KẾT


Chiếc cúp 81 của Đại đang đi thì lịm máy, Đại dắt xe vào chỗ bóng cây ven đường, nơi có một bà lão quần áo rách rưới, tay ôm một chiếc cặp học sinh. Đại mở bình xăng, thấy xăng vẫn còn, anh lấy đồ ra kiểm tra hệ thống điện nhưng tai Đại không bỏ qua những lời lẩm bẩm của bà lão: " Oan cho nó quá! Oan cho nó quá! Oan cho nó quá!". Đại thấy lạ, dừng tay quan sát bà lão. Khuôn mặt lão khắc khổ, đôi mắt đờ đẫn ẩn chứa một điều gì đó oan ức. Một bà lão tâm thần, nhưng sao lại luôn miệng: "Oan cho nó quá!" mà không phải là một câu gì khác? Phải chăng bà hoặc gia đình bà có điều gì đó oan ức và chính nỗi oan này đã làm bà bị tâm thần? Đại đi đến cạnh bà lão:

    - Chào cụ, cụ đi đâu mà ngồi đây?

    Bà lão nhìn Đại dò xét. Im lặng. Đại bắt chuyện mãi bà vẫn không nói gì. Có lẽ bà sợ mình lừa đảo chăng? ý nghĩ này đưa Đại đến một sai lầm, anh giới thiệu mình là công an, nếu có điều gì oan trái bà hãy tâm sự để Đại giúp đỡ. "Công an", bà lão bật dậy, ôm chiếc cặp chạy, thỉnh thoảng lại ngoái đầu lại nhìn xem Đại có đuổi theo không? Thế là đã rỏ, một ai đó trong nghành công an đã gieo vào lòng bà nỗi sự sợ hãi. Đại sửa xong xe phóng đuổi theo, bà lão quặt vào con đường làng, Đại cho xe chạy theo bà cách 200m, lúc sau thấy bà rẽ vào ngôi nhà đang xây dở, cạnh đó là một cái bếp lụp xụp lợp rạ. Đại quay xe ra tạt vào một hàng nước ven đường.

    - Chào bác, bác cho tôi xin chén nước?

    - Anh dùng nước chanh, bột sắn hay chè xanh?- Bà chủ quán hỏi lại.

    - Dạ! Một cốc nước chanh đá bác ạ!

    Bà chủ quán hỏi Đại ở đâu đến, có việc gì? Đại nói đi qua đây chứ không có việc gì. Đại khuấy đá, uống một ngụm, khà một tiếng vẻ

    khoan khoái.

    - Này bác, lúc nãy tôi có nhìn thấy một bà ăn mày rách rưới tay ôm chiếc cặp học sinh, bà ấy là ai vậy?

    Bà chủ quán nghe Đại hỏi liền đáp:

    - à, bà Huyên, tội nghiệp bà ấy, chồng chết, con gái lấy chồng xa có mỗi đứa con trai thì bị tù tội. Đau buồn quá thành ra lẩn thẩn. Thỉnh thoảng qua đây, tôi vẫn cho bà ấy mấy ngàn đấy.

    - Thế nhưng lúc nào bà ấy cũng lẩm bẩm : "Oan cho nó quá" là làm sao?

    - Nó ăn cắp, công an xã bắt được cho đi tù, bà ấy bảo công an bắt oan nên làm đơn kêu oan trên huyện, trên tỉnh. Kêu không được thành ra uất ức nên bị lẩn thẩn.

    - Thế liệu con bà ấy có bị oan thật không?

    - Oan cái gì, trước đây nó đã từng trộm cắp. Vả lại không trộm cắp thì lấy tiền đâu ra xây nhà. Đấy cái nhà đang xây thì bị bắt nên trống trơ ra đó.

    Đại trả tiền nước, lại phóng xe vào sâu trong làng, tới quán bán nước nào anh cũng ghé, kêu nước uống, dò la về bà Huyên. Hầu như tất cả mọi người đều có ác cảm với thằng Thanh con bà Huyên vì nó hay gây gổ, đánh nhau. Và cũng đã có lần nó chặn đường lấy của một người đồng nát hai cái xoong bán đi để lấy tiền đánh bạc. Vì vậy vụ nhà ông Bình - Chú ruột của trưởng công an xã bị mất mười lăm triệu đồng tiền mặt và một bát hương cổ đúng vào thời điểm nhà bà Huyên nghèo nhất nhì làng xây nhà thì công an ra lệnh bắt khẩn cấp Thanh. Lúc đầu Thanh từ chối, nói số tiền hai mươi triệu dùng xây nhà là do nhặt được nhưng sau khi bị đánh đau quá đã khai đó là số tiền lấy cắp của nhà ông Bình, cộng với năm triệu đồng bán bát hương cổ cho một người khách ở vườn hoa thị xã. Phải chăng Thanh bị bức cung, bị đánh đau nên buộc phải nhận tội? Và nỗi oan này đã làm cho mẹ Thanh uất ức sinh ra lẩn thẩn? Vụ việc không xẩy ra ở xã mình nhưng Đại không cho phép lương tâm mình thờ ơ trước nỗi oan và khổ đau của bà Huyên. Muốn điều tra chính xác được vụ án, Đại thấy cần thâm nhập vào thực tế...

    Cách một hai ngày, người dân Vĩnh Bảo lại thấy một anh đồng nát đến đổi xoong, ấm mới lấy cũ hoặc mua đứt, bán đoạn. Một buổi trưa, anh đồng nát đạp xe vào nhà của trưởng công an xã Lộc rao đổi. Lúc ấy Lộc đang ngồi xỉa răng, thấy tiếng rao, Lộc ra cửa bảo:

    - Ê đồng nát! Đổi cho cái xoong.

    Anh đồng nát dựng xe vào tường hỏi:

    - Dạ! Anh đổi xong loại nào ạ?

    - Nhơ nhỡ.

    Anh đồng nát lại sọt lấy ra một chiếc xoong đưa cho chủ nhà. Lộc ngắm nghía, lấy ngón tay gõ vào đít xoong:

    - Hừ của nợ này mỏng lắm, đun vài bữa khéo thủng đít như chơi.

    Anh đồng nát cầm chiếc xoong lẳng ra giữa sân. Chiếc xoong xoay tít trên không trung rơi xuống đất tiếp tục xoay. Đi lại nhặt chiếc xoong lên, anh đồng nát lật đáy xoong cho Lộc xem:

    - Anh thấy chưa, nếu không phải nhôm nguyên chất thì đi tong rồi.

    - Thôi được! - Lộc đi vào lấy ra một chiếc xoong nhôm cũ, hỏi anh đồng nát phải các bao nhiêu nữa. Anh đồng nát cầm cân, cân chiếc xong cũ:

    - Cái này cân ba, nhôm 7.000 đồng một cân, vị chi là chín ngàn mốt gọi chín ngàn. Cái xoong kia giá 22.000đ. Như vậy anh phảo trả thêm tôi 13.000đ nữa.

    - Đếch gì mà ông bán đắt vậy? Thêm 5.000 nữa thôi.

    - ấy chết, anh trả thế thì vợ con tôi chết đói mất. Thôi bớt cho anh chỗ lẻ.

    - Nói một câu cuối cùng, thêm sáu ngàn nữa. - Lộc móc túi lấy ra sáu đồng đưa cho anh đồng nát, anh từ chối, Lộc quát:

    - Mày nên biết tao là thổ công ở đây, hơn nữa là trưởng công an xã, lẽ ra mày đến đây buôn bán phải trình báo tao!

    - Nhưng tôi đâu có ngủ qua đêm đâu?

    - à, mày lý sự à?- Lộc túm cổ anh đồng nát - Mày muốn tao tống giam không?

    - Tôi làm gì có tội mà anh bắt tôi?- Anh đồng nắt có vẻ cứng đầu.

    - Tội hỗn láo với công an- Lộc cầm chiếc xoong mới lên đập mạnh vào tường, chiếc xong bẹp dúm.

    - Cút! Lộc quát rồi bỏ vào nhà, anh đồng nát nhặt chiếc xoong bẹp cho vào sọt, đạp xe đi.

    - "Ai xoong nhôm đồng, ấm cũ đem đổi cái mới đi!"

    - "Bà về bảo bà bảo với ông, có hàng đồng nát Hà Đông mới về! Ai xoong nhôm, mâm đồng, ấm cũ đổi mới đi!"

    - "Cô kia chồng bỏ, chồng chê, đổi nồi đồng mới mai về lại yêu đi!"

    Anh đồng nát gân cổ rao mấy tràng liền. Không thấy ai gọi đổi, anh đạp thẳng vào nhà bà Huyên. Bà Huyên đang nằm trên chiếc giường một, thấy có người, bà ngồi dậy.

    - Con chào bác, bác có xoong, ấm, mâm cũ đổi cái mới không?

    Bà Huyên khe khẽ lắc đầu. Anh đồng nát lại hỏi xin nước uống, bà lại lắc đầu.

    - Bác ốm à? - Anh đồng nát đi vào ngồi cạnh bà Huyên, bà thở dài, đôi mắt ngân ngấn nước. Anh đồng nất móc túi lấy ra tờ mười ngàn, đặt vào tay bà Huyên:

    - Con biếu bác mua thuốc uống cho chóng khỏi bệnh.

    Bà Huyên mở to mắt nhìn anh đồng nát. Từ đôi mắt bà, hai giọt nước từ từ lăn ra. Anh đồng nát hỏi bà

    - Thế con cái bác đi đâu hết để bác ốm đau một mình thế này?

    Bà Huyên lắc đầu, miệng lẩm bẩm: " Oan cho nó quá!", bà với tay lấy chiếc cặp học sinh lôi ra mấy tờ giấy đưa cho anh đồng nát. Đó là những lá đơn mà bà Huyên nhờ một người nào đó viết hộ, chúng nhàu nhĩ chứng tỏ nó đã ra đời từ lâu. Anh đồng nát cầm một tờ, vuốt vuốt cho thẳng lại, liếc đọc. Đơn gởi cho những người lãnh đạo ở Tỉnh uỷ, uỷ ban nhân dân tỉnh, toà án, viện kiểm sát tỉnh. Nội dung đơn kêu con bà bị tù oan vì bị vu cáo ăn cắp mười lăm triệu và bát hương cổ của nhà ông Bình. Số tiền xây nhà và bốn triệu trong nhà mà công an xã khám được là do nhặt được. Đọc xong, anh đồng nát trả lại cho bà Huyên. Bỗng bà Huyên hỏi:

    - Ông có quen ông Bí thư Tỉnh không?

