Chương 13


Sau bữa cơm chiều. Nguyễn Trãi rủ Nguyễn Thị Lộ đi dạo Hồ Tây. Chiều thu Hồ Tây. Vắng bóng chim sâm cầm. Chim sâm cầm đã bay đi. Chim bay về đâu? Chim sâm cầm ơi! Vì sao chim sâm cầm bay đi?

Nguyễn yêu Hồ Tây bởi đã gặp nàng ở đây như một định mệnh. Hai người thả bộ bên hàng liễu rủ. Dáng liễu buồn như thiếu nữ xỗ tĩc đợi chờ ai. Liễu mong manh trước giĩ. Liễu đợi ai chờ ai đây? Sen Tây Hồ thoảng đưa hương. Hương tình yêu nhuộm thắm sĩng Tây Hồ. Sương hồ Tây mênh mang màn khĩi ảo. Thăng Long đã xây nên Hồ Tây, một thế giới huyền thoại, một trời tâm linh, một vùng thi ca để ai qua đây một thoáng thôi, cũng đủ nhớ suốt đời.

Hồ Tây là hồ lớn nhất Thăng Long, sóng dào dạt không bao giờ ngư­ng nghỉ, mặt nư­ớc rộng khoảng năm trăm hec-ta. Con đư­ờng vòng quanh hồ dài mư­ời bảy cây số. Có thể Hồ Tây là một đoạn sông Nhị Hà còn sót lại sau khi đổi dòng chảy. Thiên nhiên biến hoá đã sinh ra con hồ xanh sóng sánh mộng mơ lãng đãng s­ương mù, thơm hư­ơng trời đất, đọng đầy sinh khí, thắm t­ươi bảy sắc cầu vồng và nhuộm vàng ánh trăng sao... làm cho con ngư­ời đắm say vui sống, hiến dâng, nâng niu, gìn giữ vẻ đẹp trời ban ấy. Bao nhiêu huyền thoại, bao nhiêu bài thơ, bao nhiêu ngôi chùa do con ngư­ời sáng tạo quanh Hồ Tây, tạo nên một dòng chảy văn hóa Hồ Tây, đẫm hồn dân tộc.

Nguyễn Thị Lộ nhớ huyền thoại kể rằng, từ thuở xa xưa lắm, cái hang sâu trên gò đất ven Hồ Tây có con cáo trắng chín đuôi sống hơn ngàn năm, biến hoá vạn cách, thành ng­ười hoặc thành quỷ đi khắp thế gian. Con cáo chín đuôi biến thành ngư­ời áo trắng, nhập vào giữa đám dân Man, cùng ca hát, nhảy múa rồi dụ dỗ trai gái trốn vào trong hang núi. Người Man rất khổ sở. Lạc Long Quân ra lệnh cho sáu đạo quân của thuỷ phủ dâng nư­ớc lên công phá hang đá. Cáo chín đuôi bỏ chạy. Quân thuỷ phủ đuổi theo bắt giết cáo. Hang cáo trở thành một vũng n­ước sâu, gọi là Đầm Xác Caó (tức Hồ Tây). Từ đó cánh đồng ven Hồ Tây trở nên yên bình, trù phú, dân trồng lúa ngô, trồng dâu nuôi tằm, dệt lụa, làm giấy, trồng hoa, xây chùa miếu, đền đài thờ phụng thần linh và ngư­ời có công giúp dân xây dựng cuộc sống ấm no, hoà bình, để muôn đời sau con cháu đ­ược hư­ởng phúc lộc. Họ sáng tác huyền thoại và thơ ngợi ca cảnh Hồ Tây, ngư­ời Hồ Tây tài tình, khéo léo, quả cảm, trung nghĩa, kiên cư­ờng... Hồ Tây không chỉ đẹp mà còn lắng đọng tình ngư­ời với những câu chuyện thần thoại Việt thơ mộng. Hồ Tây có nhiều tên gọi: Hồ Xác Cáo, Hồ Trâu Vàng, hồ Dâm Đàm, mỗi tên gắn với một chuyện truyền kỳ, ẩn chứa thiện ác, vui buồn, đau thư­ơng, bi kịch, gửi gắm tình yêu th­ương tới mai sau.

Nguyễn Thị Lộ trầm mình tĩnh lặng, tạm quên cái ồn ào náo nhiệt của Kẻ Chợ, nghe muôn ngàn ngọn sóng Hồ Tây vỗ về hồn nàng trong nhạc điệu ca dao cổ:

Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Trấn Vũ canh gà Thọ Xương
Mịt mù khói toả ngàn sương
Nhịp chày Yên Thái mặt gương Tây Hồ.

Rồi một đêm trăng thu, ánh trăng như­ sóng màu phong đỏ, thuyền nhẹ l­ướt dập dìu nh­ư dạo nhạc, bạn nghe vang dậy một vùng thi ca Hồ Tây. Tiếng thơ ai đằm thắm, ân tình nh­ư tiếng Nguyễn Trãi ư­ớm hỏi nàng Nguyễn Thị Lộ…

Nguyễn Thị Lộ thầm hỏi: Ngày ấy đâu rồi?

Ngày ấy đã xa rồi. Ngày ấy đâu rồi? Giờ đây, nhìn vẻ mặt chồng đầy lo âu buồn bã. Nguyễn Thị Lộ muốn khóc. Nàng biết Nguyễn cố nén tiếng thở dài. Nàng im lặng. Nàng biết, lúc này nàng khó có thể an ủi Nguyễn. Nàng biết chuyện chồng mình mắng Lương Đăng thậm tệ trước mặt đức vua. Nàng lơ mơ lo lắng. Nỗi hiểm nguy đang rình rập đâu đây.

Nguyễn Thị Lộ nắm chặt tay chồng. Nàng nép vào ông, tìm một sự chở che…

Hai vợ chồng ngồi bên tảng đá sát mặt hồ. Nguyễn thả tầm mắt ra xa tít tắp mù khơi.

Quàng tay qua vai vợ, Nguyễn bảo:

- Hôm nay ta sẽ nói với nàng một điều lớn lao. Một điều hệ trọng mà ta chỉ có thể nói với một mình nàng thôi. Nàng có hiểu không? Vợ chồng mình đang phải sống trong một khung cảnh cung đình rối loạn.

