PHẢI CHĂNG QUẢ BÁO NHÃN TIỀN?





Đọc lại tập “Đặc San” của quê tôi được in cách đây đã 40 năm, viết về sự tích của Họ Đạo, những linh mục đã đến giúp Họ từ đầu thế kỷ thứ 19, những người đầu tiên đến khai khẩn, lập nghiệp, trong đó có một câu chuyện viết về cha tôi, khơi lại vết buồn của quá khứ làm tôi thấy rất xốn xang.Quê tôi là một Giáo xứ thuộc Địa Phận Vĩnh Long, nơi đó toàn những gia đình theo Đạo Công Giáo từ cựu trào. Cha tôi là một cựu Chủng Sinh của Chủng Viện Saigon đường Cường Để, canh Sở Ba Son.

Lúc còn nhỏ, nghe cha tôi kể lại, ông thuộc loại siêu quậy của Chủng Viện. Ông vốn không ưa thầy Giám Thị, (mấy người quậy mà ưa Giám thị mới là lạ!) nên có lần ông sắp xếp để phá Thầy. Ông âm thầm bàn với người bạn là trước giờ cơm, khi thấy Thầy giám thị vô thì tắt đèn cho ông. Người bạn làm y lời. Ông đã canh sẵn, nên lấy cái trứng vịt trên bàn chọi vô Thầy Giám Thị. Sau đó đèn được bật sáng lên. Nhưng “Thiên bất dung gian”, vì lúc đó mới vô bàn, chưa ai kịp ăn món gì, Thầy giám thị chỉ cần đi kiểm tra, thấy trứng trong phần ăn của cha tôi không còn thì biết ngay ông là thủ phạm, không thể chối cãi! Tất nhiên cả đứa tắt đèn lẩn đứa chọi trứng đều có phần!

Lần khác, đêm ông rủ bạn leo rào ra kêu mì gõ ăn. Ăn xong, một trong mấy đứa ôm bụng lăn lộn kêu đau. Thế là đám còn lại đòi kêu cảnh sát, vì cho là người bạn ngộ độc vì ăn mì. Thế là tội nghiệp chú bán mì lẹ lẹ đấy đi, không dám đòi tiền mì nữa! Rằm tháng 7, ông vô Chợ Lớn, đi bộ dài theo dãy phố đang bày cúng rằm, cầm theo l cây đũa đã cột thêm mũi tên trên đầu. Tới nhà mấy bà xẩm đang cúng, lo lum khum lạy thì ông chọn chồng bánh nào ngon nhất, ấn cây đũa có mũi tên xuống chồng bánh. Khi kéo chiếc đũa lên thì nó lôi cả chồng bánh theo, rồi co giò chạy, mặc cho bà xẩm ngước lên la chói lói.

Lúc đó đường Saigon nhiều chỗ chưa có đèn. Ông chế ra ánh sáng bằng cách đốt nguyên một bó nhang cột vô bánh trước của xe đạp. Bánh xe lăn đến đâu thì có ánh sáng đến đó. Sau lưng ông có một nhóm xe đạp khác chạy theo. Nhang không đủ sáng nên xe ông lọt ổ gà, ông té nhào xuống. Thế là mấy xe đi sau nhào tới, chồng lên ông. Ai nấy cười quên thôi!

Trong nhà trường, có lần ông bị phân công gác ở nhà xác, giữ cái xác mới chết. Ông cho cái xác ra ghế ngồi đó, còn ông leo lên bàn nằm. Thầy giám thị vừa bước vô thì ông bật ngồi dậy. Ông Giám thị la oái oái, kêu chúa kêu bà thiếu điều lạc giọng, còn ông thì cười một trận đã đời. Hậu quả sau đó chắc khỏi phải kể!

Chuyện ra trường của ông cũng chẳng giống ai. Ông không cần nhà trường đuổi, cũng không xin về, mà rủ thêm mấy người bạn không muốn tu nữa, cùng với ông, đứa này công kênh đưa kia. Một đứa leo rào ra trước để giữ đồ. Mấy đứa phía trong chuyển va ly ra, rồi lần lượt leo qua rào trốn về. Khỏi xin phép mất công chờ đợi!

