NGÔI NHÀ MA



LÝ THỊ MINH CHÂU

Thi đậu đại học, nó được cha mẹ mua cho chiếc xe Yamaha LX hai màu đỏ đen mới cáu cạnh. Đó là chiếc xe tay ga rất dễ điều khiển, hơn nữa nó đã có kinh nghiệm mấy năm chạy xe cúp rồi, nên khi nó xin cha mẹ đi xa một chuyến ông bà đồng ý ngay.

Thú thật thì từ nhỏ giờ nó chỉ nghe người ta nói về Đà Lạt, về những thắng cảnh đẹp như tranh, về con gái Đà Lạt với đôi má ửng hồng tự nhiên như hoa đào, về người Đà Lạt hiền hòa, dịu dàng như cô Tấm nhưng diện kiến thì chưa bao giờ. Nó cũng đã tham khảo nhiều lần về vùng đất này qua mạng, sục sạo khắp hang cùng ngõ hẻm trên Google, chỉ để giải đáp những thắc mắc rất con nít của nó như đến Đà Lạt ăn chỗ nào ngon mà rẻ; ngủ chỗ nào được, thăm thú chỗ nào lý tưởng…v…v.

Nó và bạn nó lên đường trên chiếc xe mới cáu cạnh ấy, hành trang của chúng chỉ vài ba bộ đồ và hai cái thẻ rút tiền. Chúng khởi hành từ sáng sớm, cũng là lúc thành phố nơi chúng ở khởi động thêm một ngày mới. Tới chợ Sặc chúng dừng lại dùng điểm tâm và mua thêm vài ba thứ lặt vặt rồi tiếp tục hành trình. Khi đã mỏi, lại thêm trời nắng gắt, mặt đường như bốc khói, chúng dừng lại nghỉ ngơi tại một quán lá bên đường. Quán khá thoáng đãng, có võng và ghế bố phục vụ khách, ai thích nằm hay ngồi thì tùy. Chúng gọi hai trái dừa xiêm ướp lạnh. Chủ quán chỉ chúng ra giếng rửa mặt mũi tay chân cho mát. Mà mát thật, ở cái chảo lửa Long Khánh này đá còn rỗ mặt nữa là người. Nhìn những ngọn núi có hình thù na ná nhau, phía đỉnh bằng bằng hay hơi lõm. Đó đích thị là những núi lửa đang ngủ, đang thả hồn ngao du với mây với gió, có trời mới biết chúng thức dậy lúc nào. Những tảng dung nham do chúng phun trào cách đây hàng trăm triệu năm vẫn còn trơ gan cùng tuế nguyệt. Hễ thấy mặt trời là chúng sôi gan, mặt nóng bừng lên, tỏa ra cái mùi hăng hắc, khó ngửi. Tuy thế, lớp tro bụi mà chúng mang theo là rất màu mỡ đủ để cây chuối, cây chôm chôm và các loại cây trồng khác xanh mướt vươn trời. Vào mùa chôm chôm mà đi ngang qua đây thì khỏi phải nói, nhìn cây nào cũng oằn trái, trái chín đỏ mọng thật thích mắt. Giá cả cũng vào loại dễ thương nhất nước, lúc rộ, chỉ một hoặc hai ngàn đồng là mua được một cân rồi. Còn ổi thì không chê vào đâu được, quả to, da bóng lưỡng, cơm dày, ít hạt. Nếu gặp phải hạm ăn thì cũng chỉ xơi nổi một quả là cái bụng đã ngang phè phè.

Nó và bạn nó thỏa thích chạy tới chạy lui trong cái vườn xanh mát ấy, thỏa thích ăn cái nọ, uống cái kia mà không cần suy tính gì. No nê, lăn ra ngủ mà cũng chẳng buồn hỏi xem chủ quán có đồng ý hay không. Chúng chỉ thức dậy khi nghe tiếng cười nói ồn ào của một đám khách khác.