Vây quanh chúng ta là ai? Mình đang phụng sự ai? Nàng có biết không?

Một triều chính đầy hoạn nạn với ông vua trẻ con, một lũ đại thần tham lam ngu dốt, lũ hoạn quan ngốc dại lộng hành và một đám đàn bà cung tần, cung phi, mỹ nữ vây quanh một ông vua trẻ con. Ông vua này ngựa non háu đá, muốn thay đổi mà không tìm ra đường. Vua luẩn quẩn quanh mấy đứa hoạn quan và lũ đàn bà xâu xé, thì còn biết làm gì cho đúng? Cho phải?

Tình hình thời cuộc lộn xộn sau chiến tranh, lòng dân hoang mang, hỗn loạn, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, chẳng có ai được học hành. Thân phận con người mong manh, đổi thay như chong chóng. Một triều đại mới ra đời, có xu hướng chuyên chế học đòi nhà Minh.

Về văn hoá thì bị dày đạp. Kẻ sĩ trung thần bị bỏ rơi. Nàng hãy lấy thân phận của ta ra mà ngẫm nghĩ.

Nguyễn Thị Lộ nhìn chồng cảm thương thân phận người trượng phu, thi sĩ của Long Thành trước biến động của tư tưởng văn hoá triều đại mới.

Nàng nói:

- Vâng. Thân phận của phu quân là thân phận của hai chặng đường văn hoá Đại Việt. Thiếp lơ mơ cảm nhận như vậy. Nhưng thiếp không hiểu rạch ròi nó là gì?

- Ta sẽ nói và nàng sẽ hiểu. Nàng thông minh có thừa để hiểu thân phận của ta trong thời cuộc. Trước ta, là một nền văn hoá Đại Việt theo mô hình Phật giáo. Ta sinh ra nơi làng quê mẹ, được tắm hồn đồng quê Việt và lớn lên trong hồn ông ngoại và cha đẫm tinh thần tư tưởng Nho, Phật, Lão thời Trần. Tư tưởng Nho, Phật, Lão tràn vào Đại Việt, được tâm hồn Đại Việt tiếp nhận và biến thành văn hoá Đại Việt. Người Đại Việt không tiếp thu văn hoá theo theo kiểu nô lệ. Thiền Trúc Lâm Yên Tử là dòng Thiền thuần khiết Đại Việt, tuy nó chịu ảnh hưởng của Trung Quốc và Ấn Độ. Ta tắm mình trong bầu không khí văn hoá Đại Việt đó. Đấy là hồn cốt cha ông. Hồn dân tộc riêng biệt, không giống ai.

Nàng biết không? Hai mươi năm nhà Minh xâm lược nước ta. Chúng cướp đất, cai trị dân và âm mưu Trung Quốc hoá nền văn hoá Đại Việt. Nhằm tiêu diệt lối sống Đại Việt, tâm hồn Đại Việt.

Hàng ngàn năm trước công nguyên, trước sự xâm nhập của Trung Quốc, Người Việt vẫn có một lối sống riêng với một nền văn minh độc đáo. Văn minh Đông Sơn gắn bó với gia đình các dân tộc và văn hoá Đông Nam Á, tách rời Trung Quốc. Thời đó, người Trung Quốc đã từ lưu vực sông Trường Giang đến lưu vực sông Hồng, Hán hoá xã hội và văn hoá Việt Nam.

Nhưng không! Đất Việt người Việt ở vẫn có lề thói riêng, dù có sự giao tiếp và cưỡng bức của văn hoá Trung Quốc. Văn hoá Thăng Long- Đại Việt ra đời trong sự nảy nở của hai xu hướng mâu thuẫn. Khuynh hướng Trung Quốc hoá và khuynh hướng Việt hoá. Chối từ sự đô hộ của Trung Quốc, cũng chính là chối từ sự cưỡng hiếp về văn hoá của Trung Quốc.

Tổ tiên ta đã từng là một dân tộc, một cư dân, nông dân trồng lúa nước, sống quần tụ thành xóm làng, với đồng ruộng và những dòng sông, đắp đê điều, sống chung với nước, lũ lụt. Chúng ta đã có vương quyền và đế quyền “Sông núi nước Nam, vua Nam ở” do Trời định.

Ra khỏi thời kỳ Bắc thuộc, bước vào kỷ nguyên Đại Việt, ta có bốn chữ “Khoan- Giản- An- Lạc” hướng về dân và thân dân. Nhà Trần có phép tắc riêng, không giống Trung Quốc. Trần Thái Tôn chủ trương “Miếu hiệu tuy đồng, đức bất đồng”. Trần Nghệ Tôn tuy bất lực cũng nói: Triều đình ngày trước dựng nước tự có pháp độ riêng, không theo chế độ nhà Tống, là vì Nam Bắc đều làm chủ được nước mình”.

Đời Đinh Tiên Hoàng, Phật giáo đã hướng đạo tâm linh cho vua. Thời Trần các vua đều học Phật. Các vị Thiền sư Đinh, Lý, Trần đều là trí thức của quốc gia. Thời Trần “Tam giáo đồng nguyên” Phật, Nho, Đạo đều phụng sự cho đời sống tâm linh và đời sống xã hội thực tế. Phật, Nho, Đạo thâm nhập vào Đại Việt đã thấm đẫm hồn dân gian Việt, trở nên một dòng chảy văn hoá đậm chất Đại Việt.

Nhà Trần đãi ngộ nhân tài một cách khoan dung, cởi mở, cẩn trọng, lễ phép, nên “nhân sĩ ai ai cũng biết tự lập, anh hào tuấn tú vượt ra ngoài lưu tục, làm cho quang vinh cả sử sách, không thẹn với Trời Đất”.

Cuối Trần phỏng theo Nho đầy tính chất kỳ thị, thái độ cứng nhắc, thay thế tinh thần khoan dung bằng mệnh lệnh hà khắc. Thay thế tinh thần hoà đồng, tự do dân chủ, thành độc đoán, độc tôn, chuyên quyền. Có khuynh hướng chuyên chế về tư tưởng, bách hại, đàn áp những kẻ ngược chính kiến, tín ngưỡng với mình. Bởi thế, nước loạn. Nhà Trần mất ngôi.

