho lạnh Bắc phương. Trâu Vàng máu chảy về tim đau buốt tháng ngày.

Khổng Lồ nén xót đau trong dạ. Nuốt uất hận vào trong. Niệm Phật, thở thật sâu, lấy cân bằng tâm trí. Gương mặt thản nhiên bình lặng, cao cường.

Quan giữ kho vênh váo đùa:

- Hòa thượng có cần. Con trâu này không?

Khổng Lồ vờ không để ý Tượng Trâu Vàng.

Ngài lắc đầu, giọng đanh thép:

- Ta chỉ cần đồng đen thôi.

Khổng Lồ trút hết. Đồng đen trong kho. Túi vẫn còn vơi. Ngài quảy đãy về nước.

Đồng đen trong kho hết nhẵn. Vua bất ngờ. Biết mình ngu ngơ. Trước mưu trí Khổng Lồ. Giận điên cuồng. Ra lệnh tức thì. Năm trăm quân sĩ. Đuổi theo Khổng Lồ. Lấy lại đãy đồng đen.

Quân đuổi gấp gáp. Tiếng hét dậy đất. Bụi bốc mịt mù. Khổng Lồ thả nón tu lờ. Đặt đãy qua sông. Quân lính cố chạy theo, đánh lừa ông:

- Hoàng đế giúp ngài. Hộ tống về nước Nam.

Khổng Lồ thừa hiểu âm mưu, lạnh lùng nói:

- Cảm ơn lòng tốt. Tôi đâu dám phiền.

Khổng Lồ đi dọc biển. Đi về phương Nam. Gặp tàu người Việt. Xin lên đi nhờ. Thủy thủ xúm lại giúp Khổng Lồ. Đãy đồng quá nặng, họ khiêng đãy không nổi.

Khổng Lồ cười:

- Bần tăng tự mang một mình, nhẹ tênh.

Khổng Lồ một tay xách đãy đồng đen thanh thản lên tàu.

Mọi người kinh ngạc. Khối đồng đen lớn quá. Tàu nặng chòng chành.

Khổng Lồ bảo:

- Chớ ngại. Không thể chìm tàu. Anh em yên tâm.

Khổng Lồ lặng thinh, niệm thần chú. Biển lặng. Sóng xanh. Thuận buồm xuôi gió. Tàu trôi băng băng.

Bỗng phong ba nổi dữ dội. Con thuỷ quái ngô công. Dài trăm trượng. Há miệng đỏ lửa. Vẫy vùng giữa sóng. Gầm gào khùng điên. Toan nuốt chửng tàu. Mọi người kinh sợ.

Khổng Lồ trấn an:

- Đừng sợ. Ta diệt quái vật, bằng trí huệ thần thông.

Ông cầm quả bí. Ném vào miệng nó. Cầm gậy đánh nó. Đứt làm ba đoạn. Thành ba hòn đảo. Sóng gió lặng im. Tàu về đất Việt. Mang nhiều đồng đen trở lại quê nhà.

Vua sai đúc bốn bảo khí thờ Phật. Bao nhiêu thợ tài Đúc Tháp Báo Thiên. Cao chín tầng. Tháp nhìn kinh thành. Mênh mông vời vợi. Trông giữ núi sông, cánh đồng, làng xóm.

Tượng Phật sáu trượng. Đỉnh mười người ôm. Đồng đen còn lại. Đúc quả Hồng chung. Chuông ngân bốn cõi. Vang tận Trung Hoa.

Trâu Vàng trong sân kho nước Tàu. Nghe chuông ngân nga. Thức choàng tỉnh dậy. Đồng đen là mẹ của vàng. Do tiếng chuông ngân, Trâu Vàng ở bên Tàu biết mẹ mình đang ở nước Việt. Trâu Vàng xốn xang. Tấc lòng nao nức. Muốn nhào về nhà, hoà tiếng vọng Mẹ yêu!

Trâu Vàng vội vã đứng dậy. Ba chân bốn cẳng. Chạy sang đất Việt. Ngã vào lòng Mẹ. Ôm ấp yêu thương.

Không sức mạnh nào. Cản nổi con mẹ. Tìm về với mẹ.

Trâu Vàng tìm đến. Quả chuông sư đúc. Hôn hít hồi lâu. Nằm xuống bên cạnh.

Việc lạ bất ngờ. Khổng Lồ tự nghĩ. Mỗi lần thỉnh chuông. Tiếng vang thánh thót. Vàng khắp bốn bể. Sẽ qui tụ về. Đất nước Việt ta.

Nhưng ngẫm nghĩ sâu. Đó là điều rất nguy hiểm đến sự an nguy quốc gia. Các nước xung quanh, thấy nước ta thiên nhiên kỳ thú, biển, sông, núi, cánh đồng, giàu tài nguyên, khoáng sản, sẽ gây hiềm khích. Họ xúm nhau vào, bàn mưu gây ra chiến tranh, để ăn chia lợi nhuận, từ xương máu đồng loại. Kẻ bán vũ khí. Kẻ chiếm biển Đông. Kẻ mưu bá chủ hoàn cầu. Dân Việt nát thịt, tan xương.

Khổng Lồ nhìn thấu tâm can những tên sen đầm cường quốc đang nhăm nhe giương mắt cú vọ, đổ lửa vào Đại Việt. Ngài đau đớn tâu vua:

- Bệ hạ ơi! Thôi thôi, ta đừng tham của cải, bạc vàng, hãy ném chuông xuống ao. Tránh cuộc binh đao. Xảy ra sắp tới.

Đức vua anh minh. Biết họ đang ngầm trả đũa. Miệng thì anh em, chung đường, cùng lối, liền núi, liền sông. Bụng thì múa gươm, phun nọc độc, xui dại, xúi càn. Tay thì giương binh đao. Vua bằng lòng nghe Khổng Lồ minh triết, gạt bỏ lòng tham của cải về quốc gia mình, để tránh những cuộc chiến tranh. Vua biết thương dân. Phải biết tìm đường. Tránh chiến tranh. Minh triết tránh chiến tranh cũng đồng nghĩa với giữ nước, giữ nhà, yêu muôn dân đồng loại.

Đựơc lệnh vua ban, Khổng Lồ vác chuông lên đỉnh núi. Ném chuông xuống Hồ Tây. Chuông tung lên. Ngân rung dữ dội. Lặn sâu đáy hồ. Tiếng vọng thiên thu.

Trâu Vàng nghe tiếng chuông ngân nhảy vội theo mẹ xuống hồ. Những đêm thanh vắng. Quai chuông nổi lên. Mặt hồ gợn sóng.

Trâu Vàng đôi lúc lên bờ dạo chơi. Thấy bóng người, lặn về cùng mẹ. Từ đó Hồ Tây có tên “Vực Kim Ngưu”. Hay “Hồ Trâu Vàng”.

Khổng Lồ được suy tôn “Thần nghề đúc đồng”. Dân lập đền thờ tại Thăng Long. Muôn đời thờ Khổng Lồ trong lòng dân Việt. Truyền cháu con nối Đức Trí, nhân tài đất nước, Khổng Lồ cứu dân.

Ngày này qua ngày khác. Đời nọ nối đời kia. Người Việt kể Trâu Vàng Hồ Tây. Nhưng không hề biết đấy là Thông điệp Tổ tông truyền, thả mênh mang sóng nước Hồ Tây. Cha ông minh triết thế. Thương con cháu Việt tộc. Tìm cách truyền thông tin. Sao ta không tìm về?

Hồ Tây! Hồ Tây ơi! Trâu Vàng ôm ấp Mẹ. Trâu Vàng toả hào quang, lấp lánh Trời Đất Việt. Chuông đồng đen đáy hồ, thiết thao lời Mẹ ru.

