Nguyệt Hằng Sơn



















Tạ Thánh Mẫu Nguyệt Hằng Sơn







Tôi từ lâu ẩn giữa Nhật Nguyệt Càn Khôn. Tác phẩm của mình lang thang trên Google. Không một dòng địa chỉ. Ai thích thì tự tìm đến.

Người đến giao cảm tâm linh trên sóng mơ hồ. Người gõ cửa phòng văn Mai Thục, tạ ban thờ Tam toà Thánh Mẫu và Thần Trống Đồng.

Giữa tháng 4 - 2012. Cô Nguyễn Thị Thanh Hà “Gái Nội Duệ- Cầu Lim” từ Sài Gòn bay ra Hà Nội tìm tôi. Một cú điện thoại với bạn, Thanh Hà đã có ngay số điện thoại nhà tôi. Hà Nội rất bé. Mọi người đều biết nhau. Ra đường là gặp người quen.

Thanh Hà dốc bầu tâm sự cùng tôi hai giờ liền trên điện thoại. Cô nức nở kể chuyện đời mình. Truân chuyên cay đắng “Nơi thì lừa ðảo, nơi thì xót thương”. Ðể ðến lúc này, nửa ðời xiêu dạt, nếm ðủ chua, chát, ngọt bùi, Thanh Hà trở về quê hương thơ ấu, tìm dấu chân tuổi thơ ngây, lấy lại sự cân bằng tâm thể, ðể tiếp tục ði lên trên con ðường dài khám phá, trải nghiệm và dâng hiến.

Năm 2010. Thanh Hà về Hà Nội cùng Trung ương Hội Nông dân Việt Nam xây dựng và khai trương Điểm Sàn đầu tiên trong dự án “Xây dựng Hệ thống Sàn giao dịch kết nối cung cầu nông nghiệp thực phẩm toàn quốc”. với mục tiêu “Vì một nền nông nghiệp phát triển bền vững”. Bã̀ng cách hỗ trợ nông dân tham gia thị trường, thông qua hệ thống thông tin ðồng bộ, ða chiều, minh bạch; mạng lưới Điểm Sàn kết nối ðến ấp, làng, xã; chuỗi dịch vụ trợ giúp: giao dịch tại chỗ, thương mại điện tử, thu mua, phân phối, kiểm ðịnh chất lượng, hậu cần, kho bãi và cung vận. Dự án ðược ðúc kết, nghiên cứu, thử nghiệm trong suốt quá trình kinh doanh gần chục năm nay và sự kết nối Tinh hoa vãn minh phương Tây. Dự án của Phố Chợ không phải là sự buôn bán lợi nhuận thuần tuý. Nó là giải pháp cụ thể ðể kết nối “4 nhà – Nhà Nông – Nhà Nước – Nhà Khoa Học – Nhà Doanh Nghiệp” . Nên ðòi hỏi các cấp chính quyền vào cuộc, từng người dân vào cuộc. Cùng biến ðổi, cải thiện cuộc sống qua cách sản xuất an toàn, chất lượng và mua bán vãn minh. Nó cần phải trải qua một quá trình tu tập, định hình thói quen của các thành viên tham gia. Cần ý chí mãnh liệt và niềm tin bất diệt của những người khởi sự.

Dự án “Xây dựng Hệ thống Sàn giao dịch kết nối cung cầu nông nghiệp thực phẩm toàn quốc” đến giờ này đã được Hội Nông dân Việt Nam lập Ban chỉ đạo phối hợp triển khai. Bộ Nông nghiệp Phát triển Nông thôn đã chỉ thị cho các Uỷ ban Nhân dân các tỉnh, thành phố cả nước tham gia.

Để có được sự đồng thuận trên, Thanh Hà đã lăn lộn khắp sơn khê, thôn làng, phường phố, gõ hết cửa quan này đến cửa quan khác. Vừa dốc lòng ðầu tư, vừa gia công thực hiện, vừa trình, thuyết, chứng minh. Nước mắt rơi trên từng cây số, gian khổ thay mỗi bước cô đi. Phía trước ðang còn là biển trời công việc, cần sức người, sức của. Cô lo âu, thảng thốt, nóng lòng, mất cân bằng tâm thể. Một nhà nghiên cứu Kinh Dịch tại Hà Nội ðã thông thái dẫn cô tìm lại thế giới tâm hồn trong trẻo, an vui.