    - Dạ, không!

    - Phải gởi tới tay ông ấy may mà nó được minh oan.

    Đã rõ, bà Huyên chưa đến nỗi điên hẳn, nếu con bà được minh oan và ra tù, chắc căn bệnh của bà cũng khỏi.

    Anh đồng nát gật đầu chào bà Huyên ra đi. Bẵng đi một tuần sau mới thấy anh trở lại. Lần này, người ta thấy anh tạt vào nhà anh Thúc ở cạnh nhà ông Bình. Anh đồng nát hỏi anh Thúc có đổi gì không, anh Thúc bảo không. Anh đồng nát nhìn thấy chiếc xe máy 82 của anh Thúc, suýt soa khen:

    - Cái xe của anh đẹp quá, anh mua lâu chưa?

    - Ba tháng, đi sướng lắm, xe Nhật xịn có khác.

    - Anh mua hết bao nhiêu?

    - Mười chín triệu.

    - Ông anh giàu ghớm nhỉ?

    - Đâu có, bà cô tôi ở Hải phòng cho vay, cộng với bán con lợn con gà đi.

    Thấy anh đồng nát có vẻ vui tính, lại nức nở khen chiếc xe của mình, Thúc mời anh vào nhà uống nước. Anh Thúc hỏi nghề đồng nát này có kiếm chác khá không? Anh đồng nát đáp chán lắm, nhiều ngày trời nắng như đổ lửa, đạp rạc cả cẳng mà chỉ đổi được hai cái xoong, tính ra chỉ lãi được ba bốn ngàn nhưng thỉnh thoảng cũng vớ được món bở. Nghe đến đây anh Thúc tò mò:

    - Món gì vậy?

    - Bí mật nhà nghề ông anh ạ! - Anh đồng nát ra vẻ bí mật, lại còn xì xầm, có tay đồng nát ở làng anh cũng vì vớ được món bở mà xây được cả nhà mái bằng! Khơi gợi kiểu này thì bố ai mà chịu được, anh Thúc liên tục giục anh đồng nát vén bức màn bí mật cái nghiệp đồng nát cho nghe. Sau một hồi ra chiều suy nghĩ, anh đồng nát mới trả lời:

    - Nhưng ông anh đừng nói cho ai biết nhé?

    - Chú mày yên chí đi, anh đây đâu có ngồi lê thóc mách như đàn bà.

    - Thế này- Anh đồng nát tỏ ra tin tưởng - Thỉnh thoảng cũng mua được một số đồ cổ bàn cho bọn Tây. Bọn này mê đồ cổ nên trả giá cao lắm.

    Đôi mắt anh Thúc hấp háy:

    - Chúng mê những loại đồ gì?

    - Bình cổ, đĩa bát, nhất là đồ thờ cúng như lư hương, bát hương.

    - Thế đem bán trực tiếp cho Tây hay phải qua trung gian? - Anh Thúc hỏi. Anh đồng nát bảo phải bán qua mấy tay chuyên mua đồ cổ ở thị xã, bọn này mang lên Hà Nội bán.

    Câu chuyện dừng ở đây. Anh đồng nát dắt xe ra, anh Thúc dặn nếu còn đổi ở làng, khi nào khát nước cứ vào nhà anh.Từ lúc anh đồng nát rời nhà, anh Thúc bần thần cả mặt. Nhiều lúc vào trong buồng lục lọi cái gì đó, quay ra đi loanh quanh hết ở sân lại vào nhà ngồi. Một ngày, hai ngày, mãi tới ngày thứ tư, anh Thúc đang cho lợn ăn sáng mới thấy tiếng rao của anh đồng nát: " Bà về bà bảo với ông, có hàng đồng nát Hà Đông mới về...". Anh Thúc bỏ chậu cám chạy ra ngõ gọi:

    - Đồng nát!

    Anh đồng nát quay xe lại, chào hỏi anh Thúc, anh Thúc bê chậu cám cho lợn ăn, rửa tay, mời anh đồng nát vào nhà uống nước.

    - Chị nhà đi chợ hay làm đồng hay sao mà không thấy có nhà ông anh?

    - à, bà ấy đi thăm người ốm.

    Chuyện trò mươi phút, anh Thúc hỏi tên anh đồng nát, mới hay anh có cái tên nghe cũng rất "đồng nát": Cối. Thấy Cối nông dân thật thà, anh Thúc nhờ bán giúp cho anh một món đồ cổ mà ông nội để lại. Anh đồng nát Cối đồng ý, nói sẽ đưa người mua về tận nhà để cố vấn về giá cả, dẫu sao anh cũng có chút kinh nghiệm về đồ cổ. Anh thúc đi ra khép bớt cửa lại rồi mới vào trong buồng mang đồ cổ được gói ghém cẩn thận trong mấy lần quần áo cũ cho anh Cối xem. Đó là một bát hương rất đẹp của Tàu được sản xuất ở cuối thế kỷ 18. Anh Cối bảo đây là một bát hương rất quý, bán được giá. Anh Thúc hỏi cỡ bao nhiêu, anh Cối ước chừng chín triệu. Anh Thúc có vẻ hớn hở, bảo với anh Cối phải tuyệt đối giữ bí mật cho, sau khi bán xong sẽ biếu anh hai trăm ngàn.

    Buổi chiều có hai người đàn ông đi xe máy chở anh Cối đến nhà anh Thúc. Sau khi xem xét, ngả giá, họ đã trả anh Thúc bảy triệu rưỡi. Người đàn ông gầy cầm bát hương xoay đi xoay lại xem xét có vẻ nghi đồ giả. Anh Thúc bảo:

    - Không có chuyện đó đâu.

    - Hai bác yên tâm, đây là bát hương thờ cụ tổ mấy đời của anh Thúc, hàng xịn 100% đấy- Anh Cối chen vào.

    Người đàn ông thứ hai cầm bát hương lên xem, đồng tình với nhận xét của người kia. Hai người mua hàng có vẻ ngãng ra, anh Cối đem danh dự ra bảo lãnh! Người đàn ông gầy gầy bảo tất cả mọi người đem bát hương đến nhà ông phó giám đốc bảo tàng Tỉnh - một người thân quen mà anh thường nhờ thẩm định đồ cổ hộ. Sau ít phút lưỡng lự, anh Thúc đồng ý. Bốn người mang theo chiếc bát hương phóng xe về phía thị xã. Tới thị xã hai người đàn ông mua đồ cổ cho xe chạy thẳng vào công an tỉnh. Mặt Thúc tái đi.

    Tại phòng điều tra, người đàn ông gầy gầy - đại úy Tịch, thẩm vấn Thúc:

    - Anh đã lợi dụng gần nhà, biết được lúc ông Bình đi vắng, phá khóa vào lấy mười lăm triệu và chiếc bát hương này đúng không? Anh phải khai thật thành khẩn vào.

    Thúc ấp úng:

    - Dạ quả đây là bát hương thờ cụ tổ mấy đời nhà em. Còn bát hương nhà ông Bình bị thằng Thanh lấy cắp, nó đã nhận và bị đi tù rồi ạ!

    - Anh vẫn cố tình không nhận, tội của anh sẽ nặng thêm đấy. Thế anh lấy tiền đâu ra để mua xe máy?

    - Dạ, em vay người cô ở Hải Phòng mười lăm triệu, còn bốn triệu là tiền bán lợn, bán thóc.

    - Có đúng là bà cô cho anh vay không?

    - Dạ đúng, gởi qua bưu điện, khi lĩnh tiền, em không có chứng minh thư nên phải qua xã xác nhận.

    - Anh nghe đây, chúng tôi đã cho người xác minh, người gởi tiền cho anh cũng chính là anh, anh đã ra Hải Phòng, tới bưu điện gửi tiền về cho anh. Mặc dù anh cố tình viết cho khác nét chữ đi nhưng anh qua mắt được nhân viên bưu điện mà không qua mắt được chúng tôi đâu. Sao, bây giờ thì anh thành khẩn khai báo chứ?

    Thúc khóc nức lên, tay run rẩy cầm bút bắt đầu khai báo.

    Tại phòng Giám đốc, ông Giang đang thân mật nói chuyện với anh " đồng nát- Đại", ông cho Đại hay bên cảnh sát giao thông đã tìm ra chủ nhân đánh rơi chiếc túi có mười lăm triệu và giấy tờ xe mang tên Nguyễn Quang Tài mà Thanh tình cờ nhặt được. Giấy đăng ký xe máy Thanh đã vứt xuống sông, may mà tên chủ xe Thanh còn nhớ nên việc điều tra không gặp mấy khó khăn.

    Đại úy Tịnh bước vào thông báo cho ông Giang biết, Thúc đã chịu nhận tội. Ông Giang bắt tay Đại:

    - Cậu phá án giỏi lắm, nhưng " phá án" tâm hồn còn kém. Cô Hiền đã khá nhiều, sắp tới tớ đưa cô ấy lên đây làm ở phòng văn thư. Công việc sẽ làm cho Hiền mau lành bệnh hơn. Chuẩn bị tinh thần cưới vợ đi thì vừa.

    - Anh Đại vẫn chưa lập gia đình? - Đại úy Tịnh ngạc nhiên.

    Đại mỉm cười. Ông Giang:

    - Kén vợ trẻ, đẹp, ngoan hiền thì tốn nhiều thời gian cũng phải thôi. Chứ ai như cậu , đang ở lính, bố mẹ gọi về cưới vợ là cưới ngay!

    Tiếng cười vang lên đầy phòng.

