
MẮT TRINH SÁT
Đa được bầu vào Huyện uỷ. Huyện tăng cường về làm chủ nhiệm Hợp tác xã Chiến Thắng. Bị Bắc giáng quả nốc-ao vào mặt giữa ngã ba đường làng. Xấu hổ với dân, Đa lủi vào trong ngõ. Bấy giờ chỉ có một số người chứng kiến ai nấy xem ra hả hê lắm! Bà lão mắt hom hem ngước lên không thấy Đa, bảo: - Thằng Đa phen này quỵ hẳn! Một người từng trải bảo: - Hắn có cây đa cây đề trên huyện to lắm, không dễ gì hạ được. Người thì lại lo lắng cho Bắc: - Không khéo keo này lão Bắc tù! Bắc lên trần tình với Tá, Trưởng Công an xã: - Tôi đã phạm tội đánh người, thưa ông! Tá hỏi: - Ông đánh ai? Một quả nốc-ao vào mặt ông Đa. Nhưng may cho ông, ông không đánh người đang thi hành công vụ. Khi nào ông Đa khởi kiện, Uỷ ban sẽ mời ông lên giải quyết. Còn bây giờ, ông cứ lại đằng nhà đã. Nhưng ông chớ có gây mất trật tự công cộng, khó cho công an xã phải còng tay ông. Bắc thành thật với Tá: - Tôi đòi được món nợ cho bà xã đội phó cơm nhà vác tù và hàng tổng, món nợ danh dự không thể không cho nợ. Tá nói: - Công an xã không bắt ông mới là cái khó cho tôi. Ông to gan thật Ở làng này, chưa một ai dám đụng đến cái lông chân ông Đa. Bắc nắm tay Tá: - Ông khen quá lời. Bây giờ tôi đang là người có tội. - Chuyện đâu có đó.Ông cứ yên tâm về nhà nghĩ ngơi.  Đa là con trai độc của một gia đình có công với cách mạng. Hòa bình lập lại, Đa được xã quan tâm cử đi học lớp Dân vận do huyện mở. Học xong, về làng được kết nạp đảng, làm Bí thư Chi đoàn. Hai năm sau, được bầu làm Bí thư Chi bộ. Người làng sợ Đa một vành. Gặp Đa phải cúi mặt chào bằng ông. Đa sai dân quân Thuốt đi nghe ngóng, phát hiện thấy ai thắc mắc hợp tác xã, nói xấu cán bộ ra lệnh bắt ngay. Phạm nhân tay bị còng số 8, tạm giam vào kho hợp tác xã. Dân phản ảnh lên tòa báo tỉnh. Ban biên tập cử nhà báo Sỹ Hộ về điều tra, xác minh ý kiến dân phản ánh là đúng sự thực. Báo đăng bài thơ châm biếm: Chuyện đâu có chuyện ngược đời/ mới hai bẩy tuổi bắt người gọi ông/ việc cần phải đến cửa ông/ mà gọi bằng bác là không ổn rồi/ ra đường chậm hỏi, chậm mời/ lấy danh tư pháp lệnh đòi dân lên/ khép tội coi nhẹ chính quyền/ bắt làm kiểm điểm đi đền dân công/ làng La, tổng Mọc biết không? Đa sai người thu hết những tờ báo ấy. Và, tìm cho bằng được tác giả bài thơ châm biếm. Tóm được hắn, nhưng tức nỗi, hắn không phải là người làng. Không có cớ gì bắt hắn, Đa phải qua tay viên công an làng Khê, viện lý do hắn trốn tránh nghĩa vụ dân công thụ giải lên huyện. Sau đó, làng này lại xảy ra một chuyện không hay: Lão Văn Chi không biết ma xui quỉ khiến thế nào lại bảo cha Đa dẫn Tây về đào hầm nuôi Việt Minh ở nhà lão. Lão không bị còng tay, không bị giam vào kho hợp tác xã vì Đa còn nể mặt hai anh lão là liệt sỹ chống Pháp. Nhưng lão bị đưa đi cải tạo lao động dân công và, nửa đời lão phải mang cái lý lịch tên nhân văn giai phẩm nguy hiểm, không được ra khỏi làng, phải bán mặt cho đất, bán lưng cho trời. Tá lên làm Trưởng Công an xã xác minh. Lão được minh oan, cho đi dạy học ở trường Tiểu học dân lập tại làng La Cha Đa có một sào đất thổ cư, trước khi chết, ông gọi hai thằng con lại giối giăng, chia thổ đất ra làm ba phần, Đa được hai phần vì là con trưởng, thằng út được một phần. Sau khi cha chết, Đa tống khứ thằng em đi biệt tích, chiếm cả thổ đất ấy xây ngôi nhà hai tầng, to nhất xóm Nam. Đa cúng cha giỗ mẹ tại ngôi nhà đó. Lâu lắm rồi, người làng không thấy anh em nhà họ cúng cha giỗ mẹ với nhau. Không ai để ý chuyện nhà họ xử với nhau theo kiểu dao búa thế nào, chỉ biết rằng chúng cãi nhau như mổ bò.  Dân làng La kể lại, có một người trông thấy dân quân Thuốt đi làm đồng về ướt như chuột lột, cái áo phin mỏng dán vào bộ ngực hiện rõ hai cái núm vú như hai quả táo chín, Đa run lên bần bật, mặt đỏ bừng, xô đến, bắt lột áo ra. Đa chỉ ngắm thôi, không đụng chạm thân thể người con gái cùng họ. Ông chú gọi thằng cháu láo toét, lọc ra đánh ba roi vì tội loạn luân. Đa vẫn chứng nào tật ấy, gần phụ nữ là nổi máu cuồng si, kể cả người trong dòng tộc. Tá bảo hắn: - Chết vì nước, vì dân thì vinh, chết vì gái thì nhục. Đa không chịu tu tỉnh, vẫn chứng nào tật ấy, mới bị quả nốc ao của lão Bắc. Quả nốc-ao ấy làm cho lãnh đạo huyện thất vọng về Đa. Họ không hy vọng gì ở Đa đem kinh nghiệm chỉ đạo hợp tác xã sau khi thực hiện Luật Hợp tác xã. Người làng La cảm thông với Bắc khen ông biết giữ gìn hạnh phúc gia đình mình