BỀNH BỒNG TRÊN BÈ
“NHÀ HÀNG” ĐỰC NHỎ



PHẠM NGA

Quý vị đang nghe Symphonie Pastoral của Beethoven

    Đã chán chê, mệt mỏi vì khói bụi thành phố, mấy bạn Việt kiều đòi thay đổi không khí bằng một chuyến đi chơi xa nên chúng tôi tìm ra miền biển. Ngồi trên xe đi trên quốc lộ 51, đến ngã ba quẹo vào đảo Long Sơn (còn cách Vũng Tàu 33km), người ta đã cảm thấy cái vị mặn của gió biển. Từ những ô ruộng muối và những vạt rừng đước ở hai bên đường, đâu đó thoang thoảng mùi nước mắm, mùi gỗ mục, mùi xác cá ủ làm phân… Xe qua cầu Bà Nanh – còn gọi là cầu Long Sơn, đi thêm một quãng nữa thì tôi quả quyết bảo anh tài xế rẻ phải ở một ngã ba. Hẳn là không có gì mới mẻ ở những quán xá khu vực này. Long Sơn Quán, Cây Dừa, Ngọc Ngân, Sơn Thủy - cả bốn quán đặc sản đồ biển ở vùng này thì chúng tôi đã từng ghé thưởng thức, kể cả món gà nướng “độc chiêu” của quán Sơn Thủy. Cần phải mò ra bờ sông Rặng, xuống ghe, hướng về cửa biển Cần Giờ. Thời may là chiếc ghe máy “tăng-bo” khách đang đậu ở bến. Chúng tôi mau mắn bước len qua những giỏ hàu ngồn ngộn chất tràn ra chiếc cầu gỗ. Trên con sông nước mặn ngầu đục này, những chiếc bè nuôi thủy sản trôi nổi dập dình giữa dòng nước. Sau khoảng 10 phút ngồi ghe máy, chúng tôi bước lên “Nhà hàng Đực Nhỏ”.

    Đúng ra, cái bảng hiệu khá tếu trên chỉ được kẽ nguệch ngoạc cho có trên ca-bin chiếc ghe máy thôi. Dù qui mô lớn gấp mấy lần các chiếc bè khác, anh chủ đen đúa, nhỏ thó đâu có muốn vẽ tên mình trên cái gọi là bè “nhà hàng nổi” này. Anh kể: “Hồi trước, tui chỉ có hai cái bè nuôi cá mú với hàu ở sát bờ này. Rồi có mấy ông bên Dầu khí Vũng Tàu ra nhậu, thấy khoái nên mới hợp tác. Cái nhà bè đầu tiên do mấy ổng bỏ tiền ra làm, ban đầu chỉ để mấy cán bộ ra ăn chơi, nghỉ ngơi. Rồi mấy ổng bàn với tui mở nhà hàng chui, không treo bảng, để đón khách ngoài, lấy doanh thu…”.

    Hiện nay, liên kết với bè nuôi thủy sản lộ thiên là một chuỗi bốn nhà bè khác có mái lá dừa, có vách gỗ lưng lững, và quan trọng hơn hết là có hệ thống điện đóm phát ra từ một máy phát điện chạy bằng dầu Diesel. Ở một đầu của giàn nhà bè lớn nhứt và dài nhứt, cái bếp tồi tàn của anh Đực đã được cơi nới thành một nhà-bếp-của-nhà-hàng và một phòng vệ sinh đàng hoàng; còn đầu kia là hai phòng nghỉ có giường đôi, quạt máy, ti-vi… Đáng chú ý là không có bàn ghế cho kiểu nhà hàng nổi thông thường. Thực khách được phát cho một, hai cái gối để lót ngồi trên mặt sàn gỗ. Mỏi lưng thì đã có những chiếc võng treo sẵn kế bên. Ai thích ngồi bàn thì có thể men theo chiếc cầu khỉ dài chừng 100 mét, bước vào ngôi nhà nhỏ lợp lá đơn sơ, giống kiểu nhà thủy tạ dựng trên bờ một cái đùng nuôi tôm. Ngư dân thường làm đùng ở chỗ nước cạn gần bờ, quây kín lại bằng khuôn bờ bao đắp bằng đất rất kiên cố. Cây đước, cây mắm mọc um tùm, che kín cả bờ bao đùng nhưng vẫn có hệ thống lỗ thông, cho phép nước sông ra vô như ý muốn của chủ đùng.

    Anh Đực cho biết là vào ngày lễ 30/4/2006, khai trương “nhà hàng”, mặt bằng của giàn nhà bè và “phòng”ăn trên bờ đùng, cộng thêm chỗ ngoài trời là những tấm ván lót ngay trên giàn khung gỗ bè nuôi cá và hàu, đã đủ sức chứa gần 300 thực khách.