    Đại hạnh phúc đến phát điên lên khi mà anh hôn lên môi Hiền. Hiền chỉ sợ hãi mà không có phản ứng quyết liệt. Lúc ấy là buổi chiều, chỉ có một mình Hiền ở nhà và đứa bé. Đại đến, Hiền tỏ ra lúng túng, ngượng ngập. Cô đã biết chào Đại, tuy lời chào còn lí nhí. Đại bắt chuyện, Hiền chỉ trả lời mà không hỏi lại. Đại không thể ngờ được đứa bé lại làm cho Hiền nhanh chóng bớt đi bệnh tâm thần đến vậy. Trẻ con đúng là thiên thần, mà quả thật đứa trẻ vô cùng đáng yêu, nó mũm mĩm, hồng hào, lúc ngủ thì không sao nhưng lúc dậy lại toét miệng ra cười. Hiền tập cho nó bước đi, tập cả cho nó gọi ông, bà, bố, mẹ. Mỗi khi nó bập bẹ " Cô Hiềng" là Hiền sung sướng hôn tới tấp vào mặt nó. Đại cảm phục ông Giang, nhờ có ông mà Hiền được như hôm nay. Dự định của ông Giang là đưa Hiền lên làm văn thư ở Công an tỉnh Đại thấy cũng hợp lý. Hiền không nuôi mãi đứa bé được, bố mẹ nó cũng không thể xa nó quá lâu. Còn trở lại trường để dạy, e Hiên vẫn còn bị ám ảnh, mặc cảm. Theo gợi ý của ông Giang, sắp tới Đại nên theo học lớp đại học luật tại chức mở tại tỉnh để sau này ông rút Đại về công an tỉnh, hợp lý hóa việc gia đình giữa Đại và Hiền. Thực lòng Đại không muốn đi nhưng vì Hiền, Đại sẽ làm tất cả. Lần này chỉ cần Hiền đồng ý cưới, mặc cho bệnh vẫn còn, Đại áp dụng ngay lời các cụ vẫn dạy: "cưới vợ phải cưới liền tay". Bài học đau lòng vừa qua không cho phép Đại bỏ lỡ vận hội nữa.

    Sau cái hôn bất ngờ của Đại, Hiền sợ lẩn vào trong buồng, Đại theo vào, chợt Đại nghĩ đến giấc mơ ven sông, văng vẳng lời Hường " Lấy độc trị độc". Đại đã nghĩ kỹ, cho dù đó có phải là lời mách bảo linh thiêng của Hường, Đại cũng không thể dùng sức mạnh để chiếm đoạt Hiền, để chứng minh cho Hiền biết cô vẫn còn trong trắng. Làm thế Đại thấy nó vũ phu, đê tiện quá! Hơn nữa chính thằng Mạo giở trò hãm hiếp nên mới làm cho Hiền trở nên tâm thần. Lẽ nào Đại lại đi theo dấu vết của thằng Mạo!

    Đại đi ra nhà ngoài, đứng ngắm nhìn đứa bé một lúc, bước ra ngoài. Thời tiết hôm nay hình như bất thường nên làm cho cái chân bị thương của Đại cứ nhoi nhói đau. Đại tạt qua ban công an xã nhắc nhở mấy việc cho người trực ban rồi về nhà. Thằng Đồng vừa nhìn thấy Đại, chạy tót ra khoe:

    - Bố ơi! Có ai đến thăm bố, mua nhiều cá lắm!

    - Thế à?

    Đại đi vào nhà, nhác thấy người đàn bà ngồi bên cạnh một thanh niên, Đại nhận ra ngay là mẹ con bà Huyên. Sau khi Thúc nhận tội, phiên tòa chưa mở nhưng Thanh được ra tù ngay. Có lẽ bà đã đỡ bệnh sau khi con trai được minh oan và hôm nay dẫn nó đến nhà Đại để tạ ơn. Hôm Đại và một cảnh sát điều tra đến nơi Thanh đang bị cải tạo, nói chuyện với Thanh vài câu đầu, Đại cảm thấy rất khó chịu trước thái độ bất cần đời của cậu ta. Sự mềm mỏng, ân cần của Đại và người cảnh sát làm cho Thanh không những xóa bỏ được mặc cảm mà còn thành khẩn đến độ khai với Đại và người cảnh sát rằng nỗi oan này sau khi mãn hạn tù, Thanh sẽ giết Lộc rồi bỏ trốn! Đại tin điều này xảy ra nếu Thanh không được minh oan.

    - Chào bác Huyên, bác khỏe rồi chứ?- Đại vui vẻ chào.

    Bà Huyên nắm lấy tay Thanh kéo xuống. Đại quá bất ngờ trước hành động của hai mẹ con bà Huyên, họ quỳ xuống chân Đại. Bà Huyên khóc rống lên, những giọt nước mắt tủi hờn xen lẫn hạnh phúc. Đại đỡ hai người ngồi dậy, bà Huyên chắp tay lạy Đại:

    - Tôi lạy ông đồng nát, nhờ ông mà con tôi được minh oan. Tôi lạy ông, tôi lạy ông.

    - Bác đừng làm thế, ai biết họ lại cười cho.

    Bà Huyên đứng dậy, đưa tay áo quệt nước mắt. Đại hỏi Thanh:

    - Từ hôm ra tù đến giờ, cháu làm gì?

    - Cháu mới chỉ làm được ít cỏ vườn, trồng thêm chuối, chữa lại cái bếp.

    - Cháu có chịu được vất vả không?

    - Dạ, được các chú minh oan thế này, cháu thật không biết lấy gì đền đáp. Việc gì cháu cũng làm được, miễn là có tiền nuôi mẹ, xây được cái nhà chắc chắn.

    - Được, chú xin cho cháu chân phụ hồ chỗ một người quen làm nghề xây dựng. Hai ngày nữa đi làm nhé!

    - Dạ, cảm ơn chú!

    Bà Huyên lôi ở trong cái bị ra một bọc cam. Chắc là bà vay tiền ai đó để mua, từ chối sẽ làm bà buồn, Đại đành nhận với lời dặn dò khi nào đến nhà chơi nhớ đừng có mua gì. Bà Huyên vẫn chưa thật sự trở lại bình thường, trong lúc nói chuyện bà vẫn hay lẫn lộn và rất hay quên. Tuổi bà đã cao, đầu óc vốn chẳng còn minh mẫn, lại bị cú sốc vừa qua, khó mà khỏi hẳn. Dẫu sao từ nay bà không còn phải đi lang thang với câu cửa miệng : " Oan cho nó quá!" cũng là một hạnh phúc to lớn. Đại dặn dò Thanh khi ra tòa cứ khai đúng những gì đã khai ở Công an tỉnh. Số tiền mà Thanh lỡ mua vật liệu xây dựng, chủ nhân cho luôn. Thanh vâng vâng, dạ dạ một cách lễ phép. Khó có thể tưởng tượng nổi, một thanh niên vốn lầm lì, hận đời, đầu óc lúc nào cũng nghĩ đến việc giết người trả thù như Thanh bây giờ lại trở nên hiền lành đến thế. Đại nghiệm thấy trong việc giáo dục người xấu trở thành người tốt, phải lấy cái tâm ra mà thực thi, thì hiệu quả mới nhanh, mới cao. Còn như chỉ dùng bạo lực, trấn áp, thì cái ác, cái xấu nhiều khi không bị tiêu diệt mà lại có nguy cơ tích tụ, chờ thời cơ tàn phá mạnh hơn. Bạo lực chỉ giải quyết được phần ngọn của cái xấu, cái ác. Còn cái tâm, giải quyết được tận gốc cái xấu, cái ác.

    - Anh Đại ơi! Anh Đại ơi! - ở ngoài ngõ có tiếng gọi dồn dập. Đại chạy ra, Tiền ở ban công an xã cho hay tại nhà ông Củng ở xóm 8 đang diễn ra cảnh ông Củng đang gọt đầu con gái. Đại dặn thằng Đồng nấu cơm mời khách rồi lấy xe máy phóng đến nhà ông Củng. Dựng xe ở ngoài sân, Đại lao vào trong nhà, bà Củng và hai đứa con đang sợ hãi khóc lóc van xin ông Củng dừng tay. Một cảnh man rợ, ông Củng đang lấy bàn dao cạo râu, cạo mái tóc đã được lấy kéo cắt ngắn nham nhở trên đầu Cam, đứa con gái đầu của ông.

    - Anh Củng dừng tay lại - Đại giữ chặt hai tay ông Củng. Ông Củng tỏ vẻ giận dữ:

    - Anh bỏ ra, nếu không tôi sẽ giết chết nó. Tôi nhục lắm, tôi nhục lắm!

    Đại hiểu ông Củng đang trong cơn tức giận, không thể dùng sức mạnh để bắt ông dừng tay. Đại quay ra nhà ngoài hỏi bà Củng về nguyên nhân. Bà Củng thuật lại cho Đại hay, mấy hôm nay cứ thấy con gái chằng chằng buộc buộc cái gì ở bụng. Sinh nghi, bà theo dõi thì ra con gái bà có thai đã năm tháng. Bà choáng váng báo tin cho chồng, ông Củng không tin, vào trong buồng vạch áo con gái lên. Nhìn thấy cái bụng to tướng của con gái, ông rú lên, đổ vật ra nhà. Bà Củng sợ hãi lấy dầu gió xoa vào tim, vào thái dương, mãi ông Củng mới tỉnh dậy. Ông tát túi bụi vào mặt Cam, bắt Cam phải khai ra đứa nào đã ngủ với mình. Cam không khai, thế là ông lấy kéo, lấy bàn dao cạo râu gọt đầu con để nó không dám đi ra đường. Ông Củng là một người nổi tiếng nghiêm khắc, nay con gái chửa hoang, với ông đó là một nỗi nhục nhã khủng khiếp.

    Đại quay vào buồng hứa với ông Củng sẽ thuyết phục được Cam khai ra kẻ đã ngủ với cô nếu ông thôi không cạo đầu con gái nữa. Bàn tay ông Củng chậm dần, chậm dần, lúc sau ông vứt cái kéo xuống nền nhà. Ông Củng ra nhà ngoài, ông nể Đại và tin Đại, ông hy vọng anh thuyết phục được Cam khai ra kẻ đã ngủ với mình. Đại không bảo Cam khai ra ai đã ngủ với cô mà dặn phải nói với bố vì tuổi cao khó lấy được chồng, muốn có đứa con để nương tựa về già nên đã ăn nằm với một người khách qua đường, không biết tên tuổi, quê quán ở đâu. Cái thai đã quá to, có phá đi cũng không được, phải hết sức bình tâm, giữ gìn sức khỏe. Cam lau nước mắt, gật gật đầu tiếp thu những lời dặn dò của Đại. Trước lúc đứng lên, Đại còn nhắc lại một lần nữa, dù có trót ngủ với một người nào đó ở làng cũng không được nói cho ông Củng biết vì biết được thì thế nào ông cũng giết chết kẻ kia. Đại hiểu, đến như bố cạo đầu mà Cam cũng không khai thì dẫu Đại có thuyết phục cả ngày cũng vô ích. Vả lại quả là Cam đã thuộc loại ế chồng, vì vậy việc cô tự kiếm cho mình một đứa con âu cũng hợp với cảnh ngộ.

    Đại đi ra nói với ông Củng, anh đã thuyết phục được Cam, nói ở đây không tiện, nhân có chai rượu tắc kè của một người bạn mới biếu, anh mời ông sang nhà vừa uống rượu vừa trò chuyện. Ông Củng ủ rũ theo Đại ra sân, ngồi lên xe về nhà Đại.