bằng cách ấy, cũng cho là được. Tá thì nói thẳng băng: - Cả bàn dân thiên hạ người ta biết Đa bị quả nốc- ao vì tội tằng tịu với phụ nữ có chồng, là dâu họ, huyện không bưng bít được. Chuyện Đa ở lại hay rời khỏi làng là quyền của tổ chức bề trên, dân làng không cần biết vì phải lo làm, lo ăn. Bắc thì đã sẵn sàng vào tù để giữ lấy danh tiết cho vợ. Một hôm Bắc hỏi vợ: - Tôi hỏi thật mình, đã có lúc nào mình mềm lòng chưa? Liên gục đầu vào vai chồng: - Em không hề biết Đa mê em và mê em vì cái gì! Em coi Đa là chỗ họ tộc. Chưa bao giờ em làm điều gì sai, mất phẩm giá. Anh có tin em không? Bắc bảo: - Tin. Liên âu yếm: - Đời em chỉ có anh và con. Gia đình chúng ta là chỗ dựa của em. Em phải giữ gìn. Bắc ôm vợ vào lòng, nói: - Thôi, quên chuyện Đa đi. Ta nói chuyện về ta đi em. Chuyện của họ: Anh bộ đội về làng, để lại chiến trường con mắt trái và ngón trỏ của bàn tay rái. Người anh suy kiệt vì sốt rét ác tính và thiếu máu trầm trọng. Sức khỏe anh đang trong tình trạng nguy ngập thì Hội phụ nữ xã đứng ra phát động phong trào tình nguyện chăm sóc thương binh.Cô gái trẻ măng xung phong nhận anh về nhà nuôi dưỡng. Lo bữa ăn cho anh đủ chất dinh dưỡng hàng ngày đã là việc đầy khó khăn thử thách đối với cô. Nhưng điều làm cho lo sợ thần chết cướp mất anh chính là những cơn sốt rét tái phát. Cô cảm thấy lúc này hơn lúc nào hết, anh cần hơi ấm tự trái tim, chỉ có thế, bệnh tình anh mới bị đẩy lùi.Cô đã không ngần ngại lấy thân mình ấp ủ anh. Sức mạnh kỳ diệu, sức mạnh của lòng nhân ái, của đức hy sinh cao cả của người con gái đã giúp anh thương binh chiến thắng bệnh tật. Sức khỏe anh dần dần được hồi phục.Và, tình yêu đến với họ thật ngọt ngào. Rồi họ thành vợ thành chồng. Làng xóm còn nghèo. Người gánh rạ, kẻ nắm lạt gom góp giúp họ dựng lên một túp lều tranh cho hai trái tim vàng. Năm tháng bện tình yêu họ chặt lại. Họ sinh con gái đầu lòng. Cái tổ ấm giàu lòng nhân ái, trọng danh dự. Họ đã sống một cuộc sống tốt đẹp ngay trên mảnh đất chôn nhau cắt rốn. Bởi thế bất cứ ai, bất cứ lực cản nào cũng không thể chia cắt họ. Sức mạnh đó đủ để anh thương binh thêm nghị lực giáng quả nốc- ao vào mặt Đa.  Đa đóng chặt cửa, không quan hệ với bất cứ ai, kể cả những người thân thích họ hàng, những người phải tiếp xúc giải quyết công việc hàng ngày. Khi có tiếng gõ cửa, Đa hé mắt nhìn ra, biết người đó không thể từ chối gặp, mới mở một bên cánh, đủ để cho khách vào rồi đóng sập lại ngay.Hồi làm Bi thư Chi bộ Đa là người của công việc am hiểu con người, biết rõ chất đất, tường tận cây trồng, vật nuôi, thông thuộc mọi nơi, mọi chỗ. Đó là một cán bộ có nhiều kinh nghiệm sống, giúp ích cho mọi người trên đường đời. Một người như thế mà bị người ta tống quả nốc- ao vào mặt giữa thanh thiên bạch nhật, phải cúi gằm mặt mà đi. Thể diện còn đâu nữa để dẫn dắt người làng đến chỗ có cơm ngon ăn, có áo đẹp mặc, con cái có học hành tử tế? Khi c ó quyền thế trong tay, Đa quen thói gia trưởng, lộng quyền, coi thường cấp dưới, hống hách với dân. Đối với cấp trên thì xun xoe, xu nịnh. Đa có lỗi lầm như vậy, tại sao đã có một thời được cử làm Bí thư Đảng ủy, và trước khi tăng cường về hợp tác xã làng La đã có chân trong Huyện ủy? Tại sao người ta lại bưng bít những thói hư, tật xấu của Đa để bây giờ xảy ra cơ sự này? Đó là lỗi tại ai? Bí thư Đảng uỷ Lanh muốn phế truất Tá khỏi chức Trưởng Công an cho Vụ, thằng em ruột ngồi vào cái ghế đó, nhưng chưa có cơ hội. Nhân thời cơ đến, Lanh giao luôn cho Tá điều tra làm rõ mối quan hệ giữa Đa với Liên. Không phải tin Tá, một người công tâm, ngay thẳng mà chính là Lanh mượn tay Chủ tịch huyện hạ Tá. Tá biết nếu anh đưa vụ việc Đa ra ánh sáng, tất sẽ đụng đến Chủ tịch huyện, người được Đa cưu mang lúc cơ hàn, anh sẽ bị trả giá. Như vậy, ngoài Bí thư Đảng uỷ Lanh và Đa, anh còn thêm một kẻ thù đầy quyền lực nữa, đó là Chủ tịch huyện. Nhưng là người từng vào sinh ra tử đối mặt với kẻ thù cận kề cái chết trong lòng địch, Tá chấp nhận và sẵn sàng chấp nhận cái giá phải trả cho sự công bằng. Một tháng sau. Tá báo cáo trước Đảng uỷ: Đa ngấm ngầm săn đuổi Liên từ lâu. Liên vẫn cư xử tốt, nhưng cái khoảng cách tình cảm thì cứ sâu vậy. Ngay cả khi Đa xác nhận bố Liên là người có công với kháng chiến chứ không phải là đầu hàng địch, Liên vẫn cự tuyệt. Đa càng lấn tới. Với cái cớ chi bộ phân công giúp đỡ Liên, Đa tìm mọi cách gặp gỡ Liên thường xuyên, thậm chí cả trong đêm khuya khoắt vẫn không lay chuyển được Liên. Không thực hiện được ý đồ đen tối, Đa không úp mở, nói trắng ra. Nếu cô chiều tôi thì con đường vào Đảng của cô không còn cản trở nào hết. Và sau khi trở thành đảng viên, tôi sẽ cho Liên làm xã đội trưởng. Liên vẫn không tâm phục khẩu phục. Đa hăm dọa. Không chỉ mình cô không ngóc đầu lên được, mà cả thằng chồng cô nữa, cũng sẽ bị vùi xuống tận bùn đen, một khi cô chống lại tôi. Cô biết rồi đấy, Đa này không xá bất cứ một ai khi đã bị phản bội. Chứng cứ rành rành ra đấy, Đa không thể chối cãi. Sau khi nghiêm khắc kiểm điểm trước Chi bộ, Đa bị kỉ luật cảnh cáo và điều về huyện. Bí thư Đảng uỷ không thể cứu được người đã dày công vun đắp sự nghiệp cho mình. Dân làng La vỗ tay bảo: - Ông Tá loại được một phần tử thoái hóa, biến chất ra khỏi làng là may cho cả làng chứ không phải may cho riêng một ai.  Bí thư Đảng uỷ Lanh với Đa là chỗ họ tộc. Nhờ có bàn tay thép của Đa can thiệp, Lanh mới được kết nạp đảng và chính Đa đã sắp xếp cho Lanh vào cấp uỷ rồi tâng lên Bí thư Đảng uỷ trot lọt mà không gánh chịu bất kỳ hậu quả nào kể cả khi Lanh dẫn con bé mười lăm tuổi đi ăn sương. Chưa hạ được Tá, người ức nhất là Lanh chứ không phải chỉ Đa. Trong cuộc đối thoại diễn ra tại trụ sở Uỷ ban vào lúc đã vãn chiều. Đa nói với Bí thư Đảng uỷ Lanh: - Theo sách Tàu, nhổ cỏ một lần không thể sạch. Nhổ xong lần đầu, phải tưới cho cái rễ nó lên mầm rồi nhổ tiếp. Mất cái rễ cái, chưa hẳn đã hết rễ con. Lại phải tưới, lần này tưới đậm hơn cho cái rễ con lên mầm nhanh, bấy giờ nhổ mới sạch hết cỏ. Ông hiểu tôi nói chứ? Vậy thì, muốn gạt hẳn Tá ra khỏi chính trường, ta phải đá hất hắn lên làm bí thư. Bất quá hắn trụ được một năm. Bấy giờ gạt hắn ra khỏi Ban chấp hành Đảng ủy dễ như trở bàn tay Lúc ấy, chẳng cần đuổi hắn cũng phải chọn chước tốt nhất là nghỉ hưu. Như vậy, ngay bây giờ, ta phải tính kế dọn ghế cho Vụ đã. Ông hiểu tôi nói chứ? Khóa tới, Vụ làm Trưởng Công an. Ông phải thu hồi thổ đất 500 mét vuông của Vụ lấn chiếm công thổ để dân họ thấy sau khi phê và tự phê Vụ đã chuyển biến tích cực. Sau khi có chủ trương của huyện giao đầm cho dân nuôi trồng hải sản, ông giao cho Vụ mười vạn mét mặt nước, đố thằng nào dám cãi. Vụ không từ chối. Tôi nói sai, ông kê cổ tôi lên thớt mà chặt. Đó là thế để Vụ đứng hẳn về phía chúng ta. Dẫn chứng và lý lẽ của Đa có sức thuyết phục mạnh đối với Bí thư Đảng uỷ Lanh. Không có điều gì phản bác lại Đa, Lanh nghĩ đến đận Tá tố cáo mình vi phạm Luật đất đai, vi phạm nguyên tắc tài chính của Nhà nước mặt tím lại như quả bồ quân. Lanh cho rằng, Tá định kiến tư thù cá nhân, cố ý làm cho mình mất uy tín. Mối quan hệ giữa 2 người chẳng ngọt chèo mát mái cho nên Bí thư Đảng uỷ Lanh thật sự vào cuộc, đứng hẳn về phía Đa. Không đơn độc vì tranh thủ được một số người cánh Đa ủng hộ, Bí thư Đảng uỷ kiêm luôn chức Chủ nhiệm hợp tác xã Chiến Thắng nắm vận mệnh làng xã. Thiếu vắng vai trò chủ đạo trực tiếp của Đa, về phương diện nào đó, thật sự khó khăn đối với Bí thư Đảng uỷ Lanh, nhưng bù vào đấy đã có trưởng ban tổ chức đảng uỷ cũng là những tay có vai vế trong họ tộc, cả ngoài xã hội. Nhìn trên phương diện tổ chức công khai, người làng La thấy Bí thư Đảng uỷ Lanh thế đang mạnh, chỉ có những người am hiểu công tác tổ chức cán bộ thì họ lại cho rằng, nhóm lợi ích Lanh đang gặp điềm gở. Khối đoàn kết bắt đầu bị rạn nứt, niềm tin đối với dân làng bị giảm sút, nhất là sau khi Bắc cho Đa quả nốc- ao. Bí thư Đảng uỷ Lanh đang tạo thế chân kiềng, gạt Tá ra khỏi vị trí Trưởng Công an, thâu tóm toàn bộ quyền lực trong tay, khi trụ vững, sẽ tạo cơ để Đa trả thù Bắc.  Tá không ngờ Đa bị kỷ luật phải điều về huyện được 1 tuần, Bí thư Đảng uỷ Lanh đã tính nước cho bọn tay chân Đa trị Bắc. Nhưng sợ đưa Bắc ra khỏi đầm cá để chuyển lên công trường đê huyện sẽ lộ hết chân tướng thù hằn cá nhân. Vả lại, Bắc là người có kinh nghiệm, nhất là việc vật đàn cá bố mẹ làm giống, phải nói cực siêu. Điều Bắc đi sẽ gây thiệt hại về kinh tế cho hợp tác xã, không những thế còn tạo ra sự hoài nghi giữa xã viên với lãnh đạo, làm mất lòng tin đối với xã viên. Vì thế, Lanh còn trù trừ. Đã có lần Lanh định gặp Công an huyện đặt vấn đề chuyển Tá sang công tác văn hoá, nhưng nghĩ lại lại thôi. Một hôm có một người họ Trần nói với Tá: - Nếu cánh Bí thư Đảng uỷ Lanh đứng hẳn