Người kể chuyện Trâu Vàng Hồ Tây xót xa, ứa lệ. Nghe âm vang mơ màng tiếng ông sẩm hát rằng:

“ Chuyện xưa như có như không/ Của mình tất cả vàng và đồng đen/ Bị nó thu vét mang về/ Nước ta nghèo đói chỉ còn tay không/ Vua dân mưu trí tìm sang/ Lấy đồng về trước vàng theo sau/ Tài cao vượt hiểm thâm sâu/ Vượt bể thắng quỉ ma sợ gì/ Đồng đen nó vứt trong kho/ Không biết đúc đồng bởi nó lậu thô/ Khéo tay nghề đất lề Kẻ Chợ/ Mang đồng về đúc tượng Phật, chuông/ Tượng Phật linh thiêng, chuông ngân nga/ Bàn tay tộc Việt tài hoa/ Làm ra tiền của, sinh thêm bạc vàng/ Nhưng kìa bọn nó ngó ngang/ Thấy mình giàu đẹp ắt là xồ sang/ Cậy to lấy thịt đè người/ Chiến tranh đổ máu dân lành lao lung/ Hiền tài thao thiết thương dân/ Khuyên vua bỏ của mà yêu lấy người/ Lòng đau tím ruột bầm gan/ Chuông ngân thả xuống sóng hồ càng ngân/ Trâu Vàng cùng Mẹ đồng đen/ Thành linh khí phá yểm xưa Cao Biền/ Hồ Tây nghìn năm linh thiêng/ Nhấn chìm cả hội nó vào giao du/ Chuông đồng, Trâu Vàng Hồ Tây/ Bài học máu xương truyền con cháu/ Khôn khéo đạp đầu bọn buôn chiến tranh/ Thừa cơ xâu xé giết người tởm tanh/ Phải yêu nhau gánh vác kết đoàn/ Sản sinh, nuôi dưỡng, hiền nhân Khổng Lồ/ Nước phải có vua tài đức/ Máu đỏ da vàng, vua dân là một/ Làm vua để cứu dân, không phải là cai trị /Trạng chết vua cũng băng hà/ Nông dân mất đất là vua đổ nhào/ Làm vua luyện Đạo tầm cao/ Oai phong trung dũng, lắng nghe anh hào/ Nghe tiếng dân kêu thét oan than/ Tránh mưu độc bọn bán buôn vũ khí/ Bọn tham lam muốn chiếm đất biển ta/ Thì thầm xúi dục kích Đông Tây/ Tránh nó bằng mưu trí kết đoàn/ Người trong một nước bảo ban nhau/ Diệt “giặc nội” cướp đất, phá nhà, hại dân/ Tấc đất, tấc vàng, người cày có ruộng/ Đất trồng lúa, ngô, rau, hoa, quả/ Đời nối đời nuôi con Lạc, cháu Hồng/ Không để đất rơi vào tay tham bẩn/ Tráo trở, xây nhà chứa nhớp nhơ/ Vua quan cũng sống nhờ dân cấy trồng/ Quan nhất thời dân vạn đại/ Quan trước rước quan sau/ Rồi thì tất cả xô nhau về vườn/ Về vườn mất đất, vườn đâu mà về/ Bạc vàng có ăn được không? Mà thi nhau phá đất trồng lúa non/ Con cháu ta sống bằng gì/ Ác tham, Tham ác cũng ra ma/ Tiền vàng ngập ngụa không chôn được mà/ Luật nhân quả treo lơ lửng/ Cán cân tạo hoá thật công bằng/ Không tha bất cứ kẻ nào bất nhân/ Dân nắm tay nhau Trí, Nghĩa, Dũng quật cường/ Lòng son, Đạo lớn, tay vòng chặt tay/ Xin đừng giận uất quá mất khôn/ Chỉ béo bọn khát máu chiến tranh rình/ Nếu mình sơ xảy nó phình ra luôn/ Bình tĩnh tìm phương thoát ra/ Chăm dân giữ nước, tránh binh đao/ Thế mới là vua giỏi tài/ Là yêu dân nước lâu dài vững ngai/ Bởi yêu con cháu mai sau/ Tổ tiên gửi máu vào câu chuyện hồ/ Hồ Tây sâm cầm cùng Khổng Lồ hội tụ/ Vang tiếng Trâu Vàng rung chuông ngân/ Truyền đời con cháu phải lắng nghe/ Không được kẻ nào mưu lợi cá nhân/ Kẻ hại đất nước, giết Nhân Dân/ Đất Trời Người không dung thứ.”



Hồ Tây Mùa Phật Đản 2012
Sen Hồng dâng Phật.

___________________________________________




© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng tải theo nguyên bản của tác giả từ Hà Nội ngày 12.05.2012.
Trích đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com