    Mẹ con bà Huyên đã về, Đại sai thằng Đồng sang nhà ông Tuyển mượn xe đạp đi ra chợ mua ít thức ăn. Thằng Đồng được bố tin cậy, thích quá nhảy chân sáo đi mượn xe.

    Đại lấy chai rượu, rót ra hai chén, mời ông Củng, ông cầm chén rượu lên rồi đặt xuống. Ông nấc lên từng chặp:

    - Nhục quá! Nhục quá anh ơi! Tôi sẽ giết đứa nào lừa nó!

    - Bình tĩnh lại anh Củng, sự việc đã xảy ra rồi có rối lên cũng không giải quyết được gì.

    - Có lẽ tôi phải bỏ nhà ra đi thôi, còn mặt mũi nào mà nhìn thấy bà con láng giềng nữa!

    Ông Củng khóc mỗi lúc một thống thiết hơn làm Đại cũng bùi ngùi. Khá lâu sau, đợi cho ông Củng bớt cơn xúc động, Đại mới tâm sự cho ông về những điều mà anh đã nói với Cam. Anh phân tích cả cho ông Củng về việc người phụ nữ quá tuổi được pháp luật cho phép có con ngoài giá thú để nương tựa khi về già. Lời Đại ra chiều đã làm cho ông Củng bớt giận dữ nhưng ông vẫn một mực nhốt con vào buồng cho đến khi sinh nở. Ông sợ dân làng nhìn thấy cái bụng của con gái. Nhốt một người phụ nữ mang thai ở trong buồng, đó là một sự ngược đãi, làm cho họ dễ suy sụp cả về sức khỏe lẫn tinh thần. Đứa con trong bụng cũng sẽ bị ảnh hưởng to lớn. Cam dẫu có lì lợm, cam chịu đến mấy cũng không tránh khỏi khủng hoảng vê tâm sinh lý. Dẫu đã phân tích cho ông Củng về tác hại khi nhốt Cam ở trong buồng, ông vẫn không đồng tình với Đại. Mãi đến chiều tối khi đến thăm Hiền, nhìn thấy đứa bé, Đại mới nghĩ ra một cách giải quyết hợp ý ông Củng mà vẫn đảm bảo cho Cam được tự do, thoải mái hơn cho đến khi sinh nở, ấy là gửi Cam đến một nhà người quen của Đại ở huyện bên. Ông Củng đồng ý ngay. Chập tối hôm đó, đích thân Đại chở Cam đi.

    Gần mười một giờ đêm Đại mới về đến nhà. Thằng Đồng dậy mở cửa, nó hỏi Đại đã ăn cơm chưa để nó còn đi sắp cơm. Đại bảo ăn rồi, bảo nó ngủ tiếp đi, Đại phải đảo qua Ban công an xã xem có việc gì không mà từ tối đến giờ nóng ruột quá. Đại khóa cửa ngoài, đi bộ ra tới đầu đường thì gặp ông Tương và ông Luyện. Ông Tương là trưởng họ Trần, người thấp lùn, tính khí nóng nảy. Gặp Đại ông hỏi ngay anh đi đâu từ chập tối mà ông và ông Luyện tìm mấy lần không gặp. Đại hỏi có chuyện gì? Ông bảo có chuyện hệ trọng, vào nhà bàn bạc kẻo có ai nghe thấy.

    Vào trong nhà Đại, chưa kịp ngồi ấm chỗ, ông Tương đã ra vẻ quan trọng:

    - Nguy lắm cháu ạ! Không khéo dòng họ Trần của mình lụn bại mất thôi.

    - Chuyện gì vậy bác?- Đại có vẻ ngạc nhiên.

    - Ư, hừm, tiên sư cái lũ họ Phạm, nó thâm hiểm và đểu đến thế là cùng!- Ông Tương hậm hực. Đại vốn biết tính ông Tương thường cậy mình là trưởng họ. Lúc nào ông cũng tỏ ra oai vệ nên mặc dù rất khó chịu, cũng đành nhún nhường.

    - Chuyện là thế này - Ông Luyện lên tiếng- Vừa rồi họ Phạm sang cát cho ông Hoa, mặc dù tôi và anh Tương đã can ngăn nhưng họ vẫn xây mộ ông Hoa đặt chắn ngang trước mộ cụ tổ họ mình. Chúng tôi đã đi xem thầy, thầy bảo nếu không di dời ngôi mộ của ông Hoa đi ngay, long mạch của cụ tổ nhà ta bị chạm, con cháu sẽ lụn bại, muôn đời chả cất đầu lên được!

    Ông Luyện vừa ngừng lời, ông Tương sợ ông Luyện nói hết phần mình nên vội vã cất giọng:

    - Cháu là trưởng công an xã, cháu viết giấy mời họ ra Ban công an bắt họ phải di dời. Nếu không cứ xích cổ chúng nó lại. Công an xã không đủ lực lượng thì bác huy động cả họ Trần ra.

    To chuyện rồi! Đại thở dài ngao ngán. Không làm theo thì ông Tương thì quá nửa họ Trần phản đối, nguyền rủa anh mà làm theo thì sai pháp luật, hơn nữa họ Phạm cũng huy động toàn bộ họ ra đối phó, bạo động xảy ra, máu đổ đầu rơi. Cái họ Trần này Đại chả lạ gì, toàn những người hiếu thắng, bảo thủ lại bét rượu. Mỗi lần giỗ họ, mặc cho tháng ba ngày tám đói kém, đều mổ lợn tạ, chè chén linh đình. Rượu vào lời ra, tranh luận cãi nhau ỏm tỏi. Có lần đánh nhau suýt vỡ đầu. Nếu Đại có can ngăn thì lập tức bị mấy ông là bề trên dẹp đi, cho là hỗn láo! Lần gần đây nhất, chả hiểu thế nào mà ông Tương đi tranh luận với một đứa cháu họ đang là học sinh lớp bốn, ông thua cuộc bị mọi người cười, ông điên tiết vớ cái đòn gánh đuổi đánh. Đại chạy lại giữ chặt đòn gánh can ngăn liền bị ông túm cổ áo quát tháo ầm ầm. Đại bực quá phê phán ông về cái tính gia trưởng. Ông tuyên bố từ mặt Đại. Vậy mà bây giờ ông lại đích thân đến nhà, chuyện quả nghiêm trọng. Đại không thể chiều theo ý ông Tương, anh phân tích, nghĩa địa làng là của chung, chỉ quy định các ngôi mộ không được chôn sát nhau mà phải cách nhau từ hai mét. Ngôi mộ của ông Hoa xây cách ngôi mộ cụ tổ những bốn mét là hợp pháp làm sao bắt họ đào lên chôn lại được! Ông Luyện về mặt ăn nói xem ra hơn hẳn ông Tương, ông nói với Đại từ ngày xửa ngày xưa các cụ đã từng dạy: " Một người làm quan, cả họ được nhờ". Nay Đại làm trưởng công an xã cũng thuộc loại quan to ở làng nên việc này ngoài Đại ra không ai có thể giúp được họ Trần. Họ Trần lụi bại hay đè đầu cưỡi cổ được thiên hạ tất tật là ở Đại. Hết ông Tương rồi đến ông Luyện thuyết phục, Đại vẫn không đồng tình. Thấy không thể thuyết phục được Đại, ông Tương đứng dậy phủi đít quần đánh phạch:

    - Mày hèn lắm Đại ạ! Có quyền, có súng trong tay mà đi sợ cái đám họ Phạm ấy. Mày sợ chết không dám làm thì chúng tao sẽ làm.

    Quay sang ông Luyện, ông Tương hất hàm:

    - Về thôi chú, ở đây mãi mình cũng đâm ra hèn mất!

    Đại không chấp nhặt trước những lời xúc xiểm của ông Tương mà chỉ lo xẩy ra xô xát giữa hai họ. Là trưởng công an xã, người cầm cân nảy mực cho sự công bằng, anh không thể vì gia đình, dòng họ mà làm trái pháp luật. Dẫu biết rằng làm như vậy rất có thể nhiều người trong họ sẽ tẩy chay anh. ở nông thôn quả là phức tạp, do dân trí thấp, do đời sống vật chất, tinh thần còn nghèo nàn nên quan hệ giữa con người với con người còn mang nặng tính cục bộ gia đình, dòng họ. Sự hiểu biết về pháp luật của người dân cũng kém thành thử việc vi phạm pháp luật xảy ra thường xuyên. Đại cũng đã từng một lần bị ông Phàn kiện vì tội ngăn không cho con gái ông lấy chồng. Chuyện là con gái ông đã đăng ký kết hôn với một người cùng làng, gần đến ngày cưới ông ngãng ra vì có một chàng trai ở làng bên, gia đình giàu có cũng muốn cưới con gái ông. Ông đem giấy kết hôn ra xã bảo đổi cho con ông tờ khác. Đại giải thích cho ông, một khi đã đăng ký kết hôn nghiễm nhiên được pháp luật coi là vợ chồng hợp pháp. Ông Phàn cãi con ông chưa cưới, chúng nó chưa ngủ với nhau thì chưa thể là vợ chồng. Nếu cần bằng chứng ông sẽ đưa con gái đi lên hội đồng giám định y khoa tỉnh để giám định sự trong trắng của con gái ông, trong khi đó con gái ông đã hai lần đi nạo thai! Tuy câu chuyện của ông Phàn vẫn chưa khôi hài bằng câu chuyện của chị Chính- một người lẳng lơ ở xóm 1. Chị Chính thiếu thuế của Nhà nước tám tạ thóc, chị sang bảo với Đại, cũng nằm trong hội đồng đòi nợ của xã, giảm cho chị một nửa, cái nửa giảm này chị không để cho Đại thiệt, chị sẽ trả bằng cách ngủ với Đại bốn mươi lần, mỗi lần tương đương với 10 cân thóc!

    Đại linh cảm ông Tương sẽ làm liều, cho người bí mật dời mộ ông Hoa ra chỗ khác. Điều linh cảm này quả không sai. Ngay đêm hôm sau, ông Tương huy động hai mươi thanh niên khỏe mạnh ra nghĩa địa để đào mộ ông Hoa. Bên họ Phạm biết được kéo cả họ ra chống giữ. Xung đột sắp xẩy ra thì Đại biết tin, huy động toàn bộ lực lượng công an xã ra giải quyết. Ông Tương cậy có Đại với lại nghĩ Đại chẳng dám bắt một ông trưởng họ nên hùng hổ cầm cuốc bổ lên mộ.