về phía Đa thì Bắc phải liệu thần hồn. Người ấy lại nói: - Ông mà chủ quan, không khéo cũng về vườn sớm. Tá kiềm chế, không biểu hiện gì lạ để tránh con mắt cú của Lanh tránh bất trắc. - Cháu cứ yên tâm. Chú biết phải làm gì và làm thế nào rồi. Nếu không biết được điều đó thì chú không thể trụ vững trong thời gian qua. Chú sẽ đắc tội với Đảng, với bà con làng mình vì không làm tròn bổn phận. Hiện tại chú là chướng ngại nhất trên con đường tiến thân của họ. Về phần chú, xét thấy, nếu đảm đương chức vụ này không có lợi cho Đảng, cho dân làng, để người khác làm đắc sách hơn, chú sẵn sàng rút. Chú không phải là người tham quyền cố vị Sáng hôm sau người ấy lại khuyên Bắc: - Tránh voi chẳng xấu mặt nào. Chỉ bằng dịp này xã đưa một số bà con đi xây dựng vùng kinh tế mới Quảng Sơn, tôi thiển nghĩ, ông nên đưa gia đình ra ngoài ấy. Tôi sẽ tạo điều kiện giúp đỡ ông hết lòng. Tôi tin ông là người có chí. Ông sẽ làm ăn phát đạt. Thế ông đã mạnh, họ có thù ông cũng chẳng làm gì nổi ông. Bắc dứt khoát: - Chú không đi đâu cả, vì chú biết kẻ thù của mình trước đó là người thân thì chú chẳng ngán gì hết. Người ấy không nài thêm, chỉ dặn: - Ông cứ phải cẩn trọng. Bắc nằm vắt tay lên trán suy nghĩ lung lắm. Liên về, Bắc dặn vợ: - Họ đang tính nước hạ anh. Nhưng anh không để họ ra tay trước. Mình phải lo giữ mình. Bắng đi một phiên chợ Đình, vào một buổi chiều, Bắc vừa ở ngoài đầm cá về thì nhận được giấy báo của Chủ nhiệm hợp tác xã bảo ông phải bàn giao ngay công việc đầm cá để lên huyện, tham gia hạp long sông Khoai. Bắc kể lại rành mạch quyết định của Chủ nhiệm cho vợ nghe. Liên hỏi chồng: - Đây có phải miếng đòn tư thù phủ đầu không? Bắc bảo: - Phải!  Bắc đi hôm trước, hôm sau Liên nhận quyết định thôi giữ chức xã đội phó về làm đội trưởng đội sản xuất xóm. - Liên là người ngoài đảng, bố đầu hàng địch, chắc là họ chuyển công tác khác. Đa đã nhận sai lầm trong việc xác nhận bố Liên là người có công với kháng chiến. Hiện nay có hai đồng chí lão thành cách mạng biết rõ việc này. Các đồng chí ấy đã xác nhận. Tá nói. Vì nguyên tắc bảo vệ nội bộ đảng, làm trong sạch đội ngũ cán bộ cốt cán. Sau khi nhận được bản xác nhận bố Liên là ông Đỗ Văn Lương, năm 1949, ngày 16 tháng 4 ra đầu hàng địch của hai cán bộ lão thành cách mạng, Bí thư đảng uỷ Lanh ra quyết định hủy xác nhận của Đa, không thừa nhận bố Liên là người có công với kháng chiến, và xóa tên Liên khỏi danh sách đối tượng kết nạp đảng. Người làng La bảo ông Tá là người can đảm nói lên sự thật, làm việc nghĩa nhân. Tá nhìn lại chữ ký của mình còn sáng rõ, chưa run, cảm thấy tâm còn an, trí còn vững. Nhưng thâm tâm lúc này Tá đã nhận ra rằng, khâu tổ chức cán bộ của làng, xã cần củng cố, đặc biệt về chính trị và tư tưởng..Tá làm Trưởng Công an xã quả thực là quá sức. Công tác an ninh trật tự an toàn còn nhiều bất cập. Tá có lỗi để cán bộ cốt cán, trung kiên phân tán tư tưởng, trước cái đúng chưa ủng hộ mạnh mẽ, trước cái sai chưa kiên quyết đấu tranh, còn nể nang nhất là đối với lực lượng trẻ. Vì lẽ đó, Tá đã định xin rút ra khỏi vị trí này chứ không để đến lúc người ta giao tận tay cái quyết huyền chức. Tá đem nỗi lòng mình tâm sự với những người có tâm huyết cùng lo nỗi mình lo, nhưng vẫn giữ nguyên tắc không để người ta đọc được hết ý nghĩ của mình, phải để người ta trọng chứ không phải để cho người ta thương. - Các cụ mình đã dạy một ngày ta không làm được điều thiện thì cái ác từ đây nó sẽ dấy lên và chính mình bị hại trước. Mấy năm gần đây, nhiều cán bộ làng La đã lợi dụng việc phục hóa, mở rộng diện tích canh tác và đất ở để lấn chiếm đất công. Họ không chỉ vơ vào cho mình mà còn bật tường cho con cháu, họ hàng thân thích xà xẻo đất tập thể. Họ mua đi bán lại đất đai bất hợp pháp, có người thu lợi hàng trăm triệu đồng. Lãnh đạo xã biết, nhưng làm ngơ. Khi người dân lương thiện phát hiện, tố cáo thì không ai khác mà chính người có chức, có quyền có trách nhiệm phải giải quyết lại trù dập họ. Chính Bí thư Đảng uỷ Lanh lấn chiếm đất công nhiều nhất và cũng là người có tài biến tướng cho người khác lấn chiếm đất công nhiều nhất? Theo số liệu Tá nắm được, trong số những người lấn chiếm đất công, người thì đem bán ngay, người thì đổi chác, và cũng có đến ba bốn cò đất phất nhanh, giàu trông thấy. Những trường hợp này không bị xử lý nghiêm minh thì xử lý sao được các trường hợp khác? Thế là