Ông gợi cho Thanh Hà nhớ lại tuổi mười ba. Một lần duy nhất cô bé “Nội Duệ- Cầu Lim” được chị dâu họ người làng Dọc (nằm giữa Làng Đình Cả và Núi Chè) rủ hai chị em Hà lên núi cắt cỏ. Ba người vượt qua hai cánh đồng và làng Dọc, bãng qua con mương, lội bờ ruộng nhỏ, men lối lên núi “Nguyệt Hằng- Ðất Tiên Du”, ðôi gò bồng ðảo xanh rờn cây lá, quả hoa, bâng khuâng giữa núi rừng, khe suối. Chị dâu Minh Đoàn mải lo cắt cỏ chẳng để ý hai ðứa em mê man trong màu hoa sim tím, tiếng chim hót ríu ran, hàng cây ru tình mẹ. Hai chị em vui chơi khắp núi rừng và chui vào hang ðá, bước vào những bậc thang đá lên xuống bên trong. Vào đây Thanh Hà có cảm giác mát rượi rất sâu. Lâng lâng ùa tràn như lạc vào ðộng Tiên. Cảm giác đó cứ đọng mãi trong lòng. Cô ðâu ngờ, vượng khí Nguyệt Hằng Sơn thiêng, ðã truyền sinh khí cho cô từ thủơ mười ba ấy.

Ba mươi năm, trải qua những nãm tháng thử thách, xiêu dạt xa nhà. Giờ ðây ký ức tuổi thơ về Nguyệt Hằng Sơn như suối nguồn Tình Mẹ mơn man ru tâm hồn Thanh Hà trong trẻo lại. Cô tìm lại Nguyệt Hằng Sơn quê Mẹ. Những chiều chiều, cánh cò bay rợp trời về tụ trên rừng thông, lim, trám. Những ðêm thanh Trãng treo ðỉnh núi, mơ màng bóng Tiên Du.

Để tìm hiểu sâu thêm, Thanh Hà vào Google gõ: “Nguyệt Hằng Sơn- Tiên Du”. Cô gặp bài viết của Mai Thục đăng trên Newvietart.com (Ngày 9 -12- 2011). Đọc và mê. Thanh Hà muốn bay ra Hà Nội tìm gặp nhà văn Mai Thục.

Trong điện thoại cô hỏi tôi:

- Em muốn gặp chị tìm hiểu tâm trạng của chị khi viết về Nguyệt Hằng Sơn. Chị ðã ðến Nguyệt Hằng Sơn- Ðất Tiên Du quê em chưa?

- Chị chưa được đến Nguyệt Hằng Sơn em ạ. Chị viết Nguyệt Hằng Sơn từ Truyện cổ tích Bà Tồ Cô. Nữ Thần- Thánh Mẫu Việt Nam hoá thân thành Nguyệt Hằng Sơn nõn nường dáng Mẹ. Chị chuyển thể Bà Tồ Cô thành thơ. Từ thơ, chị lại sáng tạo Truyện ngắn Dáng Núi Khoả Thân . Bởi thể loại truyện ngắn cho phép nhà văn hư cấu, làm sáng rõ thông điệp tích xưa, truyền Tinh hoa Tổ Tiên đến con người hiện đại. Tiếng Việt thiên biến vạn hoá. Tiếng Việt vô cùng linh diệu. Ngôn ngữ chị viết ra, đôi khi không phải là của chị. Từ sâu thẳm tâm linh rót về. Từ anh linh Tiên Rồng thổi xuống. Không thể giải thích.

Thanh Hà kể:

- Mùa xuân 2012, khi ông Thầy nghiên cứu Kinh Dịch & Phong thủy gợi cho em nhớ về năm 13 tuổi, em lên ðỉnh núi cách quê em một con đường lớn (quốc lộ 1A), ngồi vào tảng đá phẳng mà dân làng gọi là Bàn Cờ Tiên, uống nước Giếng Tiên và chui vào Hang Ðá về bị sốt nóng lạnh mê man ba ngày, ba đêm. Em sững sờ, ði tìm tất cả thông tin về ngọn núi này linh thiêng này. Núi Nguyệt Hằng quê em. Bài của chị, em ðã ðọc và cảm nhận. Em ðã về lễ tạ thần núi Nguyệt Hằng hai lần rồi. Mỗi lần về em thấy tâm hồn mình thanh thản, niềm vui dâng hiến ngập tràn, em muốn làm việc ích lợi ðồng quê, khơi sức sống cho nền nông nghiệp. Em ðã xếp lại từng chữ trong truyện ngắn của chị thành thơ và thuộc lòng bài thơ ðó. Từng chữ thấm vào hồn em. Hứng khởi niềm hạnh phúc, thôi thúc em làm việc tốt, trợ giúp cho người nông dân phát triển, cho quê hương thêm đẹp, thêm giàu. Ngày thứ ba (17- 4- 2012) em mời chị về tạ Thánh Mẫu Nguyệt Hằng Sơn với em chị nhé.