    Trong ngày khai trương ấy, cũng như những ngày thứ bảy, chủ nhật, số lượng nước ngọt dùng cho sinh hoạt, nấu nướng và nước đá phải được ghe máy chở liên tục từ bến ra mới đủ dùng. Và cũng giống như kiểu làm bè cá phổ biến, đơn giản của giới ngư dân, tất cả trọng lượng của giàn bè/nhà bè liên kết của anh Đực nổi trên mặt nước nhờ một hệ thống phao là hàng trăm chiếc thùng phi nhựa, đóng nút thật kín. Phí tổn về giàn phao không rẻ vì mỗi cái thùng nhựa cũ – thường là màu xanh, đựng hóa chất - này giá gần 300,000 đồng/cái. Và thùng phải chứa khí đá để không bị xọp lại. Giàn nhà nổi còn được neo vào các trụ bê-tông đóng cứng xuống đáy sông để khỏi trôi dạt.

    Tôi bỏ chiếc võng, theo chân một cậu “chạy bàn” đi lấy hàng tươi sống giao nhà bếp. Các loại cá, hàu, ốc được rộng trong các ô lưới chìm dưới nước sông. Khỏi cần thổi oxy như kiểu hồ kiếng trong các nhà hàng thủy sản. Chỉ cần kéo lưới lên, thò tay bắt, cân tại chỗ trước mặt khách đặt món. Ở bè nuôi hàu, chỉ thấy một giàn giá khung cây nổi trên mặt nước. Từ giàn gỗ này, chủ bè dùng những chiếc vỏ xe gắn máy cũ mà cột, thả những mảnh tôn fibrô phế thải xuống nước. Rồi một điều rất lạ và thú vị là con giống thiên nhiên của loài hàu – nhỏ như hạt bong bóng – trôi nổi dưới nước sẽ đến bám chặt vào mặt tôn fibrô, ăn phiêu sinh vật mà lớn lên. Chủ bè không tốn thức ăn nuôi hàu, chỉ cần trông chừng, chờ 14 – 15 tháng là hàu đủ lớn để thu hoạch.

    Trở lại với bữa nhậu tại cái nơi ăn uống chuyên về thủy/hải sản này thì một ông bạn sành ăn đã gọi trước tiên là món hàu – cao giá nhứt trong các món sò, ốc. Trong khi giá các món ốc, sò khác được tính theo kí-lô (đã bao luôn chế biến, phục vụ) thì hàu con lớn, được đem nướng hay ăn sống, lại rất chãnh : giá tính theo con. Trên nhà bè này, cỡ hàu có phần thịt lớn bằng ngón chân cái như thế thì ở các nhà hàng đặc sản ở Sài Gòn phải 20,000 đồng/con trở lên. Đằng này, con hàu nướng trét bơ, thơm phức trên tay tôi giá chỉ 15,000 đồng. Mớ hàu nhỏ thì để nấu cháo với nấm bào ngư và tuyệt nhiên, “nhà hàng” này không dùng tới loại hào sữa hoang dã, bám cả dề vào các gộp đá ở bờ biển, chỉ lớn bằng hột nút áo pyjama và thịt không mấy ngọt.

    Tiếp tục danh sách các loài sò, ốc thì một khi đã ra tới bè Đực Nhỏ, ít ai thèm gọi thứ bình dân, rẻ tiền là chem chép, nghêu hến. Phải là con phi nướng mỡ hành, giá 60,000 đồng/kí. Rồi con móng tay (vỏ trong suốt như móng tay, lớn bằng cỡ ngón tay út) giá cũng 50,000 -60,000 đồng/kí và thỉnh thoảng có loại hiếm, lớn bằng hai ngón tay người lớn, giá tới 220,000 đồng/kí. Hay con vẹm ( còn gọi là bướm tiên) giá 45,000 đồng/kí. Về các món cá, cao giá nhứt là cá mú cọp - loại mú ngon nhứt và phổ biến ở vùng biển Bà Rịa -Vũng Tàu, chứ không phải các loại kém ngon hơn một chút là mú xanh , mú đỏ và mú chấm thường thấy ở vùng Nha Trang. Giá cá mú cọp là 280,000 – 330,000 đồng/kí tùy con lớn, nhỏ (ở Sàigòn có thể trên dưới 400,000 đồng/kí). Cá mú từ 1,1 – 1,2 kí trở xuống lại mắc hơn loại nặng trên 1,2 kí. Lý do : với các nhóm khách phổ biến là 4, 5 người, gọi một con cá cỡ trên dưới một kí là vừa vặn, ăn không dư cũng không thiếu. Khác với cá dứa, cá bông lau, thường thành món canh chua, cá mú có thể đem chưng tương, hay xắt lát mỏng, ăn sống với sốt Wasabi cay nồng, hoặc hấp bia, hấp hành theo kiểu chế biến cá chẽm. Cũng có vị ngon, béo nổi tiếng là cá nâu (rất hiếm thấy ở Sàigòn), có thể nấu phớt, nấu ngót cà hay chiên, cuốn bánh tráng rau sống, giá 150,000 đồng/kí. Nhìn chung, dù có so với chính những quán trên đảo Long Sơn, chứ không nói gì là so với Vũng Tàu hay Sài Gòn, giá cả ở “nhà hàng” Đực Nhỏ là khá mềm. Thậm chí, khi đã gọi xong món ăn, thức uống, những vị khách thích câu cá ở ngoài khuôn bè, thì nhà bếp sẵn sàng chế biến miển phí mớ cá câu được. Như tại cây cầu khỉ, những chú cá ngát, hường, tráp, đục… , cả loại cá mắc tiền là cá chẽm và cá nâu nữa, rất siêng ăn mồi khi nước sông chảy xiết. Chính anh chủ bè, ngoài hai thứ sẵn có trong bè là cá mú và hàu, cũng phải mua lại các loại sò ốc khác cùng các loại cá ngon do ngư dân bắt được trên sông bằng lưới, cào, câu, rập…