đành ngơ đi, để lâu cứt trâu hóa bùn, rồi hòa cả làng. Đã có lúc mềm lòng, Tá cảm thấy mình bị mất phương hướng, không biết vị trí mình đang ở đâu, không biết mình phải làm thế nào để gỡ mối bòng bong kia. Tá né tránh tất cả, sợ hãi tất cả. Đó là chỗ yếu hèn nhất của Tá. Hôm sau, Tá gặp nhiều chuyện rắc rối, phiền toái. Mấy người trong xóm mua, bán, đổi chác mặt nước không xong, sinh chuyện, lời đi tiếng lại, bé xé ra to, không kiềm chế được, choảng nhau vỡ mặt rồi kéo đến nhà Tá phân bua phải trái. Tá chẳng giúp họ được gì, chỉ bảo họ: - Các ông, các bà không hòa giải được với nhau thì cứ đưa ra Ủy ban Nhân dân xã. Pháp luật xử là công minh nhất. Một người trong đám bán mua đất ấy đứng phắt lên phủi đít quần, đốp thẳng vào mặt Tá. - Ông làm Trưởng Công an xã, chúng tôi là dân đen. Dân đen thì phải trái không tường lắm mới phải cậy cửa ông cầm cân nảy mực. Ông nói thế thì ông làm công an làm quái gì? Hắn quay ngoắt lại xua tay: - Về! Về! Mọi người theo hắn lục tục kéo nhau đi. Tá ngồi một mình trên cái chõng tre mới được thửa lại bằng những cây tre già câng, thẳng đuỗn, chính tay ông đốn, chính tay ông đem ngâm dưới ao. Cái chõng tre mới được quét một nước dầu bóng loáng trông thật chắc khỏe, xinh xẻo. Ông nghĩ ngợi, người rầu rĩ trông đến tội. Ông cũng chẳng giúp được vợ con làm ra tiền. Cả nhà trông vào đôi bàn tay tần tảo của vợ ông trên thổ đất ông cha để lại. Bà vốn con nhà làm vườn, biết lúc phải tỉa cảnh, biết lúc phải chống rụng quả non, biết lúc cho cây phân lân, phân đạm, biết con sâu đục thân ẩn náu để chích mũi dao nhọn lôi nó ra. Người đàn bà ấy biết nín nhịn lúc chồng quát tháo, đảo mắt lườm, mặc dù lỗi ấy lại chính do ông gây ra. Chỉ khi nào còn lại hai vợ chồng, bà đóng cửa lại thủ thỉ bên tai ông. Lúc ấy ông mới nhận ra mình vô lý quá, độc đoán quá, ông lại càng thương vợ, xin bà tha lỗi cho ông. Bà không nói gì, chỉ nguýt ông một cái rõ dài. Cái nguýt ấy, cách đây ba mươi năm, khi ông tỏ tình cưới bà làm vợ, bà đã nguýt thú nhận là bà yêu ông. Sau này thành vợ thành cồng, có với nhau 4 mặt con, có cháu nội, cháu ngoại, khi vui bà vẫn nguýt ông cái nguýt ấy.  Đa là một trong số cán bộ bị kỷ luật rất khó bố trí công tác. Cho nghỉ hưu thì không được vì xét tuổi đời còn thiếu nhiều năm, mà nghỉ không lương dài thế cũng không xong. Bí thư Đảng uỷ Lanh gỡ thế bí cho huyện, làm văn bản đề nghị huyện tăng cường Đa về làng La theo gợi ý của Chủ tịch huyện, mặc dầu cả hai người trong thâm tâm đều không muốn như vậy. Cấp trên đã có ý kiến chỉ đạo, làm trái là không được, bởi đây là vấn đề tế nhị. Nhưng Đa vẫn phải đến có lời với Lanh: - Đánh kẻ chạy đi, không ai đánh người chạy lại.Ông giang tay ra cứu tôi lần này, tôi biết là khó cho ông. Nhưng thử hỏi có việc gì thuộc phạm vi tổ chức mà dễ đâu. Nói thế để ông hiểu cho tôi, trong lúc này, trở lại quê hương bản quán đối với tôi, quả là điều vạn bất đắc dĩ. Lanh đồ chừng vài tháng sau mói có quyết định, không ngờ, nhận được văn bản của địa phương, huyện ra quyết định ngay. Đa lại được tăng cường về nơi bị ngã ngựa với cương vị phái viên của huyện nghiên cứu vấn đề dịch vụ hợp tác xã nông nghiệp. Trước khi Đa nhận nhiệm vụ mới,Chủ tịch huyện bảo Đa: - Sống mà không vấp ngã, cứ đằng thằng mà đi là tốt, nhưng nếu vấp ngã mà đứng dậy được, vững bước thì càng tốt hơn. Anh tái hồi Kim Trọng là để tạo cơ hội tiến thân. . Đa vắt óc ra mới giải được nước cờ Chủ tịch đi thật cao thủ. Thưa quý độc giả thông thái! Chủ tịch huyện điều Đa về công tác ở một cơ quan khác, một xã khác không khó khăn gì, bởi ông quyền thế trong tay, làm gì được nấy. Nhưng làm như thế dễ bị cán bộ hàng huyện người ta dị nghị là o bế, là kéo bè kéo cánh. Điều anh cán bộ tăng cường làm chủ nhiệm hợp tác xã, bị cảnh cáo ở xã này về một cơ quan khác, một xã khác, khác nào đổ bùn sang ao? Ai lạ gì trò đổi chỗ mà những người lãnh đạo trước ông vẫn thường làm. Tính kế điều Đa về làm phái viên nơi anh ta ngã, chính là để vực anh ta dậy. Bằng cách đó nâng anh ta lên là thượng sách! Chẳng ai bắt bẻ một người đã cải tà qui chính.