Hồ Quí Ly lên ngai vàng vừa muốn thanh lọc Phật giáo, vừa muốn phê phán xét lại Nho giáo, nhưng chưa xây dựng nổi một ý thức tư tưởng Việt làm cốt lõi cho nên văn hoá Đại Việt. Ông chống Minh, cũng muốn giải Hán hoá nền văn hoá Việt, song ông ngập ngừng. Cuối cùng ông là gốc Trung Quốc, từ Phúc Kiến sang, tự cho là dòng dõi Ngu Thuấn bên Tàu nên đổi quốc hiệu là Đại Ngu.

Sứ Minh hỏi về phong tục Việt, Hồ Quí Ly nói:

Tá vấn An Nam sự
An Nam phong tục thuần
Y quan Đường chế độ
Lễ nhạc Hán quân thần

Hồ Quí Ly công khai lấy Hán, Đường làm chuẩn mực văn hoá nước Đại Ngu của ông. Ông xây dựng một nền độc tài cá nhân, không hòa hợp được dân tộc, để mất nước vào tay giặc Minh.

Nguyễn nói đến đây thì nổi uất. Nguyễn đành ngừng lời, quay sang hỏi Nguyễn Thị Lộ nhằm xả hơi:

- Nàng biết bọn Minh thâm độc thế nào không?

Nguyễn Thị Lộ nghe như nuốt lấy những điều chồng nói. Nguyễn là bậc thầy của những bậc thầy ở chốn này. Nàng hãnh diện và hạnh phúc biết bao. Nàng nghe chồng hỏi mình như một sự trêu đùa.

Nàng trả lời chồng như cô học trò bé nhỏ:

- Thiếp không biết ạ.

Nguyễn càng nói càng như bốc lửa trong đầu:

- Chúng tiêu diệt văn hoá Đại Việt. Cướp được nước ta trong hai mươi năm trời (1407- 1427), đô hộ hà khắc về chính trị, vơ vét tàn hại của cải, chúng đã huỷ diệt độc ác về văn hoá. Đập tan nát những cơ cấu văn hoá phong tục làng xóm. Vua Minh đã trực tiếp ra mật lệnh cho bọn tướng xâm lăng, khi tiến quân vào nước ta, thấy bất cứ cuốn sách cuốn vở nào, gặp bất cứ tấm bia đá nào đều phải thiêu huỷ, đập phá hết. Tên tướng Trương Phụ lượm lặt hết các sách vở cổ kim của ta, đóng thùng trở về Kim Lăng. Tháng bảy, năm Mậu Tuất- 1418 nhà Minh còn sai tiến sĩ Hạ Thì và hành nhân Hạ Trang sang tìm tòi và thu lượm tất cả những sách chép về lịch sử và sự tích xưa nay do người Việt viết. Năm 1419, nhà Minh lại cho người đem sách Khổng giáo, Đạo giáo và Phật giáo của Trung Quốc sang thay thế cho những sách trước kia chúng lấy đi. Cái trò huỷ diệt văn hoá thâm độc đó đã phá hoại gia tài văn hoá, tinh thần của dân tộc ta.

Khởi nghĩa Lam Sơn của Lê Lợi, không những dành được độc lập dân tộc, mà còn cứu vớt di sản văn hoá Đại Việt. Viết Bình Ngô Đại Cáo ta đã nhấn mạnh sự dị thù giữa Đại Việt và Trung Quốc cả về cương vực, cả về văn hoá. Trong Dư địa chí, ta ghi lệnh cấm người Việt không được bắt chước phong tục Ngô.

Vậy mà, giờ đây, tên hoạn quan Lương Đăng ngu muội, nịnh vua, muốn ra oai tác quái quyền lực cung đình, đã bắt chước nghi lễ nhà Minh một cách xuẩn ngốc. Ta đau đớn quá.

Vấn đề mâu thuẫn giữa ta và Lương Đăng không còn là của hai cá nhân, hai con người nữa. Mà đây là hệ tư tưởng chính thống đã đi theo con đường nô lệ văn hoá Trung Quốc để cai trị dân một cách mù quáng, u mê.

Ta giờ đây chỉ có một mình, trơ trọi giữa cường quyền và bạo lực đẫm máu. Ta một mình đứng về phía nhân dân. Nhưng ta đã thua cuộc. Thôi đành. Cầm lòng vậy. Đành lòng vậy.

Nguyễn Thị Lộ trào nước mắt.

Nàng xót thương chồng cô đơn, trơ trọi giữa bầy sói.

Nàng bảo:

- Phu quân trù tính công việc trong triều chính thế nào? Thiếp nghĩ, đức vua còn trẻ, ham đổi mới, và rất tôn trọng, lắng nghe vợ chồng mình. Phu quân không nên bỏ đức vua một mình chống chọi với lũ quan đê hèn đốn mạt đó.

- Đúng rồi. Ta là đấng trượng phu. Ta có bổn phận với sơn hà, xã tắc. Dù thế nào thì vợ chồng mình vẫn phải ở bên cạnh, giúp đức vua trở thành minh quân. Ta vẫn thường mơ “Vua Nghiêu Thuấn. Dân Nghiêu Thuấn”. Ta không bỏ đức vua. Nhưng từ nay, ta sẽ không chửi bới bọn hỗn quan đó làm gì. Ta sẽ làm những việc có ích cho dân, cho vua, trong im lặng. Ta muốn bàn với nàng, hai ta sẽ về Cổ Mai Đàm, nơi ta tránh quân Minh ngày xưa, dựng một ngôi lều nhỏ ở cùng nhau. Tuy có cách xa Hoàng thành, phải đi lại hơi khó, nhưng ta và nàng được tự do. Những giờ rảnh rỗi, ta mở trường dạy trẻ con học. Khi vào chầu thì đi xe ngựa. Nàng cũng đi xe ngựa vào Cấm thành. Bận quá, nàng ngủ lại thư phòng của nàng trong đó, ta không trách.