Khi về nhà, ông cũng thuộc loại bất trị. 21 tuổi đã viết bài chống Tây đăng trên báo nên bị bắt. Sau đó ông hoạt động cho Việt Minh. 26 tuổi lại vô khám lớn Trà Vinh về tội làm Cộng Sản, cả Tỉnh trà Vinh được thông báo và cho vô khám xem cho biết mặt “Cộng sản nái”.

Thời đó quê tôi chưa có trường Trung Học, mà đa số đều nghèo, ít ai có tiền để cho con ra tỉnh học. Vì thế, chỉ có những người tu ra là có tiếng Tây, tiếng La Tinh cũng đầy mình. Nhưng cha tôi không thèm làm cho Tây, cũng chẳng làm việc cho làng xã. Cứ tà tà... Sau này mới biết là ông là đội viên của Thanh Niên Tiền Phong, nên học nghề hớt tóc, rồi với thùng đồ nghề, ông đi khắp nơi để liên lạc mà không bị nghi ngờ! Trong tổ chức, cha tôi cũng không hề chỉ điểm hay làm hại ai. Trái lại, cũng nhờ đó mà làm được vài việc hữu ích cho trong Họ Đạo. Lúc có lịnh “tiêu thổ kháng chiến”, phía Việt Minh đã định đốt nhà Thờ và đưa dân đi sơ tán. Nhà thờ đã được lịnh chất rơm vô, chuẩn bị đốt. Nhưng cha tôi can ngăn, thuyết phục họ bỏ ý định đó. Nhờ đó mà Nhà Thờ khỏi bị thiêu hủy. Thời điểm đó mạng sống con người rất mong manh. Chỉ cần bị nghi ngờ là bị thủ tiêu, bị cho “đi mò tôm”, tức là thả trôi sông, vì họ quan niệm “Thà giết oan hơn thả lầm”. Có một người ở xã khác, hình như ở Ba Trường, bị nghi ngờ và bị kết án tử hình. Nhưng cha tôi có mặt trong nhóm xét xử, biết ông ta bị oan, nên đã bào chữa cho ông ta khỏi bị xử tử. Theo chị tôi lúc đó đã lớn, kể lại, thì nhiều năm sau đó, mỗi năm gia đình của ông ta đều mang đồ để đi Tết cha tôi, vì nói rằng cha tôi là người đã sinh ra ông ta lần thứ hai.

Thời đó, giấy Laissez-passer phải viết tay và người viết phải biết tiếng Pháp, chữ lại phải đẹp, nên trong làng ít người viết được, phải thuê người viết. Vợ của Cai Tổng Khiêm, mẹ của Ngô Công Đức vô ngồi trong văn phòng Xã, viết ăn tiền. Cha tôi và một người bạn nữa, cũng là tu xuất, để cái bàn ở nhà đối diện Xã viết... miễn phí! Tổng Khiêm thấy vậy quê quá, bảo vợ dẹp đi, không cho viết nữa!

Lúc Tây còn đóng ở Đồn tại địa phương, chính quyền xã bắt người dân phải luân phiên nhau, mỗi tuần l nhà nộp l con gà. Tới phiên ông thì ông không nộp. Thằng Trung Úy Tây tức quá, mang còng tới nhà bắt ông. Đến nơi, ông xổ tiếng Tây với nó. Không biết ông nói gì mà sau đó nó vỗ vai ông như bạn bè. Chẳng những nó không bắt ông, mà từ đó về sau ông cũng không phải nộp gà như những nhà khác.

Sau khi Tổng Khiêm bị phục kích chết. Làng mời cha tôi làm Cai Tổng, nhưng cha tôi hỏi ý kiến gia đình, từ má tôi tới tụi tôi đều không ai bằng lòng, nên ông không nhận lời. Ông không tham gia chính quyền, chỉ thuần túy là một người dân thường, nhưng cũng chẳng ngán mấy ông làng, xã. Thấy người nghèo, ít học mà bị hà hiếp, là ông binh vực, vì thế, họ ghét nên cáo gian lên Quận. Người thương ông cũng nằm trong Ban Hội Đồng Xã báo cho cha tôi biết: Phen nầy thì chết rồi chú Mười ơi, tụi nó tố là chú “xúi dân chống lại làng, xã. những đơn chú viết giùm người khác là do tự chú sáng tác ra”! Quận đòi, ông đi hầu, trên đường đi ông cười nói với những người chung quanh là phen nầy chắc là đỡ tốn cơm nhà một thời gian. Nhưng khi hỏi rõ, thì biết ông bị mấy ông làng xã thù vặt nên cáo gian, vì thế ông lại được thả về.