Ở huyện này, chỉ có Chủ tịch huyện mới sử dụng loại cán bộ bị kỷ luật như Đa theo cách yêu cho đòn, ghét cho chơi mà tổ tiên ta đã từng khuyên bảo. Đa mang ơn Chủ tịch huyện đem mồ hôi về chôn xuống đất làng La, lấy lại cái danh đã đánh mất. Phải bắt đầu làm lại từ đầu. Nhưng cứ nghĩ đến quả nốc- ao tím thâm mặt mày thì mối thù Bắc lại nung nấu thêm. Tâm không an nên Đa chẳng nghĩ ra được điều gì để tự an ủi mình khỏi buồn nản, khỏi chống chếnh. Cũng không thấy gì để mà soi, để mà thử, thành ra đến chỗ nào, gặp ai cũng cảm thấy người diễu cợt mình, xa lánh mình. Mất hàng tháng giời thực nghiệm, gặp người thì chào hỏi trước. Già cả kêu bằng cụ, bằng ông, dưới nữa gọi chú, gọi bác, xởi lởi, không kênh kiệu như trước kia mặt vác lên, nghênh ngang. Không ai hỏi móc, nói cạnh khóe nữa, Đa mừng, đỡ hom hem, mắt khô ráo, không đùn dử nữa. Bắc đã nguôi ngoai, cố tự chữa lành vết thương lòng bằng cách tha thứ oán thù như lời cha ông vẫn thường dăn dạy. Liên thấy chồng và Đa cùng ngồi một chiếu giữa họ ngày mồng 6 tháng Giêng Âm lịch hàng năm, cũng vợi đi nỗi buồn và cố gắng tìm mọi cách khoan dung, hòa hợp để nối lại quan hệ họ tộc, làng xóm, gia đình thân thiết. Thời cơ Đa tạ lỗi với vợ chồng Bắc đã đến. Không chần chừ, ngay sau khi giỗ tổ họ về, Đa đến thẳng nhà Bắc, con vện nhà Bắc dữ thế mà nó cứ nguây nguẩy đuôi mừng, lại còn liếm chân khách. Đa cúi đầu: - Thôi thì trước không phải, sau phải vậy, từ nay tôi xin chú thím cho tôi chỗ đi lại lấy cái tình, cái nghĩa dòng họ với nhau. Bắc tra vào nõ điếu mồi thuốc lào Vĩnh Bảo thứ thiệt: - Ông hút với tôi một điếu này. Họ lại mời nhau bát nước vối nóng. Hôm sau, nhà Đa có giỗ kỵ, đích thân Đa sang mời vợ chồng Bắc. Bắc mang cơi giầu, thẻ nhang sang thụ lễ, cùng Đa uống rượu say, mãi xẩm tối mới về. Từ ấy hai nhà đi lại thân thiện như ngày nào. Người làng La bảo: - Đúng là giọt máu đào hơn ao nước lã thật. Bây giờ thì họ đóng cửa bảo nhau rồi. Người họ Trần họ khôn.  Nhưng họ đâu có dễ nhận ra làng La còn lắm ma quái. Người xóm này có người làm ông kia bà nọ, nhìn người xóm khác không có ai dò sào văn sông bằng nửa con mắt, vì họ được bênh vực, được hưởng quyền lợi dù chỉ là củ khoai, mớ rau hơn người cũng sướng rồi. Cán bộ không biết cách bon chen, luồn lách cam chịu nghèo khó thì bị họ hàng khinh trước làng nước khinh sau, bị cô lập không ai thèm chơi, lúc tắt lửa tối đèn chỉ thui thủi một mình. Chẳng biết đến bao giờ cảnh chia rẽ, cục bộ mới bị loại bỏ để lòng người được thảnh thơi, sống chan hòa vui vẻ với nhau như hồi cải cách chia quả thực. Cứ nhìn vào cái chợ đất cũng như ở thị xã Hòn Gai ấy, người tốt phải nao lòng. Người được chia đất vác cái mặt vênh vênh váo váo, rủ rê cán bộ có thế lực giàu có vào quán thịt chó, tâng bốc nhau một tấc đến giời. Người không có ô dù che đỡ, gặt hái xong đã gác bồ, nhìn thổ đất người ta mà rỏ nước miếng, mặt dài ra thở dài. Những người nghèo không được chia đất, không bắt bẻ người có quyền. Cái hố ngăn cách giầu nghèo mỗi ngày một sâu thêm cũng từ đất mà ra.  Sau khi hoàn thành hạp lòng sông Khoai, Bắc được trở lại làm việc ở đầm cá nhưng không còn cương vị đội trưởng mà chỉ là một xã viên chuyên trách nuôi cá đẻ, khâu yết hầu của đội cá. Những ngày bận rộn công việc bù đầu, Bắc ít có thời gian về nhà. Mải mê với cá mú, nhiều khi ăn uống chẳng ra chiều ra bữa, no đói thất thường, thiếu ngủ triền miên. Bắc gầy rộc đi, nhưng vẫn an tâm vui vẻ. Hôm ấy trời ôi bức, Bắc bị hút vào công việc, vãn được một lúc, tạt sang nhà đội trưởng đội cá. Bắc lâm bệnh tại đấy, ngay chiều hôm ấy, gắng gượng về đến nhà thì đổ quật ra, Liên hô hoán người trợ cứu. Khi y sỹ Thủy đến thì Bắc đã tắt thở. Họ Trần đứng ra lo tang lễ. Đa làm Trưởng Ban lễ tang, quyết: Mua cái quan tài đẹp nhất xã, giá một triệu năm trăm nghìn đồng sơn son thếp vàng, đắt nhất thời giá bấy giờ. Mướn đội thợ kèn nổi tiếng nhất xã, công một triệu đồng một đêm thổi, đắt nhất thời giá bấy giờ. Mời pháp sư cao tay nhất xã, dâng lễ mọn một triệu đồng, đắt nhất thời giá bấy giờ. Đúng giờ Thìn, họ Trần tổ chức khâm liệm Bắc ra lễ phát tang. Giai họ Trần bày bộ đồ thờ ngũ sự, gồm một đỉnh hương, đôi hạc, đôi nến và cái lư đồng sáng loáng với đôi bình cổ men rạn, đẹp vào hạng nhất hàng tổng. Đa buộc vào tả, hữu cái án gian mỗi bên một cái tàn thêu long, li, qui, phượng với những dải tua kim tuyến giát vàng óng ánh. Đôi tàn Đa cung tiến, ai cũng khen:đẹp nhất hàng tổng! Chân dung Bắc lồng trong khung kính cỗ lưỡng long chầu nguyệt đặt trước mâm ngũ quả. Người làng La dự lễ tang nhìn vào đôi mắt sâu thăm thẳm dưới hàng lông mày dày, xoăn đen cảm thấy như có điều uẩn khúc, như muốn nhắn