Ta thích ngắm trời mây non nước cao xanh. Ta muốn trồng cây hoa trái. Ta muốn ngắm trăng sao giữa bầu trời mênh mang. Ta muốn nghe tiếng trẻ học bài. Ta muốn đọc sách ngâm thơ trong làn gió thơm đồng nội. Ta yêu làng quê. Yêu từ gốc rạ bờ tre. Rạ rơm vương vãi thơm đường làng. Yêu mái chùa đình đền cổ kính. Giếng làng trăng ngủ mây chơi. Ao làng hoa súng hoa bèo nổi trôi. Yêu bà bán bánh đúc bún riêu. Bát chè xanh nóng, kẹo vừng, gốc đa.Yêu mẹ sớm tối ngoài đồng. Cào cào, muỗm, chấu, bắt về con chơi.

Yêu cha cày cuốc ruộng vườn. Con trâu đi trước, điếu cày vắt vai.Yêu cô tát nước gầu sòng. Đêm trăng múc ánh trăng vàng đổ đi. Yêu gà cục tác lá chanh. Cơm thơm, nếp dẻo, lạc vừng bùi ngon. Yêu chú chó nhỏ lon ton. Đón Mẹ về chợ cho quà bánh đa. Mẹ mua mắm muối, cá khô. Rau quả đã có vườn nhà quanh năm. Yêu vườn trăm thứ rau thơm. Hương nhu, bồ kết gội đầu. Mỗi cây một loại thuốc Thần. Món ăn bài thuốc, thanh bần cao sang. Yêu con mèo trèo cây cau. Hoa cau thơm ngát tỏa lan cuối làng.Yêu giàn trầu lá leo xanh. Bốn mùa bà bỏm bẻm miếng trầu, quả cau.Yêu cánh đồng xanh, cánh đồng vàng. Ruộng già mạ ngấu, lúa thì non tơ. Yêu bát cơm thơm mùa gặt mới. Bát canh cua đồng ngọt thấm ruột gan. Con tép con tôm, con cá dưới đồng. Cho già bát canh trẻ manh áo mới. Hũ tép đỏ au ủ thơm mùi thính…

Ngôi làng nuôi dưỡng sự sống của chúng mình đấy nàng thân yêu ạ.

Nguyễn Thị Lộ nghe chồng nói như tiếng hát ca, hoà vaò sóng Tây Hồ. Nàng rưng lệ trước một tâm hồn nghệ sĩ lớn. Nàng muốn truyền cảm hứng cho tâm hồn thi sĩ ấy ca vang lên, bay bổng giữa mây trời non nước. Cho tâm hồn Nguyễn thăng hoa khỏi ngục tù. Cho Nguyễn quên mối sầu truyền kiếp.

Nàng hỏi Nguyễn:

- Thiếp không nhớ làng có từ bao giờ?

Nguyễn âu yếm nhìn sâu vào đôi mắt đen huyền của vợ, hồn hát ca:

- Ta có làng từ trong cổ tích. Tiếng sáo diều no gió. Vu vút gọi người mộng Trời xanh. Tiếng gà gọi nắng về thôn xóm. Tiếng chim tu hú gọi đàn. Họa mi thánh thót ca vàng ban mai .Làng ta trong câu ca dao. Mẹ lặng ru ta vào giấc ngủ “Cái cò cái cạc cái nông”. Làng ta mịn màng tình cổ tích. Ầu ơ… Cha Rồng lấy Mẹ Tiên. Làng nuôi ta hạt gạo tám xoan. Nâng ta giấc mơ hồng Hoa Lúa. Ta mơ ta nhớ về làng. Li ti huyết quản di truyền Tổ Tiên. Ta tin tất cả mọi người, con dân Việt, máu đỏ da vàng, gốc Rồng Tiên, cũng yêu làng như ta đã yêu. Mình cùng một bọc sinh ra. Cùng chung cổ tích ngôi làng Việt Nam.

Nguyễn Thị Lộ nắm chặt tay chồng. Nước mắt chảy dài đôi má. Nàng khẽ nói:

- Thiếp cũng yêu làng như chàng vậy. Thiếp sẽ cùng chàng về làng Cổ Mai Đàm dựng lều mái ấm, cùng chung hưởng niềm vui với làng. Chàng yên tâm. Chàng đi đâu thiếp cũng theo chàng. Thiếp ở bên chàng, hoà chung hơi thở đã gần hai chục năm. Thiếp chẳng muốn rời xa chàng. Mình hẹn nhau từ muôn kiếp trước ở Tây Hồ. Thiếp không bao giờ quên.

Nguyễn Trãi bước đi giữa Thăng Long chập chờn trong đêm tối. Có ai biết cặp vợ chồng kẻ sĩ đêm nay, dìu nhau đi trong cô đơn, giữa Tây Hồ miên man sóng vỗ.

Nguyễn muốn cất cao tiếng lòng gọi Hồ Tây! Hồ Tây ơi! Hồ Tây ngàn đời xây nên huyền thoại in bóng anh hùng và mỹ nhân.

Chim sâm cầm Hồ Tây bay đi chở theo ước mơ, khát vọng và nỗi buồn đau khắc khoải về non nước sơn hà của ta. Chim sâm cầm ơi! Nếu ta có thể bay lên được như chim về nơi nắng gió trong lành. Không! Chỉ có hồn ta bay. Bay khắp bầu trời cánh đồng, dòng sông Đại Việt mà mơ khắp thôn cùng xóm vắng, dân chúng ca vang khúc nhạc an vui, thái hoà.

Thăng Long. Làng Cổ Mai Đàm. Góc Thành Nam.

Dân chúng thấy mới có thêm một ngôi lều nhỏ, xung quanh trồng nhiều cây hoa. Hàng rào dâm bụt nở hoa đỏ thắm.

Họ kháo nhau:

- Nhà của vợ chồng quan thừa chỉ Nguyễn Trãi.

Vùng đất này gần đê sông Nhị Hà là thái ấp xưa của danh tướng Trần Khát Chân. Nơi đây trồng nhiều mai. Vườn mai thấp thoáng nàng thôn nữ mắt nhung huyền. Xa xa, con đê uốn lượn, cỏ dại xanh mứơt mát, từng đàn trâu bò ung dung gặm cỏ. Tiếng sáo mục đồng văng vẳng chiều hôm.