Ngày đó tôi không bận việc, nên đồng ý cùng Thanh Hà về tạ Thánh Mẫu Nguyệt Hằng Sơn.

Nguyệt Hằng Sơn- Đất Tiên Du. Ngày 17- 4- 2012. Nắng mới chan chứa cánh đồng, dòng sông, ngọn núi vùng non nước Tiên Du. Tiên giáng trần. Tiên du sơn thuỷ. Tiên vui chơi với người hiền. Tiên du Xuân nghe quan họ giao duyên. Tiên múa hát huê tình.

Ô- tô chúng tôi đi qua đường quốc lộ 1A, qua làng Ðình Cả, xã Nội Duệ của Thanh Hà trông sang bên phải, xa xa là Nguyệt Hằng Sơn- Dáng Núi Khoả Thân “Dáng Mẹ mênh mang phù thế nhân”. Rẽ vào bờ kênh, xuyên cánh ðồng xanh thì con gái mượt mà, yểu ðiệu, qua làng Dọc, làng Chè xã Liên Bão chúng tôi tới chân núi.

Ô- tô vòng vèo quanh xóm núi Chè, dưới chân núi những cây chè, cây trám xanh tươi, lác đác vài căn nhà ôm ấp chân Nguyệt Hằng Sơn năm xưa, giờ ðây là những khu biệt thự nãm tầng, vườn xanh cây mít, nhãn, ổi, na, thị, cau, luỹ tre, khóm chè, ruộng lúa, bờ ao. Ðường bê- tông quanh xóm ðủ rộng ô-tô chạy. Chúng tôi tìm ðến Ðền Thượng, lưng chừng núi. Ðó là ngôi miếu cổ lộ thiên, Long chầu, Hổ phục, vừa ðược dân xóm Chè trùng tu năm Ất Dậu.

Chúng tôi nghiêng mình trước Trời cao gió lộng, non xanh, cánh đồng, hồ nước, xóm Chè yên vui, lạy tạ Thiên Địa Nhân hợp nhất.

Lần đầu tiên đến nơi này, tôi ngỡ ngàng xúc động, muốn khám phá những điều bí ẩn. Tôi tìm đọc bia, không có thông tin về ngôi đền lộ thiên hoành tráng, linh thiêng giữa thanh thiên bạch nhật. Tôi bước đi theo tiếng gà kêu, chó sủa mà tìm xuống nhà dân xóm Chè, tìm kiếm bí mật ngôi Đền.

Đền có tên gọi Đền Thượng là nơi thờ Cao Sơn Đại Vương, người có công với nước. Hàng năm vào ngày 11 tháng giêng dân làng tổ chức lễ rước Thần Hoàng từ Ðền Thượng vào đình làng cúng tế. Nhưng người dân nơi đây đều cho rằng Ðền này thờ Bà Chúa Chè.

Tôi tạt vào hỏi thăm đôi vợ chồng ở ngôi nhà ven ngã ba, đang múc nước giếng rửa rau. Anh chồng bảo:

- Núi này là núi Chè. Ngôi đền có từ xa xưa, thờ Bà Chúa Chè Đặng Thị Huệ. Đây là quê hương bà Chúa Chè.

Anh nói được mấy câu và lâm thế bí. May có bà hàng xóm tuổi bảy mươi đạp xe trên đường. Anh gọi bà và giao tôi cho bà giải thích sự tích đền.

Bà xếp xe đạp vào cạnh giếng và bảo:

- Tôi dẫn cô lên nhà ông Thịnh chuyên nghiên cứu lịch sử của huyện, xã này.

Tôi cùng bà vòng lên tầng núi phía trên, vào nhà ông Thịnh. Con chó to xồ ra đầu ngõ, bà gọi ông Thịnh và giao tôi cho ông.

Ông Thịnh mời tôi ngồi cạnh bậc thềm vườn cây nhãn, muỗm, ổi na, hồng… xum xuê, trò chuyện. Ông là tiến sĩ địa chất Đỗ Đức Thịnh, ở quận Thanh Xuân- Hà Nội. Đây là ngôi nhà hương hoả, nghỉ hưu, ông về tĩnh dưỡng, chăm cây vườn, trồng rừng được giao.