Mặt trời đã đứng bóng, cái nóng hừng hực từ mặt đường thổi vào quả là ngột ngạt. Chúng mua thêm ít trái cây, châm thêm xăng, rồi tất tả rời xa nơi này. Nuốt xong trăm cây số nữa thì khí hậu đã khác, đã dễ thở hơn nhiều. Chúng đã đặt chân lên xứ sở của một loại thức uống nổi tiếng là chè B’Lao. Địa danh B’Lao đã cho chúng nhiều gợi nhớ, về một nhạc sĩ tài hoa đã có nhiều sáng tác rất hay ở đó và đã đi vào lòng người như : Mưa hồng, Chiều một mình qua phố, Lời buồn thánh, Vết lăn trầm, Tiếng hát Dạ Lan và đặc biệt là tập Ca khúc da vàng lừng danh một thuở. Đó là Trịnh Công Sơn. Chúng dừng lại ăn trưa rồi hỏi thăm đường vào thác Đambri. Đambri là một thác nước cực đẹp, có độ cao của dòng chảy vào loại nhất Tây Nguyên. Từ trên chín mươi mét nước đổ xuống ào ào thật ấn tượng, thật hùng vĩ, tiếng gầm gào của nó vang xa hàng cây số vẫn còn nghe. Thác nằm cách thành phố Bảo Lộc mười bảy cây số, giữa cảnh rừng nguyên sinh hoang sơ đầy vẻ thần bí, u tịch. Nghe cô hướng dẫn viên du lịch thao thao về truyền thuyết của ngọn thác này, ai cũng mê mẩn. Mê mẩn bởi sắc áo màu thổ cẩm của cô mang phong vị của đại ngàn. Với những xâu hạt cườm óng ánh ở cổ, ở tay và đôi mắt đen lay láy sau hàng mi cong vút, người ta dễ yêu thầm, nhớ trộm. “ Ngày xưa có một đôi trai gái người K’Ho yêu nhau tha thiết, họ thường hẹn nhau bên dòng suối thơ mộng trong cánh rừng thiêng này. Rồi một ngày kia, chàng trai không biết lý do gì đã ra đi mãi mãi, không một lời từ biệt. Cô gái chờ đợi mỏi mòn, cô đã khóc thương đến chết. Nước mắt của cô hóa thành dòng thác lớn, dân làng thương tiếc đặt tên thác là Đambri, nghĩa là đợi chờ, còn tiếng gọi đau đớn của cô gái ấy vẫn vang vọng tới tận ngày nay “.

Mải mê ngao du sơn thủy, đến khi mặt trời khuất núi chúng mới chịu lên xe về Đà Lạt. Từ đây đến đó hơn trăm cây số cũng không xa, mà chúng thì chẳng có gì để vội. Hai tiếng sau, chúng cũng đến chân đèo Prenn, đây là cửa ngõ của thành phố. Lúc này trời mưa xối xả, sương mù dày đặc, đèn xe chỉ soi được vài ba mét là cùng, nên chúng chẳng quan sát được gì ngoài cái vạch trăng trắng mà người ta kẽ giữa đường. Hai đứa ôm sát vào nhau cũng không đủ ấm, xe mệt mỏi leo đèo. Trời lúc này đã tối mịt, thi thoảng vài chiếc xe tải rì rì bám dốc xuôi ngược, ánh đèn vàng chạch của nó vừa quét qua thì màn đêm lại ùa đến tức thì. Tối mịt hoàn tối mịt.

Đèo Prenn thơ mộng với những con đường dấu hỏi, dấu ngã ngoằn ngoèo rất đẹp, rất nên thơ trên mạng trên ảnh là thế; bỗng đìu hiu, rờn rợn làm sao khi đêm về, lại thêm mưa và sương mù đặc sệt nữa nên càng ớn lạnh. Gần mười phút sau, kể từ khi leo đèo, con xe không thèm đi nữa, đèn đóm tắt ngúm, máy móc im re. Chết thật, biết làm sao bây giờ. Đổ dốc ư, làm sao dám, biết có nhà cửa nào dưới chân đèo không mà liều, không khéo lại nằm co giữa rừng càng khốn. Đẩy lên dốc ư, mệt lắm, nhưng chỉ còn cách đó. Hai đứa đành ì ạch đẩy cái xe nặng như chì lên dốc. Dưới ánh đèn cốt sáng đục - nó chỉ dám mở đèn cốt thôi, cho đỡ hao bình - hai đứa như hai kẻ trộm lầm lũi trong đêm. Bây giờ, nó mới ân hận, phải chi cho thằng Thành bạn nó cùng đi thì hay biết mấy. Khổ nỗi, cái Na cũng van nài. Dĩ nhiên là nó chọn cái Na, bởi đi chung với cái Na vẫn oách hơn. Nó và cái Na chẳng yêu đương gì đâu, bạn bè thôi, hơi thân hơn bạn bè một chút. Cái Na có bà con trên Đà Lạt, chúng nó tính lên nghỉ ở đó, mẹ cái Na mới yên lòng cho đi. Bây giờ thì éo le thật, bụng đói chân run, chả đẩy điếc gì nổi nữa. Cái Na ngồi bệt xuống lề đường, mở điện thoại gọi cho ai đó nhưng không có sóng, mắt nó đỏ hoe, cáu kỉnh :

- Xe mới gì kỳ dậy, hay là hết xăng.

- Quên đi bà, đổ giữa đường rồi.

- Ông biết nó uống một trăm cây số là bao nhiêu lít không mà cãi.

- Ba lít.

- Bình này mấy lít ?

- Chắc bốn.

- Hết sạch rồi ông ơi, tính đi.