Nguyễn Trãi yêu hoa mai. Mai cứ trở đi, trở lại trong thơ Nôm của Nguyễn, thanh sạch như chính tâm hồn thi nhân:

Xuân đến nào hoa chẳng tốt tươi
Ưa mày vì tiết sạch hơn người
Gác Đông ắt đã từng làm khách
Há những Bô tiên kết bạn chơi

Bài thơ như khắc hoạ hình bóng Nguyễn. Gác Đông là Đông các, chỗ quan tể tướng chiêu hiền đãi sĩ. Nhưng rồi, ông quan xưa, nay chỉ kết bạn Bô tiên, giống như Lâm Bô, một ẩn sĩ nổi tiếng thời Tống, trồng mai, nuôi hạc làm bạn.

Tiên Bô đã kết mấy thu chầy
Ngẫm ngọt nhường bằng mếch trọng thay
Lại có một cành ngoài ấy lẻ
Bóng thưa ánh nước động người vay.

Hoa mai một bóng thưa gầy. Thanh tao trong sạch. Cô lẻ. Nhẹ nhàng. Như tâm hồn ẩn sĩ, xúc động lòng người.

Bóng thưa ánh nước động người vay
Lịm đưa hương, một nguyệt hay
Huống lại bảng xuân chưa chiếm được
So tam hữu chẳng bằng mày

Hoa mai đứng đầu bảng hoa mùa xuân bởi sự thanh sạch, mỏng manh, ngậm gió sương, mưa lạnh mà vẫn bừng hương sắc. Hoa mai quí hơn cả Tùng, Trúc…

Nguyễn Trãi rất hài lòng với ngôi lều Cổ Mai Đàm. Nguyễn tả ngôi nhà nhỏ và cuộc sống thanh bạch của mình:

Tiểu tiểu hiên song nuy nuy tư
Quan cư đốn giác loại u cư
Thương ba giang, thượng nhàn thuỳ diếu
Lục lục thụ âm trung lĩnh khán thư

(Nho nhỏ hiên song nhà thấp thấp
Dinh quan nhà ẩn giống vô cùng
Buông câu thong thả dòng sông biếc
Đọc sách thư nhà bóng lá dâm…)

Chiều thu, mấy người bạn thân thiện của Nguyễn đến thăm nhà mới. Nguyễn Trãi vừa câu được mấy con cá chép to. Nguyễn Thị Lộ bắc bếp rán cá. Chai rượu gạo nút lá chuối khô thơm nức gian nhà. Bầu bạn chén chú, chén anh, ngâm vịnh. Nguyễn Mộng Tuân ứng khẩu đọc bài thơ Mừng nhà mới của Thừa chỉ Ức Trai:

Nhất diều thuỷ lãnh tri tam quán
Tứ bích bần tứ lục kinh
Mai ánh nguyệt miên lai giáng trướng
Hà hương phong đệ tống sơ kinh

(Nhà quan tri tham quán lạnh như dòng nước
Bốn vách nghèo xác, chỉ toàn sách
Trăng vẽ bóng cây mai lên tấm màn đỏ
Gió đưa mùi sen lọt vào song thưa)

Nguyễn Thị Lộ bưng khay trà mai ra bàn mời khách. Nàng khẽ thưa:

- Thưa quan bác, nhà Ức Trai tiên sinh thanh sạch nhưng không lạnh đâu ạ.

Nguyễn Trãi cười:

- Phu nhân tôi nói đúng. Tôi có nàng bên cạnh nên không bao giờ lạnh.

Nguyễn Mộng Tuân chữa:

- Tôi cảm thấy mát như quanh năm có dòng nước chảy qua.

Lý Tử Tấn nhâm nha chén trà mai thanh khiết, đọc bài thơ của mình Đề vách nhà Ức Trai:

Tâm kính tương phùng khởi ngẫu nhiên
Biệt khai thành thị nhất lâm tuyền
Ưu du lễ nhượng an nhân trạch
Xuất nhập kiêm cung lạc tính thiên
Lai tân đình tiền duy thảo sắc
Khách lai trúc ngoại hữu trà yên

(Có tâm hồn trong sạch mới chọn cảnh này, đâu phải ngẫu nhiên
Mở riêng một cõi tâm tuyền giữa nơi thành thị
Thung dung lễ nhượng ở yên trên nền nhân
Ra vào khiêm tốn vui tính trời
Các thơ lại về rồi, trước sân trơ sắc cỏ
Khách đến, bên giậu trúc có khói trà)

Làng Cổ Mai Đàm dân cư thưa thớt. Hồ ao nhiều. Những ngôi nhà tranh nho nhỏ ẩn mình trong khóm tre như để tránh những cơn nước nổi. Nguyễn Trãi chọn được khu đất cao nổi lên như hình cái bút giữa vùng hồ ao rộng và sâu. Trên khu đất cao ấy có cây đề cổ thụ, Nguyễn dựng trường dạy học. Tiếng trẻ con bi bô học bài vang lên trong hương đồng gió nội, làm cho quan Hành khiển nhẹ nhõm trong lòng.

Cổ Mai Đàm những đêm trăng thanh gió mát, Nguyễn Trãi thường trải chiếu bên thềm, ngâm ngợi thơ ca cùng Nguyễn Thị Lộ:

Góc thành Nam, lều một gian
No nước uống, thiếu cơm ăn
Con đòi trốn, dường ai quyến
Bà ngựa gầy thiếu kẻ chăn
Ao bởi hẹp hòi khôn thả cá
Nhà quen xú xứa, ngại nuôi vằn
Triều quan chẳng phải, ẩn chẳng phải
Góc thành Nam, lều một gian

Chương 14


Chiều Đông lạnh giá. Lê Thái Tôn đang đàm đạo với Nguyễn Thị Lộ thì có người xin vào cáo giác Đại đô đốc Lê Ngân thờ Phật Quan Âm trong nhà để cầu mong cho con gái mình là Huệ phi được vua yêu.

Vua ngự ra cửa Đông thành, sai Thái giám Đỗ Khuyển dẫn năm mươi võ sĩ lục soát nhà Ngân bắt được tượng Phật và các thứ vàng bạc.