    - Giết nó đi!- Hàng chục người họ Phạm cùng hét lên.

    - Cứ đào đi! - Đám thanh niên họ Trần cũng gào lên.

    Ông Tương hua hua chiếc cuốc, thách thức ai động đến người ông thì ông đây sẽ cho một nhát chết tươi. Đại thuyết phục không được, liền xông vào giằng lấy cuốc, ra lệnh cho hai công an xã cầm tay ông đưa về Ban công an xã. Đại đích thân lấy đất đắp lại mấy nhát cuốc trên mộ ông Hoa, đề nghị mọi người giải tán. Đám thanh niên họ Trần hậm hực rút lui. Những người họ Phạm thấy Đại xử lý ngay thẳng, lòng rất cảm kích, cũng bảo nhau thôi không hò hét nữa, trật tự ra về.

    Đại về trụ sở Ban công an xã, đề nghị ông Tương viết giấy cam đoan, ông Tương cầm giấy xé trước mặt Đại:

    - Đại, tao không ngờ mày lại dám bắt cả trưởng họ Trần! Tao thề sẽ khai trừ mày ra khỏi họ.

    - Việc gia đình để về nhà nói, còn đây là chốn công đường. Bác phạm tội đào mồ mả người ta lên, nếu bác không viết giấy cam đoan chấm dứt hành động tự ý hoặc xúi giục, kích động người khác đào mộ ông Hoa, công an xã đành phải giải bác lên công an huyện.

    - Tao thách chúng mày đấy- Ông Tương gào lên - Thàng khốn nạn, tao sẽ khai trừ mày ra khỏi họ!

    - Đề nghị ông không được chửi bới ở đây - Một công an viên lên tiếng.

    Chợt ở ngoài có tiếng tru tréo:

    - ới ông ơi! Ông có tội tình gì mà đứa cháu họ lại bắt ông vậy ông ơi!

    - ới ông ơi! Ông đang bị bệnh tim, lỡ có xảy ra chuyện gì thì vợ con tối sống với ai ông ơi!

    Đấy là tiếng tru tréo của bà Hạnh - Vợ ông Tương. Bà xồng xộc vào trụ sở. Ông Tương nghe tiếng vợ gào khóc, liền ra chiều thảm hại, gục mặt xuống bàn, hai tay xõng xoài ra bàn như thể mình vừa bị tra tấn dã man lắm. Bà Hạnh tiếp tục bù lu bù loa. Đại yêu cầu bà im lặng. Bà Hạnh nhìn Đại như ăn tươi nuốt sống:

    - Ông trưởng công an xã, thả chồng tôi ra. Ông làm to, ông có quyền, ông quên cả họ hàng.

    - Bác bảo bác trai viết giấy cam đoan không đào mộ ông Hoa, công an xã sẽ thả ra ngay.

    - Hừ, hừ, tao mà có chết ở đây thì mày rũ tù - Ông Tương rên rỉ - Cái dòng họ Trần rồi cũng bị chúng nó đè đầu cưỡi cổ mất thôi. Thời buổi này, được làm quan, người ta kéo cả gia đình, họ hàng hang hốc vào để tạo vây cánh. Chỉ có những thằng ngu mới không làm như vậy.

    - Bác im đi! Bác bảo ai ngu? Bác đừng tưởng làm trưởng họ thì có quyền hà hiếp ai cũng được. Nếu bác không viết giấy cam đoan, dứt khoát sáng mai dẫn lên công an huyện.

    Nghe Đại nói thế, bà Hạnh sợ hãi, cầm tay chồng lôi đi. Đại lệnh cho hai công an xã kéo bà Hạnh ra ngoài. Bà nằm ệch ra đất cố thủ. Bà Hạnh bị lôi dậy, biết khó mà thắng nổi, bà liền đề nghị bỏ mình ra để bà đi về. Hai công an xã vừa buông bà ra lập tức bà tụt quần dài xuống. Quá bất ngờ, Đại kéo hai công an đi ra ngoài. Đại cho khóa cửa ngoài và tắt điện bên trong. Căn phòng tối tăm mù mịt, bị muỗi tấn công, chịu không nổi, cuối cùng ông Tương đập cửa thình thình, đề nghị mở cửa để ông còn viết giấy cam đoan. Đại và một công an viên đứng chờ ở ngoài, mở cửa, nối lại nguồn điện.

    Cay cú vì bị Đại bắt giam, ngay sáng hôm sau ông Tương làm bản khai trừ Đại ra khỏi họ Trần. Ông đi vận động cả họ ký vào nhưng chỉ được mươi người. Từ đấy, hễ nhìn thấy Đại từ xa là ông đứng lại ngoảnh mặt ra phía sau, đợi cho Đại đi qua rồi mới tiếp tục đi. Không chịu khuất phục trước họ Phạm và Đại, ông Tương quyết định cho xây lại mộ tổ trở thành ngôi mộ to đẹp nhất trong tất cả các ngôi mộ gọi là có "máu mặt". Xây một ngôi mộ như thế, ông Tương dự trù mất năm triệu. Ông bổ đầu bảy mươi suất đinh trong họ. Người trong họ vốn chẳng giàu có gì, ông vận động mãi mới thu được triệu rưỡi. Ông lặn lội lên Hà Nội vận động những người giàu có họ Trần, thu được bốn triệu. Dư năm trăm ngàn, ông cho là cụ tổ phù hộ nên càng hăng hái hơn. Ngày xây mộ, con cháu trong họ, đám thợ xây nườm nượp chuyển gạch, cát, xi măng ra nghĩa địa. Sau lễ khấn cụ tổ bằng xôi, gà, nải quả. Ông tương bổ nhát cuốc đầu tiên để đào móng. Không biết do cụ tổ phật ý hay do lơ đễnh, ông bổ vào chân mình làm đứt lìa ngón chân cái. Ông được đưa lên bệnh viện tỉnh cấp cứu. Vì mất nhiều, ông phải tiếp máu. Con cái ông không ai trùng nhóm máu của ông, họ hàng tìm cách lẩn trốn. Đại xin thử máu, may sao lại trùng với nhóm máu của ông Tương. Đại đã hiến cho ông khá nhiều máu, những tưởng ông sẽ xóa bỏ mối hận thù với Đại. Nhưng ngay sau khi ra viện, biết được trong người có dòng máu của Đại, ông chửi vợ, chửi con sao lại để người ta tiếp máu của cái thằng mình người dạ thú ấy vào người ông! Ngày giỗ tổ, ông Tương tuyên bố nếu Đại có mặt ở từ đường ông không làm lễ cúng tổ. Gần một trăm con người nhìn Đại như muốn bảo: " Thôi anh hãy vì chúng tôi mà về đi. Ngày giỗ tổ mà đi cãi nhau, tranh luận với lão Tương chỉ tổ gây mất đoàn kết, để thiên hạ cười cho!". Đại vào trong từ đường, anh thắp hương vái ba vái rồi lặng lẽ đi ra. Đời là như thế, khi anh không bằng lòng với người ta, họ xa lánh anh. Khi nào cần đến sự giúp đỡ của anh, người ta lại có thể mỉm cười với anh!

    Quản và cả lão Túc đã ra tù. Với lão Túc, thời gian ở tù tuy phải đi lao động nhưng được ăn no và ngủ ngon hơn ở nhà. Tuổi lão cũng đã cao, cán bộ quản giáo ưu tiên cho lão làm những công việc nhẹ nhàng nên lão cảm thấy ở tù quả là sướng. Thậm chí sướng hơn khi còn được tự do nếu như lão không phải đi học tập chính trị. Khốn nạn, đời lão có được học hành gì, lõm bõm vài chục chữ nghĩa. Nhiều lần vớ được tờ báo, lão cầm ngược tờ báo đánh vần mãi! Ra tù, lão có vẻ hiền lành hơn nhưng lão vẫn không quên được mối thù với Đại. Gặp Đại ở đường, mặc cho Đại chào lão trước, lão chẳng thèm trả lời. Lão Túc căm thù Đại một thì Quản căm thù Đại hàng trăm lần. Vì Đại mà anh Quản mất chức. Mối thù này Quản thầm hứa phải rửa nhục bằng được. Giết Đại như kiểu bỏ thuốc sâu của lão Túc hoặc bằng cách nào đó là không thể được. Với lại dễ bị điều tra ra. Cách trả thù theo Quản khả dĩ có thể thực hiện được là làm cho Đại mất uy tín, không được bầu cử vào hội đồng nhân dân xã khóa tới diễn ra vào tháng sau. Một khi Đại không được bầu vào Hội đồng nhân dân thì nghiễm nhiên chức trưởng công an xã cũng không được trao cho Đại. Phải mất tới nửa tháng để nghĩ ra các phương án, Quản mới chọn được một kế mà theo Quản nếu thành công sẽ gây được tiếng vang và chắc chắn Đại nếu không mất chức ngay cũng chẳng còn uy tín để chạy đua chiếc ghế Hội đồng nhân dân xã. Vốn trước cũng từng một thời là lính công binh, Quản đi mua thuốc nổ của dân đánh cá vùng biển về tự tạo ra một quả mìn hẹn giờ. Mìn đã có, muốn cho nó nổ vào đêm trước ngày bầu cử, phải có người đặt mìn. Quản muốn mìn nổ ở khu ủy ban xã, như thế tiếng vang sẽ lớn hơn. Người mà Quản nghĩ tới đầu tiên cho việc đặt mìn là lão Túc. Chả gì thì lão cũng là kẻ thù của Đại, lão lại thuộc hạng người liều mạng, dễ mua chuộc bằng tiền, rượu và gái.

    Một tối Quản mò đến nhà lão Túc. Thằng con lão đã bỏ đi đào vàng, căn nhà lão trống trơ trống hoắc. Lão Túc từ hôm ra tù, đói ăn thành thử trông còm nhom. Lão lại đang bị bệnh hắc lào, chốc chốc lại lùa tay vào bộ hạ gãi soàn soạt.

    - Lão Túc dạo này sống thế nào? - Quản hỏi lão. Lão Túc thấy Quản đến vào buổi tối nên có ý đề phòng. Lão bảo cũng vầy vậy. Gần như theo thói quen cố hữu, bất cứ ai đến nhà lão, nếu không giới thiệu ngay mục đích thì y rằng lão sẽ hỏi khách đến có việc gì đấy. Lão hỏi câu này với Quản đang lúc cơn ngứa ở bộ hạ hành lão ghê gớm, do vậy câu hỏi của lão có phần bực bội.

