GẶT ĐẦU NON

PHAN VĂN THẠNH

Quý vị đang nghe Sentiments

1-Thiên hạ đệ nhất hùng quan

Thời điểm 1984 trong điều kiện đi lại khó khăn,du lịch nội địa còn là một khoảng trắng, thực hiện một chuyến tham quan Huế dừng chân trên đèo Hải Vân hoặc xa hơn nữa về phía Bắc với tôi,là điều mơ ước viễn du và đã đến rồi thì khó có dịp trở lại lần hai, do vậy tôi đã tranh thủ ghi lại khá nhiều hình ảnh(đen trắng), hiểm địa khét tiếng một thời hùm beo,thảo khấu : “Đi bộ thì khiếp Hải Vân,đi thủy thì sợ sóng thần hang dơi”.

Mười chín năm sau đó một đường hầm xuyên núi được khai thông (ngày 28/10/2003)- thay thế đèo cao đá dốc, phá thế độc đạo hơn hai trăm năm qua (tính từ 1886) của Hải Vân .Đường ra lối vào khá an toàn tạo điều kiện thuận tiện để không chỉ ”Học trò trong Quảng ra thi- thấy cô gái Huế chân đi không đành” mà cả khách nhàn du cũng cảm thấy dễ dàng đến với vẻ đẹp thâm trầm sâu lắng của sông Hương,núi Ngự,của Hoàng thành rêu phong cổ kính…

Trường Sơn - thế đứng vững chãi,oai phong lẫm liệt trông ra Biển Đông xanh thẩm – Riêng lòng du khách ngất ngây choáng ngợp trước tòa kiến trúc hùng vĩ của tạo hóa .

Ở thế kỷ XVIII,Ngô Thì Chí đã viết :”Ngọn núi này khí át sông Ngân,thế nuốt bờ biển,tảng đá trập trùng khó vịn,cây cối sum sê rợp bóng,sóng vỗ ầm ầm như tiếng sấm vang trời,suối chảy rào rào như tuôn nước từ lưng chừng trời đổ xuống”.

Tôi đứng trên đỉnh trời mênh mang kỳ thú,xa xa phía Phú Lộc-Huế,bãi Lăng Cô như dải lụa mịn,sóng bạc đầu hóa thân thành đàn ngựa “mã đáo” tung bờm trắng xóa từ muôn trùng khơi sải vó vào bờ. Đẹp tuyệt!

Xe qua những cua dốc hiểm trở vặn mình răng rắc. Con đường ngoằn ngoèo, mỗi xăngtimet dưới vòng bánh lăn của chiếc Bus Karosa là mồ hôi, máu của tiền nhân đi mở bờ,mở cõi.Tôi thầm kính bái tri ân và vô cùng hạnh phúc sảng khoái khi lần đầu được đăng sơn chiêm ngắm, thưởng lãm danh thắng hùng vĩ vào bậc nhất nước ta : Hải Vân - Thiên hạ đệ nhất hùng quan .Đầm mình vào thiên nhiên ,gió thổi từ thời hồng hoang nguyên thủy như xé nhỏ người tôi ra từng mảnh rắc khắp non ngàn .Tôi theo cánh én bay liệng dưới lòng thung. Hải Vân ngấm như rượu, tôi chếnh choáng thả hồn vào cõi thơ:

Phiêu du nhẹ gót thời gian
Nhạt nhòa nắng núi,mưa ngàn tạm khuây
Thung sâu lạc dấu chim bay
Vèo thu đi trớt tháng ngày an nhiên

Lên non ngắm ánh tà huy
Thoáng trông thấy bóng chim di bạt ngàn
Cuối đèo xa hút không gian
Chân mây vọng tưởng lan man đầu nguồn.

2-Bà Nà,chạm vào mây viễn xứ

Ngày nắng đẹp tôi lên Bà Nà gặp một thoáng hồn liêu xiêu.Anh tài trẻ vui tính dí dỏm nhiều năm lên xuống cung đường hiểm trở này nói với mọi người trong khoang xe về hàng chục”cánh gà”(cua cùi chõ) đếm từ dưới lên đỉnh núi Chúa (cao 1487m). Bạn tôi ngồi cạnh cứ gợi ý bắt chuyện, giọng Quảng của anh rất có duyên,miệng nói tay vòng vô lăng cứ vừa ra khỏi gấp khúc này là đánh tay lái bọc hướng li tâm vào gấp khúc nối tiếp,tôi phải huých cùi chõ anh bạn nói nhỏ:”Thôi để yên cho ổng tập trung lái,đừng hỏi han gì nữa”.-Dân Saigon quen đường sá như ô bàn cờ giờ ngồi xe leo trèo ngoặt ngoẹo đèo dốc- 26km làm xiếc, tôi muốn nín thở!