Ngày hôm sau Ngân vào chầu. Ngân trút mũ tâu:

- Trước kia, thần theo khởi nghĩa ở Lam Kinh, nay thần cũng nhiều bệnh, thầy bói bảo trong chỗ nhà thần ở, trước đây có miếu thờ Phật, vì để ô uế, nên xảy ra tai họa. Cho nên thần làm lại để thờ cúng. Nhưng vì người vợ lẽ đã bị bỏ của thần là Nguyễn thị và người vợ lẽ của Lê Sát là Trần thị đã ban cho thần, cả hai đứa đều thù oán thần, cùng với đứa gia nô điêu ngoa của thần thêu dệt bày đặt ra chuyện đó. Tiên đế đã biết rõ lòng thần, thường vẫn ưu ái bao dung. Nay gân sức của thần đã mỏi mệt lắm rồi, xin cho được về quê để sống hết tuổi tàn còn lại. Nếu bệ hạ nghe những người xung quanh mà tra tấn người nhà của thần, khi bị đánh đau quá, nhất định chúng sẽ khai khác đi, thì thân thần sợ không giữ được, xin bệ hạ nghĩ lại cho.

Lê Thái Tôn giáng Huệ phi Nhật Lệ, con gái Lê Ngân làm Tư dung. Mụ đồng Nguyễn thị bị đày ra châu xa. Thầy phù thuỷ Trần Văn Phương bị đi làm lính ở phường nuôi voi.

Thăng Long. Mùa Hạ năm Thiệu Bình 1938.

Tình hình thiên tai dị biến, quan quân cung đình náo động. Lê Thái Tôn giáng quận vương Lê Tư Tề xuống làm thứ dân. Sai dân chúng đào các kênh ở Trường Yên, Thanh Hoá, Nghệ An…

Vì có nhiều tai ương, Lê Thái Tôn ra chiếu chỉ:

“Mấy năm nay, hạn hán, sâu bệnh liên tiếp xảy ra, tai dị luôn luôn xuất hiện. Khoảng tháng tư, tháng năm năm nay, nhiều lần xét đánh vào vườn cây Thái Miếu ở Lam Kinh. Cứ nghiệm xét việc xảy ra tai hoạ, nhất định là có duyên do trong đó. Có phải do trẫm không lo sửa đức, để mọi việc bê trễ hay là do quan tể phụ bất tài xếp đặt không điều hoà? Hay là dùng người không đúng để người tốt, kẻ xấu lẫn lộn? Hay là hối lộ công khai mà việc hình ngục có nhiều oan trái. Hay là làm nhiều công trình thổ mộc để dân mỏi mệt? Hay là thuế khoá nặng nề mà dân túng thiếu? Trẫm tự trách tội mình, đại xá cho thiên hạ. Tất cả các đại thần, các quan văn võ các ngươi nên chỉ ra những lầm lỗi kể trên, cứ thẳng thắn nói hết, đừng kiêng nể gì. Nếu có điều gì tiếp thu được, nhất định sẽ khen thưởng cất nhắc, dẫu có ngu đần vu khoát, cũng không bắt tội. Ngõ hầu có thể lay chuyển lòng trời, chấm dứt được tai biến, để nước nhà mãi mãi hưởng phúc lớn vô cùng vậy.”

Chiếu chỉ vua ban có vẻ thống thiết vậy mà chẳng có ai lên tiếng. Quần thần im như thóc. Đó đây xì xầm chuyện tình ái của đức vua. Chẳng ai hơi đâu can gián câu gì. Vua xuống chiếu xử trảm Đại đô đốc Lê Ngân, tịch thu toàn bộ gia sản, chia cho các quan trong triều vợ con Lê Ngân.

Vua cảm thấy cô đơn. Quần thần im lặng là điều đáng sợ. Ngay cả Nguyễn Trãi, người mà Lê Thái Tôn yêu quí thế, cũng không nói gì.

Vua cho vời Nguyễn Thị Lộ lên điện Cần Chánh. Nàng cúi lạy vua theo nghi lễ, không dám nói gì trước. Vua nhìn nàng như muốn trút nỗi buồn âm ỉ, khó thốt thành lời. Vua ước gì, nàng có thể sẻ chia, làm vơi nỗi cô đơn. Nhưng nàng phải giữ lễ vua tôi. Nàng chỉ có thể trò chuyện những gì chân thực nhất từ trái tim yêu thương mềm mại của mình, để an ủi, giúp đức vua vơi nỗi sầu thế sự.

Lê Thái Tôn không giấu tâm trạng lúng túng của mình trước công việc triều chính.

Vua hỏi Nguyễn Thị Lộ:

- Khanh có thể nói cho ta rõ được không? Theo ý khanh thì bậc làm vua phải như thế nào?

Nguyễn Thị Lộ ngạc nhiên trước câu hỏi vừa có vẻ xa lạ vừa ý tứ, gần gụi tin yêu. Hai má nàng ửng hồng.

Nàng nhẹ nhàng tâu:

- Muôn tâu bệ hạ. Thần thiếp nghĩ câu hỏi này quá sức của thần thiếp. Hay là thần thiếp kể chuyện cổ tích cho bệ hạ nghe.

- Nàng kể chuyện cổ tích gì? Ta cũng thích nghe chuyện cổ tích đấy. Hình như xưa ta thơ bé, nàng đã kể chuyện cổ tích cho ta nghe rồi phải không?

- Thưa vâng ạ. Hồi đó bệ hạ còn quá nhỏ, khó mà hiểu chuyện cổ tích nói gì? Bây giờ thần thiếp kể chuyện Lạc Long Quân & Âu Cơ cho bệ hạ nghe . Bệ hạ sẽ hiểu bậc làm vua nước Nam phải như thế nào?

- Ừ. Hay đấy. Nàng kể đi.

Nguyễn Thị Lộ ngồi gần lại sập vàng của đức vua để ngài nghe cho rõ. Tiếng nàng vang lên như hát:

Ngày xưa ở Lĩnh Nam.