gửi. Không ai nén nổi nỗi xót xa thương cảm. Theo phong phục làng La, Bắc không có con trai, họ Trần lập tự Nống con trai người anh cả Bắc. Nống chịu tang chú như chịu tang cha. Đầu giờ Mùi, sân tế được tẩy uế bằng nước hương ngũ vị. Hương án đặt trước tiền sảnh. Theo sự sắp đặt của họ Trần, Đa lĩnh vai đông xướng. Đa, và Lanh thủ vai quan viên du tửu, du hương. Ba biên quan tế xúng xính trong chiếc áo lương đen rộng thùng thình, chiếc quần vải trúc bâu trắng dày như mo cau, đầu đội khăn chụp đen ra tựu lễ. Quan viên đông xướng: - Tự lập, xuất chủ. Nống mặc áo xô có ba dải trước ngực, đầu đội vòng chuối bện, lưng thắt dây bện chuối vào chủ tế. Quan viên đông xướng: - Quán tẩy! Chủ tế đến chậu nước hương ngũ vị đặt trên cái đôn cổ đầu rồng, vén tay áo, nhúng mười đầu ngón tay vào chậu nước, rồi vẩy ba vẩy! Quan viên đông xướng: - Thế cân! Chủ tế lên sửa lại áo khăn chỉnh tề. - Quỵ! Chủ tế quỵ giữa sân tế. Quan viên đông xướng: - Tiến hương! Quan viên du hương tiến hương lên hương án. Quan viên đông xướng: - Cúc cung bái. Chủ tế lễ ba lễ. Quan viên đông xướng: - Bình thân. Chủ tế vái một vái rồi quì. Quan viên đông xướng: - Tiến tửu. Quan viên du tưu tiến tửu lên hương án. Quan viên đông xướng: - Phủ phục. Cúc cung bái! Chủ tế ra ba lễ. Quan viên đông xướng: - Đọc chúc. Một hồi cắc. Một tiếng trống độc. Đó là tiếng trống lệnh miễn lĩnh chúc của lão Thiếu Tổ, nhất nhất phải tuân thủ. Quan viên đông xướng: - Lễ tất. Quan viên tế và chủ tế cùng ra ba lễ. Đúng nghi thức, tế ba tuần rượu cho Bắc kết thúc. Quan viên tế cởi khăn áo ra gấp lại cẩn thận để vào cái tráp vuông sơn đỏ đặt dưới hòm sắc. Từ hàng chiếu giáp ống hoa đỏ, lão Thiếu Tổ râu tóc bạc phơ, tay chống gậy trúc đầu rồng ra tiền sảnh dõng dạc: - Họ ta tế cho ông cố tuần rượu, tuần hương là xứng. Tôi xin ý kiến các chư cụ, chư ông trong họ cho miễn lĩnh chúc. Bây giờ tôi có lời xin quan viên trong họ cho tiếp tục đêm kèn thờ ông vong. Lão Thiếu Tổ lên vị trí chiếu giáp ông hoa đỏ ngồi, mắt đăm dắm nhìn vào cái bài vị. Đám thợ kèm lại phồng mang trợn mắt thổi tò te tí te. Liên rời quan tài, len lén ra chiếu thợ kèn, đặt vào tay lão thợ kèn mù hai mắt mười ngàn đồng bạc.Liên bảo: - Ông ca cho tôi một khúc thật ai oán vào. Lão thợ kèn mù tay rờ rờ tờ giấy bạc đút tuột vào túi ngực rồi hắng giọng: - Ông nó ơi! Vì đâu nên nỗi chia tay đôi ngả? Ông giận tôi hay oán hận đời mà vội rũ áo ra đi không một lời trăng trối? Ông để tôi cay đắng héo ruột rầu gan. Sao ông chẳng bắt tôi đi theo để khuya sớm hầu hạ ông khi mưa giông gió chướng. Hờ ông ơi hời. . . Cứ khúc sầu não ấy lão thợ kèn mù tội nghiệp ư ử gợi khêu nỗi đau chia ly âm dương đôi ngả. Dường như người họ Trần cả đêm thờ người xấu số bạc mệnh chịu chung nỗi đau như kim châm lửa đốt. Hôm sau, đúng giờ Tỵ, lễ an táng Bắc được tổ chức theo nghi thức của lệ làng. Trưởng Ban tang lễ Đa đứng trước linh cữu. Người họ tộc dàn hàng tả hữu bên quan tài. Ba hồi chiêng rền. Tiếng khóc nỉ non ai oán bỗng im bặt. Trần Đố lên đọc lời điếu. Cái giọng khàn đục quen thuộc và đôi mắt ti hí toét kia đã làm tê liệt cảm xúc rung động thương xót người quá cố trong buổi tang lễ buồn đến tột cùng này. Những người dự lễ tang không ai cầm được nước mắt, hoàn toàn không phải vì lời điếu của Đa mà vì lúc sinh thời người quá cố ăn ở với bà con trong xóm ngoài làng rất hoà thuận. Ông là người biết trên kính, dưới nhường, bao giờ cũng nhận phần thiệt về mình. Ông không đố kỵ với bất kỳ ai. Người hơn mình, ông mừng cho họ, người khó hơn mình nếu không giúp được việc to tát, ông cũng góp điều hơn lẽ thiệt an ủi động viên. Ông đã sống hết mình với Hợp tác xã làng La này. Đi bừa, Bắc lo cho từng cái răng bừa chặt, lo cho con trâu có miếng cỏ non. Đi gặt, ông lượm từng lượm lúa, xót xa từng hạt rơi hạt rụng. Về đội cá, ông thức thâu đêm canh kẻ gian, vật cho con cá đẻ đúng kỳ hoa của nó. Ông đã sống và làm việc với đúng nghĩa người làng La đối với người làng La. Đa rưng rưng lệ: - Ông Trần Bắc làm cọc tiêu chặn dòng nước xiết cho đội thuỷ lợi hạp long đê sông Khoai. Trong những ngày ăn cơm thúng, giải lá làm giường, ông là người luôn luôn có mặt nơi xung yếu nhất, bất kể mưa giông chớp giật, bất kẻ dạ đói, cổ khản đau, với mục đích cao cả là hoàn thành tuyến đê ngăn mặn. Ông là người có công trong phong trào khai hoang lấn biển, mở mang một vùng quê mới. Bàn