Bà Nà hiện ra trước mắt, diện tích toàn khu vực rộng 8.425 hecta, được hình thành trên các loại đá cứng như granit,permatit và đá bazan biến chất.Khắp các triền núi phủ đất đỏ và xám là những rừng cây với nhiều loại gỗ quý như kiền kiền,chò chỉ,gõ đỏ,sến,mây song,phong lan,dương xỉ- ở độ cao trên 1.000m có nhiều thông mọc.Điều làm nên giá trị tự nhiên của Bà Nà là nơi đỉnh cao nhất lại bằng phẳng như một cao nguyên nhỏ,khí hậu mát quanh năm,nhiệt độ trung bình 18.3oC ,cao nhất cũng chỉ đến 25oC.Khí hậu trong ngày có đủ 4 mùa:sáng xuân,trưa hạ,chiều thu,tối đông.

Lần theo những rảnh đường qua khe núi tĩnh lặng,đỉnh trời mở ra cô đơn trống trải,trước và sau tôi im vắng, giọt lệ nào rơi từ mênh mông …-lại vẳng nhớ cái tứ thơ Đường của Trần Tử Ngang (651-702).

Tiền bất kiến cổ nhân,
Hậu bất kiến lai giả.
Niệm thiên địa chi du du,
Độc sảng nhiên nhi thế há.

(Đăng U Châu đài ca )


(Bài hát trên đài ở thành U Châu
Trước chẳng thấy người xưa
Sau chẳng thấy ai cả
Ngẫm trời đất rộng mênh mông
Lòng đau xót,lệ tầm tã)

( Trần Trọng Kim dịch)

Tôi lần bước theo chân Thiền sư Huyền Quang (1254-1334)- vị Tổ thứ ba trong phái Trúc Lâm vào giấc ngủ trưa trên núi:

Vũ quá khê sơn tịnh
Phong lâm nhất mộng lương
Phản quang trần thế giới
Khai nhãn túy mang mang

(Ngọ Thụy)


(Ngủ trưa
Mưa tạnh,khe núi tĩnh
Ngủ mát dưới rừng phong
Nhìn lại cõi nhân thế
Mắt mở vẫn say nồng)

(Sư thầy Nhất Hạnh dịch)

Sư thầy dạy:”Sống tỉnh thức,phải mở mắt,mở con mắt tuệ,con mắt chánh niệm chứ không phải con mắt thịt,mở con mắt thịt có thể vẫn còn mê”.
Vâng,con nghe lời thầy,chẳng biết mình nhìn bằng con mắt nào ,tôi bỗng thấy từ núi hiện ra một Eva :

Em ngồi hong tóc sơn nguyên
Hương từ lập địa khai thiên nõn nà.

Người nhắm nghiền đôi mắt thịt ,tay lần tràng hạt niệm nam mô Phật tổ- mở con mắt chánh niêm bỗng dưng phiền ưu như hạt sương rơi lả tả bay trắng đại ngàn sơn cước:

Thôi em ngần ấy muộn phiền
Đem xâu kết lại thành vòng tràng đeo
Lần tay mỗi hạt rơi vèo
Hạt sa sơn cước,hạt gieo cõi ngoài

Rời non cao về lại thị thành,trôi giữa phố,len lỏi trong dòng xe đủ chủng loại,ngụp lặn thân phàm khó nhọc,tôi ngộ ra thái độ sống xuất- nhập tại thế - Nhìn lại chặng đường lên non - nẻo về thanh tịnh, hư không, tiếp thêm năng lượng, tự động viên mình: “anh ơi hãy vui đi trọn đường trần, không than,không van,không hề ngã lòng…”- Tôi thấy mình dường như tinh tấn hơn, nhân bản hơn ,sống an nhiên tĩnh tại hơn giữa dòng đời trong đục đan cài.

______________________________________

(Sai Gòn,29/3/2012)
© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng ngày 31.03.2012 theo nguyên bản của tác giả gởi từ SàiGòn.
Xin Vui Lòng Ghi Rõ Nguồn Newvietart.com Khi Trích Đăng Lại .