Thủ lĩnh là Lộc Tục hiệu Kinh Dương Vương
Sức khỏe tuyệt trần
Đi lại dưới nước như trên cạn
Kinh Dương Vương chơi hồ Động Đình
Gặp Long Nữ con gái Long Vương
Kết vợ chồng sinh con trai Sùng Lãm
Sùng Lãm khỏe cực kỳ
Một tay nhấc bổng hai tảng đá lớn
Giống cha, chàng đi dưới nước như thoi
Nối nghiệp cha, hiệu Lạc Long Quân
Lĩnh Nam xưa hoang vu tù hãm
Lộn xộn tối ngày, không mấy khi yên
Lạc Long Quân du ngoạn nắm binh tình
Đến biển Đông Nam, gặp con cá lớn
Sống lâu đời, hơn năm mươi trượng
Đuôi cánh buồm, nuốt chửng mười người
Cá bơi sóng nổi ngất trời
Thuyền lại qua, đều bị nhấn chìm
Người trên thuyền bị nuốt sống
Dân chài sợ quái vật, gọi Ngư Tinh
Ngư Tinh ở hang lớn, ăn sâu đáy biển
Trên hang, một dãy núi cao
Ngăn miền duyên hải hai vùng...

*

Lạc Long Quân quyết giết Ngư Tinh
Trừ hại, cứu dân lành
Ngài đóng một chiếc thuyền thật lớn
Rèn khối sắt, nhiều cạnh sắc nung đỏ
Đem xuống thuyền, thẳng hang Ngư Tinh
Giơ khối sắt, ném vào miệng Ngư Tinh
Hắn há miệng đón mồi
Ngài lao thẳng khối sắt vào miệng hắn
Ngư Tinh cháy họng, vùng chống cự
Quật đuôi vào thuyền Lạc Long Quân
Ngài chém Ngư Tinh làm ba khúc
Khúc đầu thành con chó biển
Ngài lấy đá, chặn đường giết chó
Vứt đầu lên ngọn núi, nay gọi Cẩu Đầu Sơn
Khúc mình Ngư Tinh trôi xứ Mạn Cầu
Nay gọi Cẩu Đầu Thủy
Khúc đuôi Ngư Tinh, Lạc Long Quân lột da
Đem phủ lên hòn đảo giữa biển
Mang tên Bạch Long Vĩ anh hùng

*

Trừ xong nạn Ngư Tinh
Lạc Long Quân đến Long Biên
Cáo chín đuôi, nghìn năm thành tinh
Trú hang sâu, chân núi đá Tây Long Biên
Nó hóa thành người trà trộn trong dân
Bắt con gái, mang về hang hãm hiếp
Từ Long Biên đến núi Tản Viên
Dân luôn bị Hồ Tinh xâm hại
Lo sợ, bỏ ruộng vườn, nương rẫy
Kéo nhau đi nơi khác làm ăn
Lạc Long Quân xót thương dân
Một mình một gươm, đến sào huyệt Hồ Tinh
Tìm cách diệt trừ yêu quái
Ngài vừa tới hang, Hồ Tinh xông ra
Lạc Long Quân hóa thành mưa, sấm sét
Vây chặt Hồ Tinh, giao chiến ba ngày đêm
Hồ Tinh dần đuối sức, tháo chạy
Lạc Long Quân đuổi theo, chém đứt đầu
Hồ Tinh hiện, con cáo chín đuôi
Lạc Long Quân vào hang, cứu người sống sót
Sai thủy tộc, dâng nước sông Cái, phá hang
Nước sông chảy như thác, băng ngọn núi
Xoáy hang cáo thành vực sâu
Gọi Đầm Xác Cáo, nay thành Tây Hồ

*

Dẹp yên nạn Hồ Tinh
Dân về ven hồ vui cấy cày, chài lưới 
Dựng nhà, lập xóm khu đất làng Hồ
Người Long Biên yên ổn sinh tồn
Lạc Long Quân ngược lên rừng Phong Châu
Có cây cổ thụ Chiên Đàn
Cao hàng nghìn trượng
Trước kia, cành xum xuê tươi tốt
Sau cây khô héo thành Mộc Tinh
Mộc Tinh hung ác, quỉ quyệt lạ thường
Chỗ ở luôn thay, rừng này sang rừng khác
Mộc Tinh đổi hình, ẩn nấp khắp nơi
Đón bắt người lớn, trẻ con, ăn thịt
Dân khóc than thảm thiết, kêu la
Lạc Long Quân ra tay trị Mộc Tinh
Ngài luồn hết rừng này, rừng kia
Qua suối đèo nhiều ngày gian khổ
Mới tìm thấy chỗ ở của Mộc Tinh
Lạc Long Quân giao chiến với Mộc Tinh
Trăm ngày đêm, đất rung đá lở
Trời đất mịt mù, chim thú hoảng hồn
Vẫn không thắng nổi Mộc Tinh
Cuối cùng Lạc Long Quân dùng nhạc cụ
Chiêng trống khua rầm rập, dồn rã tấn công
Mộc Tinh khiếp sợ, chạy về Tây Nam
Sống quanh quất ở đó, là Xương Cuồng

*

Diệt xong Mộc Tinh
Lạc Long Quân thấy dân vùng này đói khổ
Thiếu mặc phải lấy vỏ cây che thân
Tết cỏ gianh làm ổ nằm
Lấy cây tưng lư, cây quang lang thay gạo
Lấy rễ gừng ăn cho mặn miệng
Bắt ba ba núi làm mắm
Lạc Long Quân dạy dân trồng lúa nếp
Lấy ống tre thổi cơm
Đốn gỗ làm nhà sàn ở, phòng thú dữ
Dạy ăn ở thuận hòa trên dưới
Cha ra cha, con ra con, vợ chồng ra chồng vợ
Dân ơn đức, xây cho Lạc Long Quân
Cung điện nguy nga trên ngọn núi cao
Nhưng Lạc Long Quân không ở
Ngài thường về quê Mẹ thủy phủ
Dặn: "Hễ có gì tai biến, cứ gọi ta. Ta sẽ về ngay"