tay chai sạn chưa một lần ngắt ngọn khoai non tơ, đã vội vã ra đi, mang theo cả nỗi đau của họ tộc. Xin bà con trong họ, ngoài làng một phút tưởng nhớ ông. Ông Trần Thơ ơi! Tất cả chúng tôi, những người có mặt tại đây để vĩnh biệt ông, trong lúc đau thương này, xin hứa tiếp tục thực hiện những ước mơ cao đẹp của ông, biến cánh đồng chua mặn thành vùng nông nghiệp giàu có, văn minh, để ông an lòng nơi chín suối! Ô hô! Vĩnh biệt ông! Đoạn kết của lời điếu, Đa đọc có vẻ xúc động thật, khiến người nghe xốn xang. Liên ngất lên ngất xuống mấy lần. Đa phải điều y sỹ Thuỷ túc trực để sẵn sàng cấp cứu người đàn bà bất hạnh. Sau lời điếu của Đa, mười sáu thanh niên khoẻ mạnh đồng phục đen, đầu chít khăn đen, chân đi giầy đen khiêng linh cữu ra đường cái quan đặt lên đòn rồng, tiếp đó là bốn người cùng chi với Bắc, mỗi người một góc khiêng cái nhà ma bằng sắt chụp xuống quan tài. Ba hồi trống lệnh tiếp ba hồi chiêng lệnh, hai mươi tám giai họ Trần chia đều hai bên tả hữu nhất loạt nâng đòn rồng lên vai. Đa thân chinh chỉnh đòn rồng rồi mới thúc lệnh rước. Theo tục lệ làng, cha đưa mẹ đón, Nống đội mũ xô mặc áo xô, lưng thắt lọn chuối, chân đất, đi theo sau linh cữu. Bắc được an táng tại nghĩa trang làng La theo đúng tục lệ làng đào sâu chôn chặt lợi hướng Đông-Nam.Đa dựng cái bia đá, tạc ảnh Bắc với dòng chữ: Trần Bắc (1942-1995). Tạ thế này 18-4 Âm lịch. Dân làng La nể trọng họ Trần đã tổ chức đám ma Bắc trọng thể. Tiếng thơm còn mãi mãi. Bắc mồ yên mả đẹp, Liên mới thật sự cảm thấy đời mình bất hạnh. Sự quan tâm giúp đỡ của mọi người trong họ, của tổ chức, trong đó Đa,có Lanh tận tình chu đáo.Liên có vợi đi nỗi niềm trống vắng, nhưng tự đáy lòng sâu thẳm, Liên coi như mình đã mất tất cả.Người vợ goá thôi cười, khóc âm khóc thầm, hai mí mắt quầng thâm sụp xuống, xanh rớt.  Trước khi Bắc chết, khoảng ba giờ, Bí thư Đảng uỷ Lanh phân công Tá sang Thuỷ Nguyên xác minh lí lịch của một đảng viên dự bị để chuyển lên chính thức.Tá gặp ánh mắt của Lanh, ánh mắt của người quen ra lệnh sụp xuống và sắc mặt bệch ra , giọng nói run run cắt quãng như có điều ẩn chứa khác hẳn mọi khi, điều đó quả thật không bình thường. Bỗng ông gục đầu xuống bàn, thở một cách mệt nhọc, một lúc sau, Lanh bật dậy bảo Tá, đồng chí đi gấp rồi về, sắp tới có nhiều việc quan trọng đấy. Tá quyết định lùi lại chờ Bắc về, nhưng phân vân không báo cho Lanh biết thì Tá gặp Liên. Liên bảo nhà em mấy hôm nay bận vật cá đẻ, chưa sang bác được, có lẽ mai về, nhà em nhất định sẽ,lại đằng bác hẳn là có chuyện gì quan trọng đấy. Linh tính của một cán bộ an ninh, Tá nhận định, trong một giờ đồng hồ xảy ra hai việc trùng hợp, có thể đó là điềm báo có hiểm nguy đang tiềm tàng liên quan đến mình. Tá về nhà, vợ con vừa dọn cơm thì được tin hiểm ác, Tá phi luôn ra hiện trường xảy ra vụ án. Với con mắt của một trinh sát kì cựu,Tá nhận định đây là vụ đầu độc giết người? Lập tức Tá báo cáo công an huyện và mời pháp y về. Nghe thấy Tá đề nghị mời pháp y, Liên khóc rống lên thảm thiết:Người chết thì đã chết rồi. Có mổ xẻ hay làm gì đi nữa cũng không thể sống lại được. Tôi xin các ông, ông ấy đã yên nghỉ, đứng bắt ông ấy phải chết lần nữa. Liên tức tưởi nói. Lan, con gái Liên cũng nức nở: Cháu không chịu nổi khi nhìn các bác, các chú mổ xẻ xác bố cháu. Cháu xin các bác, các chú! Không chờ công an huyện tiếp cận, Tá nhanh chóng truy lùng thủ phạm. Sáu tiếng đồng hồ sau, tên này bị tóm cổ. Y khai nhận làm theo lệnh của ông đội tưởng đội cá lấy cái nồi trước đó nấu lá trúc đào nấu cháo. Nồi cháo cá bắc ra, nhưng đội cá tản mát mỗi người một nơi. Đúng lúc ấy có một người báo cho Bắc biết, Liên dặn, nhà có việc gấp, Bắc phải về ngay. Y bảo Bắc, ăn cháo cá phải ăn nóng, ăn nguội tanh, rồi đưa cho Bắc tô cháo, xong bỏ đi.Ăn xong tô cháo Bắc quay về. Những người ở lại không ai ăn cháo mà họ chỉ uống rượu. Khi biết tin Bắc chết, họ đổ nồi cháo xuống ngòi mà không đổ xuống ao cá vì họ sợ chết cá. Vợ Bắc khai, mẹ con Liên không nhờ bất kì ai báo tin cho Bắc nhà có việc gấp, Bắc phải về ngay. Đó là điều hoàn toàn bịa đặt. Tá tìm Đa, nhưng không thấy, vợ Đa cho biết, Đa lên gặp Chủ tịch huyện. © Tác giả giữ bản quyền. .Tải đăng theo nguyên bản tác giả gởi từ Quảng Ninh ngày 14.04.2012. . Tất cả các bản sao chép, copy lại không ghi rõ nguồn Newvietart.com là những bản xử dụng thiếu văn hoá và bất hợp pháp.
|