Dù với chính quyền thì ông thuộc loại ương ngạnh, nhưng ông làm nhiều việc tốt cho người dân trong làng. Ai cần viết đơn, chia đất điền, lập tông chi... thì đều đến nhờ ông. Ông chẳng đòi hỏi tiền nong, ai cho con gà, rổ trái cây gì ông cũng nhận, vì trong xã ai cũng nghèo. Là dân quê chính hiệu, nhưng ông cũng từng binh người một nông dân nghèo ở địa phương cãi thắng Luật Sư Dương Tấn Trương, là một Luật Sư nổi tiếng ở Saigon trong một vụ kiện tranh chấp đất tại Tòa Án Trà Vinh.

Ông biết đờn Kìm, đờn Cò chỉ vì một lời thách thức. Số có lần ông đến chơi nhà người bà con đang vật lộn với cây đờn Cò mấy tháng trời mà không kéo nổi l bài cổ nhạc. Ông nói dễ ợt! Có gì mà khó khăn dữ vậy. Người này thách ông, nếu trong l tháng mà ông đờn được bản đó thì thua ông 2 giạ lúa. Thế là ông về nhà tự mày mò kéo đờn. Tháng sau mang đờn tới nhà ông kia, vác về 2 giạ lúa! Ông cũng rất tài hoa, tự viết tuồng rồi tập hợp dân trong làng, dạy ca hát, đóng tuồng. Một mình ông vừa viết tuồng, vừa vẻ quảng cáo, lo phông màn, trang phục, đạo cụ, vừa tập tuồng, nên dân trong làng gọi ông là “Thầy Tuồng”. Ông cũng có biệt danh nữa là “Mười Pho”, vì ông thứ Mười mà nói chuyện, theo lời người địa phương, thì như pho sách, nên gọi ông như thế.

Tôi còn nhớ khi ông viết tuồng Cải Lương: “Bên Nước bên Tình”. Cốt chuyện hư cấu, nói về chuyện tình của Công Chúa Chiêm thành và một Hoàng tử nước Việt. Lúc đó tôi còn nhỏ xíu, thấy mỗi trưa, cơm nước xong thì ông cầm cuốn tập, lấy bịch thuốc lá, đi qua bên khu vườn của nhà đối diện cho thanh vắng để viết. Sau đó đào, kép tới nhà tập tuồng mỗi đêm. Ban ngày họ đi làm ruộng. Đào cũng chẳng phải là nữ, mà là những thanh niên có dáng người nho nhỏ, da trắng. Khi tập dợt xong thì trình diễn ở địa phương, lấy trường học, tháo vách ngăn ra để làm rạp hát. Lúc đó tôi cũng được đóng một vai tỳ nữ của Công Chúa Chiêm Thành.

Ở một vùng quê xa lắc xa lơ, lại nghèo xác nghèo xơ, đâu có bao giờ có gánh hát nào về diễn, cho nên dân làng khi biết sắp có tuồng hát thì rất háo hức. Cách vài hôm trước, ông cho dựng hình ảnh quảng cáo trước cổng nhà thờ, để mọi người đều biết sắp có diễn tuồng. Buổi chiều, trước buổi diễn, Ông cho xe trâu (dưới quê gọi là Cộ) kéo hình ảnh quảng cáo, trên có người ngồi vẽ mặt y như trong tuồng, đi dài từ xóm trên đến xóm dưới. Trên Cộ để cái trống mượn của trường học. Xe vừa đi vừa đánh trống cắc tung tung như trống múa lân làm con nít, người lớn đều nôn nao... Chiều đến, cả làng kéo tới mua vé xem rất đông. Người dân trong làng cũng theo đó mà bày bán hàng bánh, cà phê, cà rem, nước mía... vui như ngày hội. Đàn ông thì mặc đồ tươm tất nhất. Đàn bà thì diện áo dài đẹp. Không có quạt máy nên ai muốn không bị nóng thì mang quạt tay để tự phục vụ! Tuồng diễn đến cả tuần mà khán giả đêm nào cũng chật rạp. Có một bà đêm nào cũng mặc áo dài, đeo dây chuyền vàng, mua vé hạng nhất, ngồi hàng đầu để coi! Tiền thu được nghe nói sắm cái máy phát điện cho nhà Thờ. Tôi còn nhớ màn chót, tôi được phân công xướng câu đầu tiên để cả đoàn hát chào khán giả, kết thúc buổi diễn. Đứng trên nhìn xuống thấy người đông đặc, tôi khớp nên nín thinh. Cả đoàn phải tự hát. Kết thúc, bước ra, ông chờ tôi, cuộn quyển tuồng xáng vô đầu tôi một cái bốp, nổ đom đóm, vì làm “sượng” màn trình diễn hoành tráng của ông!

