Quả Xoài Tháng Tư





Từ thủa cắp sách đến trường, chúng tôi đã được tập đồng ca:

“Miền nam em dừa nhiều
Miền nam em dứa nhiều
Miền nam em xoài thơm
Miền nam em khoai bùi…”

“Chú ơi chú, bao giờ bao giờ
Cho em hái dưa, hái dừa, đào khoai
Gửi sang Đông Đức
Tặng bạn của em!”

Với niềm mong ước đến ngày thống nhất thì được vào Miền Nam tha hồ hái xoài , ăn dừa và gửi hoa thơm quả ngọt sang tặng cho bạn bè ở tận bên Đông Đức Châu Âu

Ngày ấy, quả dứa, quả dừa và củ khoai lang chúng tôi cũng chẳng lạ gì. Cây dừa tuy có hiếm hơn nhưng cứ ra khỏi Hà Nội là có thể lạc vào một số làng dừa xum xuê không kém gì rừng dừa trong Nam. Hồi ấy, các anh chị phụ trách cho chúng tôi đi cắm trại với chủ đề “Chúng em đi thăm Miền Nam” là được hành quân đi tàu điện đến Cầu giấy rồi cuốc bộ đến tận làng dừa Sấu Giá, trú quân nấu cơm, đốt lửa trại trong sân đền Giá. Sau này, Thầy Trần Quốc Vượng giảng cho mới vỡ ra rằng những ngôi làng có tên Sở , có vườn dừa, có giếng vuông thì ít nhiều đều có liên quan đến các khu cư trú của các nghệ nhân Chăm thời xưa được đón ra để xây dựng cung thành từ đời Lý. Lạ thật, trong các làng ấy, dừa thì nhiều, tuyệt không thấy cây xoài nào cả.

Ở Ngoài Bắc, có một thứ cây họ hàng gần với cây xoài đó là cây muỗm. Muỗm là thứ cây to, thân lớn có cây ba bốn người ôm không xuể và thường được trồng trong các vườn chùa. Những hàng muỗm ở Chùa Láng hay trong khuôn viên Văn Miếu Hà Nội là những kiến trúc phong cảnh tuyệt vời. Cổ thụ muỗm là một bộ phận không thể thiếu của tổng thể kiến trúc hài hòa đã được các kiến trúc sư tài hoa thủa xưa gây dựng từ cái thủa xây chùa. Cây muỗm ngoài Bắc ra hoa vào cuối đông đầu xuân và đậu quả vào mùa hè. Quả muỗm có vị chua chứ không ngọt lịm như xoài. Quả xanh thì để nấu canh chua. Quả chin chấm muối ớt ăn có vị chua dơn dớt, ngon đặc biệt. Tuy nhiên, không phải năm nào muỗm cũng ra quả. Nhiều năm, vào lúc ra quả non, gặp cơn rét nàng Bân là quả bị thui rụng hết. Năm ấy muỗm mất mùa. Các cụ bảo cây muỗm có gốc từ đất Phật bên Ấn Độ được đem về trồng trong các chùa ở xứ ta nên ở Miền Bắc tuy cây sống khỏe nhưng ra quả thì mùa được, mùa không.

Cây xoài là cây không chịu lạnh nên nó chỉ phát triển được trong Nam thôi. Bởi thế, xoài là thứ quả hiếm. Xưa kia muốn ăn xoài thì phải đem từ trong Nam ra chứ ngoài Bắc tuyệt không thể trồng xoài ra quả vì nó kém chịu lạnh. Nghe nói bây giờ các nhà khoa học đã lai tạo dược các giống xoài mới có thể ra quả ở Miền Bắc nhưng đấy là chuyện giống mới. Chỉ biết rằng trước đây nó chỉ ở Miền Nam nên cái thứ quả ấy với dân Bắc là qúy lắm. Qúy đến nỗi xưa kia chỉ có vua chúa mới được ăn mà thôi. Vua yêu ai thì thưởng cho quả xoài , được cho ăn xoài của vua là qúy lắm. Là một ân sủng lớn.

Chúng tôi lớn lên mỗi người một ngả. Cả ba em trai tôi đều trong quân ngũ vào Nam chiến đấu. Bố tôi tuy không phải bộ đội nhưng ông cũng tham gia chiến trường theo quân Giải Phóng đi hết Quảng Trị vào Huế rồi lên Pleiku…Ngày giải phóng ông trở ra Bắc, hành trang ngoài cái Ba lô, một cái sur von tơ để nâng điện thế vì lúc ấy điện Hà Nội còn phập phù và yếu lắm. Không có cái sur von tơ thì đèn đỏ đòng đọc không sáng nổi. Ông đem ra con búp bê cho lũ cháu, cái xẻng công binh để làm vườn và cả một túi xoài to để dâng cúng trên bàn thờ tổ tiên và cúng xong xin lộc cho các con các cháu mỗi người hưởng một chút quà qúy từ phương Nam xa xôi.

Nhân lúc ăn xoài , ông kể lại cho chúng tôi chuyện xưa mà sử sách đã chép về đời các vua Trần.. Cụ dở Sử Kí ra đọc:

Tha tội cho tiểu hiệu Hoàng Cự Đà. 
Trước kia có lần vua ban xoài cho những người hầu cận, Cự Đà không được ăn. Đến khi quân Nguyên tới Đông Bộ Đầu, Cự Đà ngồi thuyền nhẹ chạy trốn. Đến Hoàng giang gặp hoàng thái tử đi thuyền ngược lên, Đà lánh sang bờ sông bên kia, thuyền chạy rất gấp. Quan quân gọi lớn: "Quân Nguyên ở đâu". 
Cự Đà trả lời: 
"Không biết, đi mà hỏi những người ăn xoài ấy". 
Đến đây, thái tử xin phép Cự Đà vào cực hình để răn những kẻ làm tôi bất trung. Vua nói: 
"Cự Đà tội đáng giết cả họ, song đời xưa đã có chuyện Dương Châm không được ăn thịt dê, đến nỗi làm quân nước Trịnh bị thua . Việc Cự Đà là lỗi ở ta, tha cho hắn tội chết, cho phép hắn đánh giặc chuộc tội". 

Chuyện bố kể cho chúng tôi ngày tháng tư năm ấy thấm thoắt đã 37 năm rồi. Chúng tôi đã lên ông lên bà. Các con cháu tôi bây giờ nhìn quả xoài đủ loại bán đầy đường đầy chợ chẳng có đứa nào lạ cả. Có đứa khảnh ăn, bố mẹ chúng dỗ mãi nịnh mãi mới ăn cho một miếng cho nó có thêm Vitamine. Chúng sướng hơn lũ chúng tôi thời xưa nhiều lắm nhưng cũng chẳng mấy đứa biết chuyện “hỏi những người ăn xoài ấy” và chuyện của cha ông xưa đã hy sinh gian khổ, sống giản dị và thanh bạch ra sao.

Tôi muốn viết lại chuyện xưa để nhắc nhở con cháu rằng: Sống trên đời phải công bằng . Làm vua làm quan phải biết lỗi mà tự sửa mình. Đừng để đến khi có họa mới nhận ra cái mầm họa nó có từ bao giờ mà không ngộ ra.

Giật mình nhớ lại câu của cụ Hồ “không sợ thiếu chỉ sợ không công bằng”…có lẽ mọi hiểm họa là do đấy mà ra cả.


_________________________________________

Hà nội 23-4-2012
© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật ngày 23.04.2012 theo nguyên bản của tác giả gởi từ Hà Nội.
. ĐĂNG TẢI LẠI VUI LÒNG GHI RÕ NGUỒN NEWVIETART.COM .