Nó muốn kiểm tra lại thì cũng chịu, chẳng đèn đóm, chẳng gì cả. Nó hét to thật to xem có ai quanh đây không. Tiếng hét của nó dội lại từ cánh rừng đối diện nghe sởn gai ốc. Âm thanh đó cứ lập đi, lập lại như có người nhái giọng, rồi nhỏ dần, nhỏ dần như tiếng của người nào đó đi đã xa. Con Na ngồi khấn vái râm ran, nó cầu khẩn đất trời cho có chuyến xe nào đó chạy ngang qua để chúng xin họ cho về nhà. Sau khi mó máy con xe đến chán, nó đến ngồi bên con Na an ủi, vỗ về :

- Bà đói không ?

- Sao không. Đói mà run nữa.

Rồi như sực nhớ điều gì, con Na bảo nó còn trái ổi trong cốp xe.

- Hồi chiều bà ăn rồi mà.

- Lúc ấy no lắm, tui cất vô cốp xe, khi ông đổ xăng.

Hai đứa chia nhau từng miếng ổi thơm giòn đến hạnh phúc. Lần đầu tiên trong đời chúng biết đói khát là gì, tội nghiệp cho đôi cậu ấm, cô chiêu. Ăn xong chúng quyết chí đẩy xe lên đèo. Lúc này trời đã bớt mưa, sương mù cũng không còn dày đặc như trước. Đẩy được vài mươi mét thì nó phát hiện có cánh cổng bên lề đường không khóa. Từ cổng nhìn vào trong chẳng thấy gì, chúng thay nhau cất tiếng gọi. Có ánh đèn thắp lên, có người ra mở cửa. Đó là một ông cụ gầy gò, tuổi chừng bảy mươi, râu tóc phất phơ. Trong màn sương đục nhờ nhờ, trông ông hư hư thực thực làm sao ấy. Con Na nhanh nhảu xin xỏ :

- Ông ơi, xe chúng cháu hết xăng không về được, ông có xăng nhường lại cho cháu một ít.

- Ông đâu có xe cộ gì, cháu đi một mình hay với ai.

- Với bạn, đang giữ xe ngoài cổng ạ.

- Vào đây cả đi, rồi hẵng tính.

Đó là ngôi biệt thự thật đẹp, kiến trúc kiểu Pháp, có sân vườn rộng. Tầng trệt là ga-ra ô tô, cầu thang lộ thiên bên ngoài. Tầng giữa là phòng khách và hai phòng ngủ, bếp phía sau, ban công phía trước. Ban công cũng thật rộng, có bộ bàn ghế đá đặt sẵn ở đó. Phòng khách ngay cửa ra vào. Trên tường chính diện, treo bức chân dung người đàn bà khá lớn, mặc áo đen, đã hoen ố theo thời gian nên không còn nhìn rõ mặt. Bộ sô pha màu gan gà cũng rách lỗ chỗ và bụi bám đầy. Hình như lâu lắm chẳng có ai ngồi. Chiếc bàn cũng thế, chắc là gỗ quý, đen nhẻm màu năm tháng nhưng còn dùng tốt. Chiếc bình sứ giả cổ mẻ miệng, đổ kềnh ra sàn nhà mà chẳng ai buồn nâng lên. Còn một tầng nữa phía bên trên bởi nó nhìn thấy cái cầu thang bằng gỗ bé tẹo, gần chỗ gian bếp. Ông cụ cắm cây đèn cầy giữa bàn, rồi mang cam ra mời chúng :

- Các cháu ăn đi, cam sành đấy, ăn rồi ngủ lại đây hay về thì tùy. Nhưng ông nói cho các cháu nghe là đường còn xa lắm đấy.

- Làm sao về nổi hả ông, cháu xin ngủ lại đây với ông thôi.

Nó liến thoắng. Ông cụ mỉm cười, vừa bóc cam cho hai đứa vừa chuyện trò :

- Hai cháu cứ ngủ đây, thoải mái như ở nhà, không ai quấy rầy các cháu đâu bởi tí nữa ông còn phải ra canh vườn.

- Vườn xa không ông ?

- Cũng gần thôi.

- Xe để dưới ga-ra không có cửa, có sao không ông ?

- Ai mà dám vào đây lấy hả cháu.

Rồi như chưa yên lòng, ông dặn dò thêm :

- Các cháu ngủ ngon nhé, chẳng ai làm phiền các cháu đâu.

Nói rồi ông đi ra cửa, cánh cửa như tự khép lại, một luồng gió lạnh lướt qua người chúng nó, chạy vút lên lầu. Toàn thân nó rờn rợn. Hai phòng ngủ thì trống huơ trống hoác, muốn lăn đâu thì lăn. Đúng ra thì hai đứa ngủ hai phòng, nam nữ thọ thọ bất thân mà, nhưng cái Na chừng như cũng thấy ớn lạnh như nó nên cô ấy gợi ý :

- Thôi, tụi mình ngủ chung một phòng đi, trở đầu lại.