Có lần ông viết tuồng Giáng Sinh. Cha Hòa lúc đó làm cha sở, xem và nói là cha đã từng xem gánh Bích Thuận diễn tuồng Giáng Sinh, nhưng không cảm động và không hay bằng của cha tôi dựng. Gánh hát của ông chẳng những nổi tiếng trong họ đạo, mà tiếng thơm còn bay ra mấy họ đạo gần bên, nên được mời đến diễn cho bổn đạo của họ xem.

Bên cạnh những việc làm tốt đó, có một vết nhơ mà tôi thấy ray rứt. Bài báo viết về chuyện trong họ lập đội banh lấy tên là NGÔI SAO BÃI XAN để đấu với các Họ Đạo chung quanh. Đó là năm 1931 (lúc đó cha tôi mới 20 tuổi). Hội trưởng danh dự là cha sở Thiên. Những nhân vật chủ chốt đa phần là các cựu chủng sinh, trong đó, cha tôi làm thơ ký, kiêm cầu thủ. Theo bài viết kể lại, Đội banh đã tung hoành khắp Trà Vinh, Bến Tre, Vĩnh Long, đã thắng các Đội Long Bình, Tri Tân, Chà Và, Vĩnh Thuận... nổi tiếng khắp vùng.

Nghe tiếng đồn, Đội banh mạnh nhất của Tỉnh Trà VInh lúc đó là Đội TỪ BÁ ĐƯỚC nghe tiếng cũng có đến xứ tôi để thử tài. Họ đến đầy khí thế với áo maillot sọc vàng, cờ to tổ bố với hàng chữ “PHƯỚC HƯNG CẦU CỐNG” và một đoàn người rầm rộ theo ủng hộ. Bên xứ tôi ngày đó các họ Đạo chung quanh cũng kéo đến xem rất đông. Kết thúc là đội xứ tôi cũng thắng.

Tuy nhiên có một lần đội xứ tôi đi tới CÁI MƠN để đá, thì bị bên đó chơi xấu. Thủ môn đã bắt banh rồi mà họ còn nhào vô đạp vào mặt thủ môn cho văng vô goal! Trọng tài xử thua nhưng họ cứ cho là thắng, làm cho hai bên ấu đả với nhau. Thấy vậy bên này nói với trọng tài thôi nhường cho họ, nhưng rất ấm ức. Một phần vì lúc đi, ghe ủng hộ đội nhà bị chìm, có hai người chết, làm cho đội càng tức, quyết chí mời họ tới để đá phục thù.

Trận phục thù này, cha tôi và một người nữa, chuốt tre bó vô chân để đá, quyết chí làm hại đối phương. Các vị còn sắp đặt, nếu thua thì sẽ không để cho họ về yên, và cử người phục kích sẵn. Cũng may, Đội Cái Mơn bị thua.Theo lời kể, trận đó, một cầu thủ của Cái Mơn bị cha tôi cố tình đá trúng, về xứ sau đó đã chết!

Từ đó về sau không ai dám tới đá với đội của xứ tôi hết.