*

Lúc bấy giờ Đế Lai phương Bắc
Đem quân tràn xuống phía Nam
Cùng con gái yêu xinh đẹp Âu Cơ
Thấy Lĩnh Nam phong cảnh tốt tươi
Nhiều chim muông, trầm hương, gỗ quí
Đế Lai dựng thành đắp lũy ở lâu dài
Dân phục dịch, cực không chịu nổi
Hướng về biển Đông gọi Lạc Long Quân
"Bố ơi! Sao không về cứu chúng con"
Chỉ trong chớp mắt, Lạc Long Quân về
Nghe dân kể chuyện Đế Lai
Lạc Long Quân hóa chàng trai đẹp
Có hàng trăm đầy tớ theo hầu
Vừa đi vừa hát, đến thẳng Đế Lai
Lạc Long Quân không thấy Đế Lai
Thấy một cô dung nhan tuyệt trần
Cùng vô số thị tỳ binh lính
Người tài sắc đó là Âu Cơ
Gặp Lạc Long Quân tuấn tú hào hoa
Nàng say đắm, xin theo cùng chàng
Chàng đưa Âu Cơ về cung điện núi cao...
Đế Lai về, mất tích con gái
Liền đem quân lính tìm khắp nơi
Hết ngày này qua ngày khác
Lạc Long Quân sai vạn ác thú chặn đường
Xé xác lính, chúng kinh hoàng bỏ chạy
Đế Lai ngậm ngùi thu quân về xứ Bắc

*

Lạc Long Quân làm chồng Âu Cơ
Ít lâu sau, Âu Cơ sinh một bọc
Bảy ngày, bọc nở ra trăm trứng
Mỗi trứng nở một người con trai
Trăm chàng trai lớn lên như thổi
Khỏe mạnh, khôi ngô, thông minh tuyệt vời
Hàng chục năm gia đình Âu Cơ
Hạnh phúc, vợ chồng đàn con 
Lạc Long Quân luôn nhớ về thủy phủ
Một hôm, chàng từ giã vợ con
Hóa Rồng, vượt mây bay về biển
Âu Cơ và các con nhớn nhác bám theo
Không theo được! Nàng buồn ở lại núi
Ngày qua ngày. Nàng mỏi mắt ngóng chồng
Lạc Long Quân biển trời xa biền biệt
Âu Cơ sầu, nhớ chồng khôn xiết
Nàng đứng trên ngọn núi hướng biển Đông
Cất tiếng gọi thất thanh: "Ơi bố nó!
Bố nó ơi! Sao không về, không về
Để Mẹ con thiếp sầu khổ thế này?"
Lạc Long Quân biển khơi nghe nàng gọi
Tức khắc về, ôm quấn lấy vợ con
Âu Cơ rầu rĩ trách chồng
Thiếp vốn sinh ở núi cao, động lớn
Ăn ở với chàng, sinh được trăm trai
Sao chàng nỡ bỏ mẹ con thiếp mà đi
Để Mẹ con sống bơ vơ lạnh lẽo...
Lạc Long Quân nghẹn ngào phân giải
Ta là loài Rồng, nàng là giống Tiên
Khó ăn ở với nhau lâu được
Nay ta đem năm mươi con về biển
Nàng đem năm mươi con về núi
Chia nhau trị vì, trồng cấy, dựng xây
Kẻ lên rừng, người xuống biển
Gặp sự nguy thì cấp báo cho nhau
Cứu nhau vượt qua hoạn nạn
Đừng quên nhau, cùng một bọc Mẹ Cha!
Gia đình Âu Cơ lã chã lệ tuôn
Vợ chồng chia rẽ đôi đường
Từ biệt nhau lên ngàn xuống bể
Trăm người con trai, trăm nẻo biển rừng
Thành Tổ tiên của người Bách Việt
Người con trưởng ở lại Phong Châu*
Được tôn vua Văn Lang hiệu Hùng Vương.

Lê Thái Tôn nghe Nguyễn Thị Lộ hát ru ca cổ tích, tâm hồn ngài trở lại tuổi thơ tươi mới diệu huyền. Ngài bỗng hiểu ra một điều qua câu chuyện cổ tích này. Đó là nhân cách của một ông vua. Làm vua là để cứu dân chứ không phải để cai trị dân như những điều ngài được dạy xưa nay theo bài bản của Trung Quốc.

Câu chuyện cổ tích Lạc Long Quân, hiện về cuộc sống hiện tại của người dân Việt. Họ sinh sống trên mảnh đất này, chịu nhiều tai hoạ. Từ những dòng sông, con hồ, đều gây hoạ. Từ những cánh rừng rậm rạp hoang vu đều có ác quỉ rình rập, tàn phá cuộc sống của họ. Lạc Long Quân, đủ sức, đủ tài, tự mình cầm vũ khí, tạo ra vũ khí, trừ hoạ cứu dân. Với giặc ngoại xâm phương Bắc, phải khoan hoà, mềm dẻo để chống lại. Rồi phải mở rộng đất đai, khai thác rừng biển, phải sinh ra con người khoẻ mạnh, sống có đạo đức, để bảo tồn nòi giống và chăm bẵm rừng biển… Làm vua như thế mới xứng đáng là cha của dân. Nghĩ vậy, Lê Thái Tôn muốn vươn mình đứng dậy. Ngài muốn có đủ sức mạnh để tự mình làm những việc chăm dân , cứu dân như Lạc Long Quân.

Ngài bảo Nguyễn Thị Lộ

- Nàng đã dạy ta làm vua theo cách của dân gian Đại Việt.

Nguyễn Thị Lộ e ngại chạm đến lòng kiêu ngạo của đức vua.

Nàng thưa:

- Muôn tâu bệ hạ, thần thiếp không dám dạy đức vua. Thần thiếp chỉ kể chuyện để đức vua thư giãn, trong trí tưởng tượng và bay tới những khát vọng, ước mơ lớn.

- Đúng vậy. Ta phải xứng đáng trí nam nhi, dũng mãnh kiên cường. Ta sẽ đi khắp núi sông Đại Việt yêu quí của ta. Ta sẽ ra tay cứu đồng bào.

Lê Thái Tôn ngắm nhìn Nguyễn Thị Lộ thì thầm:

- Nàng là một tâm hồn nữ nhi cao quí mà ta gặp trong đời. Không ai sánh nổi với nàng về tài sắc và đức hạnh. Trái tim nàng ấp ủ những khát vọng lớn lao. Nàng đã truyền nó cho ta. Ta vui vì có nàng.

... CÒN TIẾP ...






© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng tải theo nguyên bản của tác giả gởi từ Hà Nội ngày 04.04.2012.
TÁC PHẨM CỦA MAI THỤC CHỈ PHỔ BIẾN DUY NHẤT TRÊN HỆ THỐNG VIỆT VĂN MỚI - NEWVIETART