    Từ ghe máy buớc lên bè, khách thường bỏ giày dép để tha hồ đi chân không. Trên các lối đi, những tấm ván ghép thô sơ, ít liền lạc, cũng thường gây khó khăn cho quí bà, quí cô đi giày cao gót. Đi chân không, ngồi xếp bằng trên mặt sàn và dùng tay không để thưởng thức mớ cá nướng, hàu nướng, hay vừa nằm võng vừa xây tua chung rượu thuốc…, mới thấy chuyến đi chơi sông biển này bụi đời mà thoải mái, phóng dật làm sao! Anh chủ còn sẵn sàng cho khách mượn cây ghi-ta mới tinh để tha hồ hát quậy om xóm. Đặc biệt là còn có cây ghi-ta phím lõm năm dây để những ai thích ca cổ cũng có thể thả sức trỗi giọng mùi mẫn. Đã quá hào hứng đến mức say xỉn, muốn kiếm chỗ yên lặng để nằm thẳng cẳng thì khách cứ dùng phòng nghỉ ở cuối giàn bè. Ngủ một vài tiếng cho qua cơn say thì miển phí, còn thuê phòng nghỉ qua đêm thì 250,000 đồng/đêm.

    Từ bao la trời, nước, gió sông lồng lộng thổi vào mâm nhậu, đến lạnh cả da mặt. Hai bên bờ thì xanh thẩm một màu rừng đước. Nhìn về phía cửa biển Cần Giờ mờ ảo xa xa, có thể nhận ra những giàn đáy hiu quạnh và bất ngờ là một ngôi chùa nhỏ xíu, nhô lên từ một bãi cồn ngay giữa dòng sông Rặng. Anh Đực có tới hai chiếc ghe máy nên sẵn sàng phục vụ những chuyến ngao du, ghi ảnh sông nước, với giá 300,000 đồng/ giờ.

    Trước khi lên ghe trở về bến đảo Long Sơn, nỗi thắc mắc của tôi đã được giải đáp. Nhờ đâu mà trong trận bão Durian thổi qua vùng Bà Rịa Vũng Tàu năm nào, đã gây thiệt hại nặng nề cho nhân mạng, nhà cửa trên bờ cũng như các giàn bè dưới sông, mà bè cá “nhà hàng” này lại vẫn bình yên? Nguyên lúc bão thổi tới, may mắn là thủy triều đang “giựt” rất cạn nên giàn bè thấp hẳn xuống và được che chắn bởi khóm cây đước mọc trên đùng tôm cùng rặng rừng đước ở bờ sông. Rốt cuộc cơ ngơi của anh Đực chỉ bị thiệt hại nhỏ là vài chỗ mái lá dừa bị lật tung và không bị thất thoát cá, hàu đang nuôi dưỡng. Ngược lại, anh chủ vui tính này còn được dịp phát tài đột xuất. Nguyên là từ những bè cá – nhất là nhóm bè nuôi cá mú do người Đài Loan đầu tư ở phía Gò Găng, một khúc sông rộng ở đầu trên của sông Rặng – bị gió bão lật tung, cá nuôi sổng ra sông nhiều vô số kể. Lập tức, dân địa phương tràn ra sông để cào, lưới, bắt lại bọn cá mắc tiền này. Sẵn tiền mặt, anh Đực đã tung tiền ra thu mua số cá còn khỏe suốt mấy ngày ròng. Vừa tạm rộng lại chờ bán cho khách vừa chở ghe đem bán liền cho chính những người chủ cũ của bọn cá sổng bè, anh Đực Nhỏ vớ được món lớn: lời gần 70 triệu!

    _________________________________________
© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả ngày 14.03.2012.
Xin Vui Lòng Ghi Rõ Nguồn Newvietart.com Khi Trích Đăng Lại .