Không biết thật sự có phải người cầu thủ kia do bị cú đá đó mà chết hay không? Nhưng xem tới đó tôi thật đau lòng. Không hiểu vì sao các vị tiền bối lại cay cú ăn thua đến như vậy. Ở quê với nhau, cái giải thưởng có đáng là bao? Rồi thì phải chăng vì tội ác đó mà về sau cha tôi phải trả giá, bởi vì câu chuyện râm ran, làng trên xóm dưới đều biết, 40 năm sau còn có người kể lại vanh vách thì làm sao gia đình nạn nhân không biết? Có điều không có bằng chứng, không thể buộc tội cha tôi. Nhưng có lẽ họ đã đau đớn vì mất con, tránh sao khỏi oán hờn, nguyền rủa! Và rồi có lẽ Nhân Quả đã thay họ mà trừng trị cha tôi.Cha tôi vốn là độc đinh. Theo lời mẹ tôi lúc sinh tiền kể lại, thì bà nội tôi sinh rất nhiều con. Cha tôi đến thứ 10. Nhưng cứ đứa nào được vài tháng thì bà lại dâng cho Đức Mẹ, nên ai cũng chết non hết. Có một người chị của cha tôi sống được tới 16 tuổi. Ngày đó cô tôi rước lễ Bao Đồng. Bà nội tôi nhìn thấy con gái đẹp quá, nên lại lên quỳ trước bàn thờ Đức Mẹ để dâng cho Đức Mẹ, vì theo bà, để “con lớn lên có chồng rồi phải khổ tội nghiệp”! Chiều đó về, cô tôi phát sốt. Ông nội tôi là thầy thuốc, kéo hộc tủ thuốc, định hốt thuốc cho con. Bà nội tôi bảo, “khỏi hốt thuốc mất công, tôi dâng nó cho Đức Mẹ rồi”. Ông tôi bảo: “Bà nói vậy thì thôi rồi”! Quả là hôm sau cô tôi cũng đi luôn!

Má tôi sinh được 6 lần, trong đó có 2 lần sinh con trai. Nhưng đứa trai kia chết non. Lúc đó chưa sinh đứa út, nên chỉ còn có chị tôi, tôi, và một người anh trai kế tôi, hơn tôi 3 tuổi. Khi anh được 9 tuổi, thì định mệnh ác nghiệt xảy tới.

Đêm đó có người tới nhà chơi, cha tôi sai anh tôi đi mua chai rượu về để hai người uống với nhau. Anh tôi vừa cầm chai rượu về, để trên bàn, vừa nói: “Rượu nè cha’ thì có tiếng súng nổ và một tiếng bốp vang lên. Cha tôi quơ cái đèn dầu cho tắt, và kêu cả nhà nằm xuống đất tránh đạn. Nhưng rồi tất cả đều im ắng, và cha tôi sờ đụng nước, tưởng là dầu của cây đèn chảy ra. Nhưng gọi anh tôi thì không nghe trả lời, nên ông hốt hoãng ngồi dậy và bật quẹt đốt đèn lên. Thì ra nước đó là máu của anh tôi! Anh bị một viên đạn trúng ngay vô đầu, xuyên qua màng tang và nằm luôn ở trong đầu. Anh đã chết ngay không kịp kêu tiếng nào! Cha má tôi điếng hồn và khóc lóc thảm thiết, la làng inh ỏi. vì đó là đứa con trai duy nhất, mà lại rất ngoan hiền. Ở quê lúc đó không có đánh nhau, không hiểu vì sao lại có viên đạn duy nhất từ đâu lạc vô nhà tôi như vậy! Ở nhà quê nên chẳng ai thiết điều tra coi tại sao. Sau đó cha tôi buồn quá không thể ở nhà vì nhớ thương thằng con trai, nên bỏ xứ đi Trà Vinh làm ăn một thời gian.

Cha má tôi mất đi đứa con trai độc nhất. Tôi mất đi người anh rất mực thương em. Đi đâu anh cũng thường hay cõng tôi. Tôi còn nhớ, mỗi ngày đi học về, tôi chỉ cần đi bộ đến vựa lúa của cha Sở bên hông nhà Thờ, ngồi ở đó, chờ anh tôi cõng về. Sở dĩ phải ngồi chờ ở đó, vì lúc trước, anh cõng tôi đến tận lớp thì bị mấy dì phước la, nói tôi già đầu còn bắt anh cõng, nên phải chờ ra khỏi khuôn viên nhà thờ cho mấy dì phước không thấy. Ngày nào cũng như ngày đó, kể từ lúc tôi bắt đầu đi học. Thuở đó còn viết ngòi viết lá tre, thì mỗi lần mua ngòi mới, anh tôi dành để viết trước mấy ngày cho êm, cho hết xóc, rồi mới đưa lại cho tôi viết. Cái gì anh cũng nhường nhịn tôi. Có món ngon là anh chia cho tôi phần nhiều hơn. Lúc đó mới 6 tưổi đầu nhưng đến giờ tôi cũng không quên những kỷ niệm đẹp đó. Tôi cũng nhớ lúc đó anh cũng hay hát câu nhạc chế, không biết từ đâu ra: “Này thanh niên ơi, chúng bây cái đầu bự lắm. Đầu bằng đầu trâu mà không biết gì hết ráo”, “Nòi giống lúc biến khỏi cần giải nguy” và “Thanh niên ơi Huê Kỳ nay đến rồi”! dù lúc đó mới là năm 1949, 1950 Huê Kỳ còn ở tận xứ họ, chưa léo hánh sang Việt Nam!