Ông say sưa kể liên hồi về bà chúa Chè Đặng Thị Hụê:

- Đây là núi Chè, quê hương bà Chúa Đặng Thị Huệ.
Khi bà được Chúa Trịnh Sâm mê đắm, dân xóm Chè được hưởng lộc của bà, nhận lương của Chúa. Bà chết, lệnh trên không cho thờ cúng. Một thầy địa lý đi qua thấy dân làng hết lộc, nghèo xơ xác, không chịu làm ăn, bèn phán: “Dân vô ơn bạc nghĩa. Khi người ta sống thì hưởng lộc, lúc chết bỏ không tôn thờ”. Dân ngộ ra, bảo nhau xây miếu thờ bà Chúa Chè, nhưng phải ẩn dưới sự tích đền thờ Trời, thờ thần núi, thờ Tiên. Bia cũ của đền Thượng vẫn còn, nhưng có người đã vác về phần mộ nhà mình. Tôi không tiện nói ra.

Tôi hơi thất vọng, khi nghe ông Thịnh mải mê nói về việc tôn thờ Tuyên phi Đặng Thị Huệ. Có lẽ Thanh Hà nhầm. Đây không phải núi Nguyệt Hằng- Đất Tiên Du.

Tôi ngắt lời ông Thịnh:

- Thế núi Nguyệt Hằng- Đất Tiên Du ở đâu, anh có biết không, chỉ cho tôi với.

- Đây chính là núi Nguyệt Hằng- Đất Tiên Du Quan họ. Địa chất học xác lập núi Nguyệt Hằng thuộc thời Trung sinh cách đây 235 đến 40 triệu năm.

- Núi Nguyệt Hằng là Trăng trên đỉnh núi. Tên núi Nguyệt Hằng đã đi vào cổ tích. Tại sao dân xóm núi Nguyệt Hằng cứ gọi đây là núi Chè?

- Thời vua Lê- Chúa Trịnh, dân vùng này tranh chấp núi. Bà Huệ cậy mình được Chúa yêu, đã cùng Chúa Trịnh Sâm cho phép dân phía Nam và phía Bắc chia nhau núi. Họ xẻ đôi thân núi theo chiều dọc. Nửa núi phía Bắc gọi là xóm Hoàn Sơn. Nửa núi phía Nam gọi là xóm Chè, núi Chè vì dân trồng chè trên núi.

Tôi đã khám phá ra điều bí ẩn khoảng năm trăm năm trước. Và tôi hiểu vì sao người dân Đất Tiên Du đã đánh mất tên núi Nguyệt Hằng thiêng liêng. Thân Mẹ hoá Dáng Núi Khoả Thân đã bị xé làm đôi. Ngực Mẹ nâng hai bầu vú, đã bị xé mỗi bên một bầu.

Tôi nói với ông Thịnh:

- Bà Đặng Thị Huệ thiếu tri thức phong thuỷ, không tôn thờ thiên nhiên và không biết gắn kết tình dân nên đã đồng loã với âm mưu chia sẻ núi, xé hình tượng dáng Mẹ khoả thân thiêng liêng làm đôi, xé lòng người tan tác muôn mảnh, nên dẫn đến thảm kịch cuộc đời bà.

- Dân hai xóm Hoàn Sơn và Xóm Chè sau khi chia núi có tục lệ cầu mưa vào mùa Xuân. Lễ cầu mưa, dân hai làng lên đỉnh núi, nơi được hình dung là cổ và ngực gắn hai bầu vú của Dáng Núi Khoả Thân , dân Xóm Chè đánh trống, dân Hoàn Sơn đánh chiêng. Tiếng chiêng và trống hoà làm một, cầu mưa tưới đồng làng tươi tốt. Coi như dân làng vẫn phải đoàn tụ, quên cái chuyện chia sẻ núi xót xa. Bây giờ lễ cầu mưa đã mất.

Tôi cảm ơn ông Thịnh đã dẫn dắt tôi về câu chuyện dân gian còn in dấu lễ tục xóm làng, để cùng tôi trả lại tên Núi Nguyệt Hằng- Đất Tiên Du , dáng Mẹ linh thiêng trong cổ tích.

Lòng thanh thản dịu êm, tôi trở lại ngôi miếu lộ thiên Đền Thượng cùng các bạn dâng lễ thắp nén tâm nhang Tạ Thánh Mẫu Nguyệt Hằng Sơn.