    - Cùng cảnh tù, cùng chung kẻ thù với thằng Đại đến thăm nhau không được sao?

    - Đ... mẹ thằng Đại, chết tôi cũng không quên được mối thù với nó - Nghe Quản nhắc đến Đại, lão Túc chửi Đại một thôi dài. Quản chửi hùa theo. Lão Túc lấy làm hả dạ lắm. Khi Quản còn đương chức, lão Túc trông thấy Quản sợ như thỏ sợ chó sói. Nay Quản đến nhà chia sẻ cảnh ngộ với lão như một kẻ tâm giao, lão thấy có chút gì đó kiêu hãnh. Thì ra con người dễ làm bầu làm bạn với nhau hơn nếu cùng cảnh khốn cùng khốn khổ. Còn nếu kẻ này và kẻ kia cùng cảnh giàu sang, quyền chức tương đương thì bề ngoài bằng mặt mà chẳng bằng lòng, lúc nào cũng đố kỵ, ghen ghét, hãm hại lẫn nhau.

    Hai kẻ dốc bầu tâm sự nghe chừng đã vãn, Quản liền mời lão Túc tìm chút gì nhấm nháp tý. Lạy trời! Còn gì sung sướng hơn lời mời này. Đáp lại tấm lòng quá hảo tâm của Quản, lão Túc chửi đổng: " Đ... mẹ thằng Đại, bố mày không để mày yên đâu". Mạnh mồm là thế nhưng khi lên đến thị xã, có nhắm tốt, rượu ngon, Quản vừa trình bày xong kế hoạch nhờ lão đặt hộ gói " truyền đơn" trước cổng ủy ban nhân dân xã với giá năm trăm ngàn, lão suýt đánh rơi chén rượu:

    - Cái gì? Rải truyền đơn?

    - Không phải rải mà chỉ cần đặt thôi. Đêm tối không ai biết đâu - Quản trấn an lão.

    - Tôi chịu thôi, họ mà bắt được chả rũ tù!

    - Lão già rồi mà nhát chết thế! Lão không đồng ý thì thôi, nhớ là đừng nói cho ai biết đấy nhé!

    - Được, tôi không nói đâu.

    Ăn uống no say, Quản chở lão Túc đến nơi bán dâm núp bóng dưới dạng nhà nghỉ Hoa Hồng- nơi mà trước đây Quản hay tìm đến mua dâm. Là chỗ thân quen từ lâu, Quản được Hữu - chủ nhà nghỉ tiếp đón rất chu đáo. Thể theo yêu cầu của Quản, Hữu bố trí lão Túc vào một phòng sang trọng. Lão còn đang ngơ ngác ngắm nhìn căn phòng thì một gái làm tiền trẻ đẹp, ăn mặc áo hở ngực, váy ngắn cũn cỡn bước vào. Thị pha nước, cố cúi thật thấp để lộ hai bầu vú đập vào mắt lão Túc. Người lão Túc râm ran, rót nước xong thị ngồi xán lại gần lão Túc, cầm bàn tay lão đặt lên cặp đùi mát rượi. Thỉnh thoảng thị lại cố tình sơ ý kéo bàn tay lão vào sâu trong váy. Đến thánh cũng không chịu nổi huống chi lão Túc thường xuyên thiếu đàn bà.

    - Anh làm một tý cho đời thơm tho chứ! - Thị thỏ thẻ, tay gại gại vào đám bộ hạ lão Túc. Quái quỷ thế nào thị lại gãi đúng vào chỗ hắc lào của lão Túc, lão oằn người đẩy tay thị ra. Thị đứng lên ra ngoài, Quản bước vào, đặt vào tay lão Túc năm trăm ngàn.

    - Con bé xinh đẹp thế mà lão không làm một cái thì phí đời!

    Lão Túc thừa biết Quản trả trước tiền công đặt gói "truyền đơn" để lão có tiền trả con bé kia. Lão dùng dằng nửa từ chối, nửa chấp nhận. Con bé khi nãy bước vào, Quản nháy mắt bước ra. Con bé cài cửa chặt, tắt điện, đi lại chỗ lão Túc. Lần này thị mạnh tay hơn, thị cởi hết quần áo, kéo mặt lão Túc áp vào ngực mình. Đến lúc này có chết cũng chẳng ngăn được nữa. Lão Túc mê mụ, con bé cởi quần áo lão ra, ôm ghì lấy tấm thân gầy guộc, hôi hám của lão. Lão rên lên từng hồi.

    Cuộc mây mưa kéo dài mươi phút, tốn một trăm ngàn, còn bốn trăm mang về. Sẵn có tiền lão Túc ngày nào cũng la cà ở quán lòng lợn tiết canh. Mấy lần qua chợ đều thấy lão Túc ngồi uống rượu với lòng lợn thì Đại thấy lạ. Không biết lão lấy tiền ở đâu ra? Hay là đi trộm lợn ở làng khác? Đại cho một công an xã theo dõi lão Túc. Khoảng mười ngày sau, thấy lão Túc thuê xe ôm lên thị xã, lão đi lòn vòng mấy phố, trả tiền xe ôm, đi bộ một lúc rồi rẽ vào nhà nghỉ Hoa Hồng. Tin này báo về càng làm Đại nghi vấn. Lão Túc vào đấy là để chơi gái. Như vậy hẳn là lão phải có khá nhiều tiền. Ai là người cung cấp tiền cho lão? Bẵng đi mấy hôm không thấy lão Túc ra quán lòng lợn tiết canh, Đại đoán là lão hết tiền. Một khi đã quen mồm, khó lòng mà nhịn được. Thế nào rồi lão cũng mò đi lấy tiền. Đại dặn dò người được cắt cử theo dõi lão Túc phải hết sức cẩn thận không để lão phát hiện ra mình đang bị theo dõi. Một tối Đại nhận được tin báo, lão Túc đến nhà Quản. Sáng sớm hôm sau Đại đảo qua chợ thì thấy lão Túc đang khật khưỡng ở quán cháo lòng tiết canh của bà Quỳ. Như vậy là người cung cấp tiền cho lão Túc chính là Quản. Đúng là Quản đã buộc phải cho thêm lão năm mươi nghìn nữa, lão đến kỳ kèo, van nài mãi. Quản không cho, lão lại đến nữa, mọi người nhìn thấy sinh nghi ngờ, gã bắt lão Túc phải hứa không được đến nhà, làm theo đúng lời gã đã căn dặn. Lão Túc hứa tới ba lần, Quản mới rút tiền đưa cho lão. Quản tuy thuộc loại ranh ma nhưng lại ngu ngốc không hiểu được rằng việc đưa tiền trước cho lão Túc sẽ buộc lão Túc chấp nhận yêu cầu của mình, xong cũng lại chính " lạy ông con ở bụi này".

    Quản chẳng có họ hàng gì thân thích với lão Túc, lại càng không bao giờ có lòng hảo tâm đến độ cho lão vay tiền chứ đừng nói đến cho không. Rõ ràng là Quản đang mua chuộc lão Túc để làm một việc gì đó mờ ám. Đại nghĩ có thể Quản mượn tay lão Túc trả thù Đại nên dặn dò thằng Đồng đi đâu phải khóa cổng cẩn thận. Trước khi dùng nước bể phải ngửi xem có mùi gì lạ không! Gần đến ngày bầu cử Hội đồng nhân dân xã, không thấy động tĩnh gì, Đại nghĩ ngợi, hay là chúng nhằm đúng ngày này để ra tay? Đêm trước ngày diễn ra bầu cử, Đại bố trí lực lượng đi tuần tra khắp làng. Riêng nhà lão Túc, Đại trực tiếp theo dõi. Đến gà gáy canh ba, lão Túc ra khỏi nhà, đi về phía cây đa, lão lấy ở trong một hốc đa ra một vật rồi tiến về phía ủy ban nhân dân xã. Đường tối đen hư mực, Đại phải căng mắt nhìn mới theo được lão Túc. Tới cổng ủy ban, lão Túc đặt quả mìn vào mép tường, lão vơ cát phủ lên quả mìn.

    - Lão Túc làm gì đấy? - Tiếng quát của Đại làm lão Túc giật bắn mình. Lão sợ quá, đái cả ra quần. Lão lắp bắp không nói thành lời, Đại lia đèn pìn xung quanh phát hiện ra vật gì đen đen ở mép trên tường. Đại không thể ngờ đó là quả mìn, anh cúi xuống cầm lên. Bàn tay nóng ran, Đại quăng thật mạnh quả mìn xuống cái hồ trước mặt, xô lão Túc ngã xõng xoài ra đất. Liền lúc đó một tiếng nổ đinh tai vang lên từ mặt hồ. Đại chồm dậy, năm lấy cổ lão Túc lôi dậy.

    - Lão Túc, ai thuê lão làm việc này? Lão có biết chính kẻ kia định cho mìn nổ để thủ tiêu lão không?

    Đúng rồi, nếu không có Đại kịp đến thì mình đã bị tan xác. Đúng là Quản độc ác định giết mình để phi tang. Lão Túc hét lên:

    - Bắt lấy nó!

    Lão chạy về phía nhà Quản, Đại chạy theo. Khi Đại và lão Túc xộc được vào nhà Quản thì không thấy hắn đâu. Lúc nghe tiếng nổ, Quản tin là lão Túc đã chết, đầu mối được bịt kín. Nhưng hắn vốn đa nghi nên lẻn ra đầu ngõ, đứng nép vào bờ giậu nghe ngóng. Thấy tiếng chân chạy vào ngõ nhà mình, Quản biết bị lộ, đợi cho Đại và lão Túc chạy vào nhà, Quản chạy ra bờ sông, bơi sang bên kia trốn thoát.

    Khám xét khắp nơi không thấy Quản, Đại hiểu Quản đã trốn mất. Đại không ngờ Quản lại có thể làm một việc tày đình như thế nên chủ quan không cho người theo dõi nhà Quản. Lệnh truy nã Quản được phát đi trong toàn quốc, mãi ba tháng sau, công an thành phố Hồ Chí Minh mới tóm được Quản đang ẩn náu ở nhà một người bạn cũng đơn vị với Quản ngày xưa.