Nhắc lại chuyện cách đây gần một thế kỷ mà tôi vẫn thấy buồn cho hành vi nông nổi của thời trẻ tuổi của cha mình. Lúc đó ông vẫn chưa có vợ, chưa có con, không hiểu được nỗi đau của cảnh mất đi người thân. Cũng do bản tính nghịch ngợm, háo thắng, nên suy nghĩ, hành động như thế. Hai cái chết chẳng liên quan gì đến nhau. Có thể bản thân ông và gia đình người bị hại cũng đã quên mất. Nhưng cảm giác đau khổ khi phải chứng kiến cảnh con trai đang khỏe mạnh sân sẩn đột nhiên bị chết một cách tức tưởi, thì sau đó chính ông cũng phải nếm mùi y như gia đình nạn nhân của ông đã phải chịu!

Cha tôi qua đời cũng đã hơn 30 năm. Câu chuyện thì đã xảy ra cách đây đã 80 năm, nhưng tập Đặc San cách đây 40 năm vẫn có nhiều người còn lưu giữ vì trong đó có nhiều tài liệu quý giá về gốc tích họ Đạo cũng như các đời linh mục đã giảng dạy ở đó. Ngoài ra còn bài viết rất dài của cha tôi về nguồn gốc những người đầu tiên tới khẩn hoang. Những chuyện đã chôn vùi theo lớp bụi thời gian như chuyện về những ông bà thời xưa ăn rất nhiều, tưởng như chỉ có trong truyền thuyết. Chuyện chơi Xuân ngày xưa. Chuyện ma, tinh lộng hành, hiện hình nhát người, ai cũng trông thấy, đến cha sở Tây phải lấy súng hai nòng bắn gảy một giò, từ đó nó mới bỏ đi mất… là những câu chuyện có thật tại địa phương mà đến nay cũng ít người còn nhớ, vì lớp người lớn tuổi đã theo ông bà hết rồi. Một thời chiến tranh, bom, đạn, súng, ống cũng làm cho ma quỷ thất kinh bỏ chạy hết. Nhưng khoảng thời gian đầu sau 75 thỉnh thoảng cũng còn nghe lai rai. Nhưng ma sau này hiền hơn. Như chuyện một chú bán bánh ít, nhà ở phía trong Đất thánh, muốn bán bánh phải đi sớm và đi ngang qua đó. Vậy mà khi đi qua Đất Thánh, thay vì đi trên đường thì không hiểu tại sao chú lại dắt xe đạp xuống ruộng mà đi, vòng vòng dưới ruộng khá lâu mới giật mình dắt xe lên. Không phải chỉ một lần, mà nhiều lần như vậy. Và chuyện bỏ cứt heo vô nồi cơm thì cách đây vài năm vẫn còn…

Vì tập Đặc San vẫn còn có người đọc, có thể truyền bá nhau, nên tôi viết bài này, trước hết là muốn thay cha để nói lời xin lỗi muộn màng với gia đình đã là nạn nhân của cha tôi, đồng thời kể câu chuyện quả báo của cha tôi để mong người đọc câu chuyện đội banh học lấy tấm gương của gia đình tôi để đừng nghĩ ác, làm ác, vì “ Nhân nào, Quả nấy” là điều không thể tránh khỏi. Nếu không diễn ra trong hiện kiếp thì cũng sẽ ở kiếp nào đó. Đừng đợi đến khi gặp chuyện xấu mới hối hận thì đã muộn.






© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng ngày 12.04.2012 theo nguyên bản của tác giả từ Sài Gòn.
. TRÍCH ĐĂNG LẠI VUI LÒNG GHI RÕ NGUỒN NEWVIETART.COM .