Nguyễn Thị Thanh Hà đọc bài thơ em xếp lại từ Truyện ngắn Dáng Núi Khoả Thân trước khói nhang linh chứng:

NGUYỆT HẰNG SƠN - ĐẤT MẸ TIÊN DU

Dáng núi thanh thanh. Khuôn trăng đẹp.
Mượt mà màn mây mái tóc buông.
Đôi bầu vú sữa muôn dòng tuôn.
Đêm ru bóng nguyệt hoa huyền hoặc.
Thân ngọc ngàn vàng thả nụ xuân.
Gió ngàn xao động tiếng tình nhân.
Trăng gió đắm rung khoe nhuỵ thắm.
Thiên Thai gối trải mây nhung đệm.
Ngọc thốt hoa cười cây lá che.
Chim thú ca vang, nhạc dập dìu.
Trăng vàng nhuộm đầy trời ân ái.
Én múa cành thơm lướt chao.
Ong bướm bay rập rờn.
Hương nồng nàn lả lơi.
Hạnh phúc đến bất ngờ.
Tình yêu dìu lời ca vút xanh.
Hoan ca mùa theo mùa chuyển rung.
Muôn vật cựa mình sinh nở.
Mẹ gieo mầm sống.
Tạc vào dáng núi khoả thân.

Đạo Mẫu Việt tộc là dáng núi thiêng hình Mẹ.
Mãi nõn nà đẹp xinh.
Đẫm phong tình chồng vợ.
Nồng nàn lửa yêu thương.
Linh khí Âm- Dương hợp.
Đất và người tốt tươi.

Đáng buồn thay! đời sau.
Vô minh không hề biết.
Núi hoá thân hình Mẹ.
Tấm thân chuyển hoá thành phong thuỷ.
Mênh mang phù thế nhân.

Đáng thương thay! lửa giận bốc.
Đốt cháy hết rừng xanh.
Còn đâu dáng Mẹ yêu kiều.
Dưỡng sinh khí nước non.

Đã đến lúc Tam toà Thánh Mẫu,
thương đàn con láu nháu, phải giáng lâm.
Bỏ gác tía xuống chốn bụi hồng.
Dạy chữ “Đạo”.
Để dựng cột cương thường cho đứng lại:
Bởi Mẹ Đất thương thay!
Muôn thần ái ngại!
Xót thương giống da vàng chung hòn máu đỏ.
Lúc xây nên non nước.
Tốn nhường bao công đức Tổ Tông.
Đạo chân tông xưa đã thất truyền.
Không keo sơn kết nối sợi tơ mành.
Sáu chỉ phép thần thông chẳng nổi.
Tác đánh tộ. Những câu giả dối.
Giấc đại mộng man muội rủ trẻ xuống sông mê.
Người khôn không biết chốn nương thân.
Thánh Mẫu dạy cùng nhau sám hối:

“Trần gian nhẫn nhục bấy lâu
Núi cao chất tội, sông sâu chứa nhầm
Biết luật Dương, luật Âm chưa rõ
Xin cùng nhau giải toả ngu si
Khêu mối tinh thần
Giữ sinh khí muôn loài
Giữ Đạo Trời nghĩa Đất
Lòng người lấy Thiện nhân làm lõi
Thua keo này bày keo khác
Lọc dần ngọc đá để riêng ra
Ai người chứng Đạo chân tu
Dạy Thiện Nhân biết đường Chính Đạo
Quyết ra tay buồm lái vững vàng
Dẫu gặp cơn phong vũ bất kỳ
Phải dốc bụng đá vàng cứng cỏi
Cầu Mẫu, Phật, Thánh, Tiên, Thần,
Ức triệu sinh linh đều thoả nguyện
Nghìn năm đất nước vẫn yên ngôi
Mây lành sao phúc soi năm cõi.”


(Mai Thục)

Chúng tôi Tạ ơn Thánh Mẫu Nguyệt Hằng Sơn linh diệu đã dẫn dắt cháu con tìm lại Tinh Hoa Đạo Mẫu Việt Nam.

Nguyệt Hằng Sơn- Đất Mẹ Tiên Du thiêng liêng. Nguyệt Hằng Sơn, dáng núi Mẹ Hiền Việt Nam “Mênh mang phù thế nhân”.



Hồ Gươm Mùa Hoa Loa Kèn 2012.
___________________________________________




© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng tải theo nguyên bản của tác giả từ Hà Nội ngày 02.05.2012.
Trích đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com