    Kết quả cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân, Đại trúng với số phiếu cao nhất. Một lần nữa Đại được đề cử vào chức chủ tịch xã. Đại từ chối, chỉ nhận chức phó chủ tịch kiêm trưởng công an xã. Đại tính toán, nhận thêm chức Phó chủ tịch, đến lúc Vũ ra trường về xã Đại có thể nhường chức trưởng công an cho Vũ mà mọi người không phản ứng vì Đại vẫn còn chức phó chủ tịch ủy ban nhân dân xã. Một điều quan trọng nữa, nếu Đại giữ chức Phó chủ tịch xã, Đại có nhiều quyền hơn để tham gia vào việc phát triển kinh tế. Kinh tế phát triển một cách lành mạnh, tức là người dân có đủ công ăn việc làm thì an ninh trật tự cũng sẽ tốt lên. Thực tế cho thấy đói ăn, thất nghiệp dễ dẫn con người đặt biệt là tầng lớp thanh niên vào con đường tội phạm. ở nông thôn, ngoài hai vụ lúa, nếu không có nghề phụ thì người dân hầu như toàn rong chơi. Một sự lãng phí lao động khổng lồ. Rồi cái nghèo, cái đói cứ mãi đeo đẳng. Thái Hạ còn nghèo, còn nhiều hiện tượng vi phạm pháp luật cũng là do ruộng vườn ít, người lao động lại không có nghề phụ. Hàng năm, đàn ông ở làng lũ lượt kéo nhau đi đào vàng, đi làm cửu vạn để kiếm thêm tiền về sinh nhai. Tiền mang về chẳng là bao nhưng tệ nạn xã hội tha về thì nhiều. Nạn nghiện hút, mại dâm, trộm cắp tuy công an xã đa ra tay dẹp mạnh song vẫn bị du nhập về liên tục thông qua những người đi làm ăn ở xa về. Còn tệ nạn xã hội là đồng nghĩa với việc còn xẩy ra mâu thuẫn trong các gia đình. Nếu có việc làm tại chỗ, dù thu nhập có ít hơn, cuộc sống của người dân quê sẽ bình yên. Từ lâu Đại đã trăn trở rất nhiều về việc tạo một nghề cho dân làng Thái Hạ. Và chính cái vai đồng nát mà Đại học được từ anh Dậu đã giúp Đại nghĩ ra một hướng đi. ở xóm 1, xóm 3 và xóm 4, trước đây từng có nhiều gia đình làm nghề gò hàn. Họ đã sản xuất ra nhiều xô, chậu, mâm, xoong, ấm, đồ thờ cúng từ bàn tay khéo léo của mình. Bây giờ vực dậy cái nghề thủ công này, phát triển nó lên ở từng gia đình. Biến mỗi gia đình thành một phân xưởng, xí nghiệp nho nhỏ. Những gia đình khác không có tay nghề như anh Dậu sẽ đem hàng của các gia đình kia sản xuất ra đi khắp nơi trong tỉnh và các tỉnh lân cận để bán, để đổi. Rỗi những vật dụng cũ, hư hỏng mà họ đổi được sẽ đem về bán hoặc trao đổi cho những gia đình có tay nghề để họ tái chế thành sản phẩm mới. Như vậy người người có thêm việc làm, nhà nhà có thêm việc làm. Kinh tế gia đình phát triển, làng nhờ đó mà cũng giàu lên.

    Không được nóng vội, chậm nhưng chắc, đó là khẩu hiệu hàng động mà Đại đặt ra khi anh bắt đầu triển khai chiến lược " Bình yên

    cuộc sống thôn quê" bằng con đường phát triển kinh tế gia đình thông qua nghề gò hàn, đồng nát. Đại tiến hành làm thí điểm từ nhà ông Huy và nhà anh Dậu. Ông Huy vốn là thợ gò hàn nổi tiếng ở làng, từ ngày nghề lụi bại, ông gần như bỏ nghề. Nay nghe Đại tâm sự về việc khôi phục lại nghề gò hàn, lại có cả phương án tiêu thụ, ông lại được Đại tin cậy làm người mở đường, ông vui mừng và xúc động. Chả gì cái nghề gò hàn, ông học được từ bố ông, nó đã ăn vào máu thịt của ông hàng chục năm. Ông đề đạt với Đại, sau này nên đi sâu vào việc sản xuất ra các mặt hàng kỹ nghệ tinh xảo dùng làm đồ thờ cúng, trang sức trong nhà để có thể xuất khẩu ra nước ngoài.

    Đại nói với ông Huy:

    - Cái đó sau hãy hay. Trước mắt chúng ta nên bắt đầu từ cái nhỏ, sản xuất đồ tiêu dùng thông dụng, bền, giá cả vừa phải, hợp với túi tiền nông dân đã bác ạ!

    - ấy là nghe anh nói vậy- Ông Huy cao hứng - Tôi vui mà cầm đèn chạy trước ô tô thế. Được rồi, ngay ngày mai tôi sẽ bảo thằng cả và tôi vào việc. Một tuần nữa anh cứ bảo thằng Dậu đến đây nhận hàng.

    Rời nhà ông Huy, Đại đến nhà anh Dậu. Vừa thấy Đại, anh Dậu cười :

    - Anh lại đến mượn xe đồng nát nữa à?

    - Lần này thì mượn cả người.

    Đại cười đáp lại. Thăm hỏi gia cảnh anh đồng nát xong. Đại nói ý định của mình cho anh Dậu nghe. Anh Dậu hồ hởi:

    - Vậy thì tốt quá, em xin đi tiên phong!

    Đúng ngày hẹn, anh Dậu đến nhà ông Huy để nhận hàng dưới sự chứng kiến của Đại. Hàng gồm hai cái mâm, một bằng nhôm, một bằng đồng, bốn cái xoong, hai cái ấm, hai cái lư hương bằng đồng trông rất đẹp. Hai bên thỏa thuận giá cả, việc thanh toán ghi vào cuốn sổ giao nhận hàng, anh Dậu ký nhận vào sổ. Ngay hôm đó, anh Dậu vừa bán, vừa đổi được một trăm ba lăm ngàn tiền hàng. Sau khi thanh toán với ông Huy anh lãi hai mươi tư ngàn đồng, một số tiền không nhỏ với người nông dân.

    Thấy nhà ông Huy làm ăn được, nhiều nhà có tay nghề gò hàn bắt chước làm theo. Thấy anh Dậu không phải bỏ vốn mà đi đồng nát kiếm được tiền, nhiều người cũng làm theo. Dần dần cái nghề gò hàn và đồng nát phát triển khắp làng, thu hút hàng trăm lao động. Cũng từ đó Thái Hạ có thêm cái biệt danh làng " đồng nát". Có việc làm, không còn cảnh nhàn cư vi bất thiện, đời sống lại khấm khá lên, quả nhiên an ninh trật tự của Thái Hạ tốt lên trông thấy. Muốn chính trị ổn định thì việc đầu tiên là đời sống của người dân phải no đủ, kế đó phải có sự công bằng, dân chủ. Ai cũng hiểu được điều này nhưng để thực hiện thành công, nó không phải là chuyện đơn giản. Ngay chuyện Đại khơi lại nghề gò hàn, đồng nát, có một số đảng viên, cán bộ về hưu phản đối Đại. Họ bảo cái làng Thái Hạ vốn có truyền thống đấu tranh cách mạng, không thể biến thành cái làng đồng nát để hạ thấp uy thế của làng! Thế nhưng ông Lùng - phó chủ tịch huyện phụ trách khối công nghiệp lại về bàn với xã sẽ biến Thái Hạ thành một làng mà người người là công nhân, nhà nhà là xí nghiệp. Cũng may đó chỉ là ý kiến riêng của ông Lùng chứ không phải chủ trương của huyện nên nghe Đại giải thích việc đại nhảy vọt, đầu tư thành các nhà máy lớn ở làng sẽ không có hiệu quả, huyện đã đồng tình với Đại.

    Theo sáng kiến của Đại, nhằm tìm hiểu được thực trạng về trình độ và năng lực của trưởng công an xã, thị trấn, công an tỉnh đã tổ chức cuộc thi " Trưởng công an xã giỏi". Cuộc thi có 75 trưởng công an xã tham gia trong đó 70 là trưởng công an xã và 5 trưởng công an thị trấn. Cuộc thi gồm hai phần lý thuyết và thực hành. Phần lý thuyết thi viết, trả lời những câu hỏi về đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước và ngành về an ninh, pháp luật. Phần thực hành, xử lý các đơn khiếu kiện, các tình huống xẩy ra có liên quan đến an ninh, trật tự. Một kết quả làm ông Giang lo lắng. Trong 75 người chỉ có 4 người có trình độ đại học, bảy người trình độ trung cấp nhưng lại trái ngành, ba người đạt loại giỏi, 12 đạt loại khá, còn lại là trung bình và kém. Có những trưởng công an xã trình độ và năng lực yếu kém đến mức chính ban giám khảo cũng không thể ngờ. Trả lời câu hỏi lý thuyết: " Đồng chí hãy nêu tóm tắt những điều cơ bản về chính sách an ninh quốc phòng hiện nay của Đảng và Nhà nước ta?". Trưởng công an xã Thái Hoàng trả lời: " Đó là phải tiêu diệt được nạn tham nhũng...". Trong phần thi thực hành, trưởng công an xã Bảo Quốc xử lý tình huống khi nhận được đơn tố cáo của một người dân về hành vi đánh người của ông trưởng xóm là nếu ông đánh người hợp pháp thì dù kẻ bị đánh có chết cũng vô tội. Khi hỏi thế nào là đánh người hợp pháp? Đáp: ví dụ con cãi lại cha mẹ thì cha mẹ có quyền đánh! Còn trưởng côn an xã Lê Lợi xử lý tình huống bắt được quả tang một đám đánh bạc, trói gô cổ chúng lại, giam qua đêm, hôm sau phiên chợ cho làm cỏ ở sân vận động gần đó để mọi người biết được, có thể chúng mới xấu hổ mà chừa đi!