- Bà không sợ ?

- Sợ chớ, nhưng ngủ một mình càng sợ hơn.

Đêm đó chúng ngủ say như chết, phần do mệt, do lạnh. Khi trời sáng quắc chúng mới thức giấc. Chẳng hiểu sao, chúng ôm nhau ngủ suốt đêm mà chẳng đứa nào hay biết gì. Con Na giận lắm, tính chửi nó một trận nên thân nhưng dằn được :

- Ông làm cái trò quái quỷ gì thế, má tui mà biết thì ông ăn tát.

- Tui nằm nguyên từ hồi hôm giờ mà, đầu vẫn quay vô tường đây, bà không nhớ à. Chính bà xoay đầu lại thì có.

Hình như nó nói đúng, con Na nhớ mang máng là thế, nên cô nàng chưng hửng. Cô cúi xuống xem lại mấy cúc áo ngực, sờ lại dây thắt lưng, nhắm mắt xem trong cơ thể mình có chỗ nào lạ. Không có gì. Con bé thở phào nhẹ nhõm. Ừ, thì coi như ngồi xe ôm nhau đấy thôi, ôm sát nữa là khác, mà có sao đâu. Rồi, hai đứa cùng vùng dậy, dắt nhau ra ban công nhìn xuống cánh rừng thông ngập tràn nắng ấm. Nó cẩn thận chồm qua lan can xem chiếc xe của mình còn không. Vẫn ở đấy. Nó an tâm thưởng thức những ngụm không khí trong lành, ngọt lịm của thiên nhiên ban tặng. Lắng nghe tiếng chim gì hót hay quá. Tiếng chim mượt mà như nhung, như dàn nhạc giao hưởng vĩ đại, hòa âm bằng đủ loại nhạc cụ bởi vô số nhạc công tài hoa. Lắng nghe tiếng gió reo vi vu trên tán thông, xem chúng rượt đuổi nhau qua vòm lá, nhảy nhót trên những bậc thang già cỗi, cuốn theo những chiếc lá vàng nghe xào xạc vui tai. Ngắm say sưa mấy bông hoa nhỏ xíu màu lửa của giò lan rừng lung lay đón nắng. Đẹp thật. Thần tiên thật. Trong cái không gian hữu tình này mà có người yêu bên cạnh thì tuyệt, rất tuyệt. Con Na chắc cũng nghĩ thế, nó đưa mắt sang thăm dò. Nào ngờ con bé hối thúc :

- Về thôi, mình chờ ông ấy lâu rồi.

- Ừ, thì về.

Hai đứa sè sẹ bước xuống cầu thang.

Về đến nhà, con Na đem chuyện ngủ nhờ ra nói với dì nó, nhưng tuyệt nhiên không đá động đến chuyện hai đứa nằm chung một giường. Dì nó ngơ ngác, không nhớ ra là giữa cái đèo ngắn cũn kia, có ngôi nhà nào như thế. Không nhớ cũng phải, bởi nếu có, thì dì nó cũng chưa từng vào đó bao giờ. Óc tò mò xui bà ta phải tới đó xem cho biết. Bà gọi một chiếc xe thồ để đi cùng hai đứa. Khi tới cổng thì xe thồ dừng lại, bà nài nỉ mấy anh lái cũng không vào. Bà đành lẽo đẽo theo sau hai đứa nhỏ. Khi vào trong nhà rồi thì bà mới tá hỏa. Nhà làm gì có người ở, mùi ẩm mốc, mùi thời gian lạnh ngắt làm bà ớn xương sống. Bà đứng trân trân như trời tròng. Nó và con Na cũng thấy sợ, một sự rờn rợn chạy khắp người chúng. Trên bàn vẫn là cây đèn cầy khi hôm và mấy quả cam héo queo, héo quắt. Hình như người ta đem chúng đến đây lâu rồi thì phải. Hai đứa nhớ lại đêm qua mà run bần bật, răng đánh lập cập, là cà. Khi hoàn hồn, dì con Na mới kéo chúng ra ngoài ban công : “ Về…về…thôi.”. Bà nói không ra hơi, đủ biết bà sợ đến nhường nào. Ba người líu quíu bám nhau ra cổng, đến khi gặp lại người xe thồ, bà mới bớt sợ nhưng cũng chỉ lắp bắp được mấy tiếng đứt quãng :

- Nhà…nhà…này là…

- Nhà ma, bà không biết à.

Mắt bà trợn ngược, mặt trắng giã, từ từ quỵ xuống.

__________________________________ 
© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả gởi từ Đà Lạt ngày 31.03.2012.
. Trích đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com.