    Sau cuộc thi, để nâng cao trình độ nghiệp vụ cho các trưởng công an xã, công an tỉnh đã mở các lớp tập huấn ngắn hạn. Đồng thời cho rà soát, kiểm tra lại, trưởng công an xã nào quá yếu kém đề nghị ủy ban nhân dân các xã cho thay thế. Trong đợt kiểm tra này, ngoài việc đề nghị bãi nhiễm chức trưởng công an xã của ba xã vì không có trình độ năng lực, còn phát hiện ra được hai trưởng công an xã đã dùng tiền mua chức, nghiêm trọng nhất là trưởng công an xã Đại Thắng - Lê Văn Bao. Bao, 45 tuổi, trình độ hết cấp hai, cũng đã từng đi bộ đội tham gia chiến dịch bảo vệ biên giới đánh quân Tàu năm 1979. Bao không hề bị thương, ngày xuất ngũ, Bao lấy trộm được hai quả lựu đạn mang về quê. Bao đem ra sông ném để bắt cá, một lựu đạn đã phạt cụt bàn tay trái của Bao. Thế mà không biết chạy chọt thế nào, Bao lại được là thương binh. Thấy việc mua tàn tật thành thương binh xuôi chiều, Bao đã dùng tiền mua chức trưởng công an xã mất mười lăm triệu. Để lấy lại số tiền mua chức và làm giàu trên cương vị trưởng công an xã, Bao đã lộng hành, nghĩ ra nhiều mưu kế kiếm ăn. Tất cả số tiền bắt của các vụ đánh bạc, Bao đều bỏ túi. Những vụ vi phạm như đánh nhau, ăn trộm, người nào chịu hối lộ thì Bao tha còn không bắt nộp phạt. Bao bắt người dân phải đóng quỹ an ninh, mỗi gia đình mỗi năm phải nộp năm mươi ngàn đồng, số tiền thu được lên tới hàng trăm triệu, nhưng hơn hai phần ba số quỹ bị Bao tham ô. Các quán hàng ăn, bia, rượu, bán thịt lợn , hàng tháng đều phải có lót tay cho Bao. Bao ăn hối lộ và dung túng cho ba quán karaoke hoạt động mãi dâm. Một chuyện liều gan và tày đình nhất mà Bao đã lợi dụng chức quyền để tiến hành, đó là vụ Bao thông đồng với chủ nhiệm hợp tác xã dựng lên hiện trường giả để lấy cắp một trăm bốn mươi ba triệu đồng tiền thuế nông nghiệp. Vụ này công an huyện đã về điều tra nhưng không tìm ra thủ phạm!

    Để được tự do lộng quyền, một mặt Bao mua chuộc chủ tịch xã, một mặt Bao thẳng tay trấn áp những ai viết đơn tố cáo Bao. Ba người viết đơn tố cáo Bao thì cả ba đều bị Bao trả thù; người thị bị Bao cho theo dõi đánh cho một trận nhừ tử vào ban đêm, người thì bị Bao gọi lên trụ sở nhốt qua đêm. Kẻ thì bị ném gạch đá vào nhà vỡ cửa, vỡ ngói.

    Khi Bao bị bắt, cả lành kéo nhau đến xem, ai cũng sung sướng hớn hở. Nhiều người còn hét lên đề nghị tử hình Bao. Những kẻ như Bao là mối nguy hại của xã hội mà qua thanh tra, thanh sát đã phát hiện ra nhưng còn một mối nguy hại cũng không kém mà công an huyện, công an tỉnh cần có giải pháp cấp bách. Đó là không ít các cán bộ chủ chốt của xã như bí thư, chủ tịch đã dùng lực lượng công an xã làm thứ công cụ phục vụ cho lợi ích riêng tư của bản thân, gia đình hoặc cho những quyết sách sai trái. Chính vì vậy mà tình trạng mất dân chủ đã xảy ra ở nhiều nơi. Tại xã Toàn Thắng, bí thư xã Trần An Thịnh đã ra lệnh cho công an xã đập bỏ bức tường mà nhà ông Hạnh ở cạnh nhà, xây ngăn cách vườn giữa hai nhà. Mặc dù ông Hạnh đã chịu thiệt chỉ xây trên phần đất của mình và trước khi xây ông cũng đã có lời với ông Thịnh. Nhưng ông Thịnh không nghe, lý do con chó nhà ông hay sang chơi với con chó nhà ông Hạnh, nay xây bức tường, con chó nhà ông sẽ không có bạn để chơi. Ông Hạnh viết đơn kiến nghị ra xã nhưng nào ai dám giải quyết khi người bị kiện là ông bí thư, ông lại gởi đơn lên huyện đi lại cả chục lần cũng không xong, cuối cùng ông đành bán rẻ nhà để đi nơi khác.

    Chủ tịch xã Đại Đồng- Nguyễn Viết Xuân sử dụng cả lực lượng công an xã vào bất cứ việc công, việc riêng nào mà ông thích. Có lần ông sai hai công an xã đi bắt nợ hai con lợn của một người dân, vì người này vay tiền nặng lãi vợ ông, mới trả vốn mà chưa trả lãi. Lần khác ông bảo trưởng công an xã là cháu họ ông, mang súng đến nhà một đảng viên đe dọa, bắn ba phát đạn lên trời cảnh cáo vì ông này có ý định rủ người lên tận Trung ương để kiện ông vì tội tham ô, cửa quyền. Rồi con trai ông cưới vợ, ông làm hai trăm mâm cỗ, điều tất cả công an xã đến bảo vệ cho đám cưới từ tối hôm trước cho đến lúc đám cưới xong. Trước phòng làm việc của ông lúc nào cũng có một công an xã đứng lảng vảng canh gác. Hễ ông đi xuống xóm nào làm việc, đều phải có công an xã đi theo bảo vệ.

    Qua điều tra cho thấy, để nắm giữ, sử dụng được lực lượng công an xã, những cán bộ chủ chốt đều đưa người nhà, họ hàng hay phe cánh của mình vào giữ chức trưởng phó công an xã. Chính vì vậy thay vì phục vụ nhân dân thì công an xã ở những nơi này lại đi phục vụ quyền lực và phục lợi ích cá nhân cho bí thư, chủ tịch xã. Sự lợi dụng chức quyền, vi phạm dân chủ đã được công an tỉnh, báo cáo bằng văn bản cho tỉnh ủy, ủy ba nhân dân tỉnh để sớm có giải pháp xử lý, ngăn chặn.

    - Mẹ! Mẹ ơi!

    Bé Tường Vân đang ngủ bỗng giật mình giật mình thức giấc, khóc gọi mẹ. Hiền bỏ chiếc quần đang khâu, chạy lại vỗ vỗ vào lưng nó:

    - Ngủ đi con, mẹ đây, mẹ đây!

    Con bé mở mắt, nhìn thấy Hiền, nó hờn dỗi:

    - ứ, mẹ Lan cơ! Gọi mẹ Lan cơ!

    Hiền dỗ mãi, hết lấy kẹo, đồ chơi đưa cho nó nhưng con bé vẫn khóc đòi mẹ. Hiền khóc theo, làm sao có thể tìm được người mẹ xấu số của nó đã yên nghỉ trong lòng đất vì căn bệnh ung thư cổ tử cung. Hiền lên phòng văn thư công an tỉnh làm được hai tháng thì mẹ nó chết. Từ đó Hiền thay mẹ nó chăm sóc con bé. Nó tuy đã quen với Hiền nhưng trong tâm hồn con bé, hình bóng của mẹ vẫn không phai mờ.

    Hết cách mà con bé vẫn không nín, Hiền đành bế nó sang phòng của bố nó ở dãy tập thể bên kia. Con bé sà vào lòng bố tiếp tục khóc đòi mẹ. An dỗ con bằng đôi mắt rưng rưng. Một lúc sau con bé ngừng khóc và ngủ thiếp đi trên vai An. An đặt con bé lên giường, quay sang bảo Hiền:

    - Em về ngủ đi, khuya rồi, để nó ngủ ở đây với anh cũng được.

    Nói xong, An không kìm được lòng vì đau khổ, nước mắt An tuôn ra đầm đìa. Hiền vốn yếu đuối, bệnh tình tuy đã giảm nhưng trong thâm tâm vẫn còn bị ám ảnh mạnh mẽ, mình là kẻ đã bị hiếp dâm nên khi lần đầu tiên trong cuộc đời nhìn thấy đàn ông khóc, Hiền bị xúc động giữ dội. Căn bệnh hoang tưởng, sự xúc động và tình thương cùng một lúc trỗi dây trong Hiền. Cô nghĩ mình chẳng còn trong trắng nữa, chẳng còn xứng đáng với tình yêu của Đại, thôi thì chấp nhận làm vợ An để cứu lấy con bé Tường Vân. Hiền đi lại bên giường, ngồi xuống cạnh An, ôm lấ bờ vai An:

    - Đừng khóc nữa anh, em sẽ làm vợ anh, thay chị ấy nuôi bé Tường Vân.

    An trợn mắt nhìn Hiền:

    - Nhưng em yêu Đại cơ mà?

    - Em yêu Đại, song em đã bị hiếp dâm, em không còn xứng đáng với Đại nữa.

    Sai lầm của ông Giang là khi mượn con bé Tường Vân để chữa bệnh cho Hiền, ông không nói rõ ngọn ngành nguyên nhân gây nên căn bệnh tâm thần của Hiền, nên khi nghe Hiền nói, An tin. An sững sờ trước lời nói của Hiền, muốn nói điều gì đó mà lắp bắp mãi chẳng thành lời. Hiền ngồi quá sát người An, đôi bầu vú thỉnh thoảng lại cọ vào vai làm cho người An dậm dật. An xoay người lại, bất thần ôm chầm lấy Hiền. Những động tác quá quen thuộc với vợ được An áp dụng nhanh chóng với Hiền. Hiền thét lên đau đớn, cào cấu vào mặt An. Hiền gọi tên Đại...

    Tỉnh dậy, nhìn thấy vệt máu trên tấm nệm ga, vệt máu như một thứ thuốc thần tiên làm Hiền hoàn toàn minh mẫn trở lại. Hiền ôm mặt khóc nức nở, cô vội vã mặc quần áo, chạy vụt về phòng. Hiền dắt xe ra, đạp một mạch về làng Thái Hạ.

    Ngôi nhà của Đại vẫn còn ánh điện, Đại đang viết nốt báo cáo thì giật mình bởi tiếng đập cửa. Đại vội vã mở cửa.

    - Hiền! Đại chỉ kịp thốt lên một tiếng thì Hiền đã lao vào ôm chầm lấy Đại nức nở:

    - Đại ơi! Em có tội với anh. Em vừa đánh mất cái quý giá nhất với An!

    " Lấy độc trị độc", Đại sực nhớ đến lời của Hường trong mơ khi Đại ngủ quên ở bờ đê. Phải chăng điều đó đã làm cho Hiền thực sự trở lại như xưa? Đại vuốt mái tóc rối bời trên bờ mặt Hiền, giọng run lên vì xúc động:

    - Nín đi, lỗi là do anh. Em khỏi bệnh là anh hạnh phúc lắm rồi!

    Hiền ngừng khóc, cô run rẫy kiểng chân lên hôn Đại, nụ hôn y hệt nụ hôn lần đầu tiên mà Hường giành cho anh.








© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả gởi từ Hà Nội ngày 24.04.2012.
. Trích đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com.