Máu Đỏ Trầu Cau







Ngày xưa. Nhà kia có hai anh em Tân và Lang. Hai người ruột thịt, giống nhau như đúc. Giống đến nỗi. Chính những người thân trong nhà cũng nhầm. Tân thành Lang. Lang là Tân. Chẳng ai phân biệt nổi Tân hay Lang.

Cha họ là người cao lớn, khôi ngô, tuấn tú, cường tráng nhất trong vùng. Ông được vua Hùng triệu về Phong Châu ban thưởng. Đặt tên là Cao. Từ đó nhà ông lấy tiếng “Cao” làm tên họ, tạ ơn vua và thoả niềm kiêu hãnh về dòng giống khoẻ mạnh, cao lớn, thông thái. Họ mơ xây đắp gia đình là nơi truyền dòng giống thiêng liêng, thanh sạch.

Đấy cũng là ước mơ của vua Hùng và Việt tộc. Nòi giống Việt phải cao lớn về thân thể và lành mạnh về tinh thần mới đủ sức sống trong an lạc và xây dựng, bảo vệ giang sơn.

Hai anh em lớn lên. Cha mẹ qua đời. Anh em quyến luyến, quấn quyện. Không chịu rời nhau nửa bước.

Trước khi mất, cha gửi gắm Tân cho một đạo sĩ họ Lưu. Khi Tân đến theo học thì Lang cũng không chịu ở nhà một mình. Lang bám Tân từng bước. Lang cố xin thầy cùng được học với Tân. Thầy thương cả Tân & Lang. Cho hai người chung bàn ghế.

Nhà họ Lưu có một cô con gái rất xinh, cùng lứa với Tân & Lang.

Nàng dễ thương hiền dịu, luôn nhìn theo hai chàng, lẩm nhẩm học bài cùng họ.

Nàng bị hai chàng thôi miên. Bởi cái vẻ giống nhau lạ lùng của họ. Nàng xao xuyến nhìn hai chàng quấn nhau như bóng với hình. Nàng bâng khuâng vì không thể phân biệt nổi ai là Tân? Ai là Lang? Ai là anh? Ai là em?

Đôi má nàng ửng hồng e thẹn, bồi hồi trước hai chàng. Trái tim nàng rạo rực. Nàng biết mình đã yêu. Yêu cả hai chàng.

Hai chàng vẫn còn lố ngố, măng tơ, chưa hiểu nổi trái tim cô bé sớm đa tình.

Duy có cái nhìn nghiêm khắc của ông thầy, của người cha, thầm răn dạy nàng:

- Con đã biết yêu. Ta hiểu lòng con và tất cả mọi con người trên thế gian này. Tâm lý và sinh lý phát triển đúng qui luật đời người. Lửa gần rơm. Trai ham sắc. Gái ham tài. Trai gái mê đắm nhau là lẽ tự nhiên. Ta không ngăn cấm. Nhưng! Con chỉ có thể chọn một trong hai người mà thôi. Con phải chọn một chàng để kết hôn. Hôn nhân một vợ một chồng là bước tiến hoá văn minh của Việt tộc. Thời con người chưa tìm ra lửa. Thời con người ăn lông ở lỗ. Con ngươì sống quần hôn. Thơ ngây như chim thú. Ào ào cả bầy đàn. Như gà. Như vịt. Nay Việt tộc chúng ta. Dòng họ Cao chúng ta đã vượt ra khỏi sự quần hôn hoang dã, để bảo tồn và phát triển giống nòi ta cao lớn, thông minh, trường thọ, trong những tình cảm tinh tế, thiêng liêng cao quí, tinh khiết của huyết thống gia đình. Đó là di truyền- máu đỏ trong tim.

Nàng sinh ra từ dòng máu của mẹ cha trong sạch. Nàng hiểu rõ điều cha nói. Nàng đâu đã dám tỏ bày tình cảm yêu thương trong trắng của mình với một trong hai chàng. Theo gương mẹ cha, nàng đâu dám sống vô luân, hoang dã.

Rồi, tình yêu cứ bùng cháy nơi nàng. Nàng quyết định phải tìm hiểu ai là anh. Ai là em. Nàng tự nhủ sẽ chọn một chàng đáng yêu duy nhất làm chồng.

Một hôm nàng bày ra một mẹo nhỏ. Giữa lúc hai chàng đang đói, nàng chỉ dọn cho họ một bát cháo với một đôi đũa. Đứng sau khe vách, nàng nhìn thấy Lang nhường cháo cho anh ăn. Tân ăn một miếng, lại vui cười chia cho em một miếng. Nàng biết Tân là anh. Tân rất vui tính, tinh tế, nhường nhịn, chăm sóc người khác, xứng được nàng yêu.

Từ đó nàng luôn gặp Tân, tình tứ, trao duyên. Lửa tình thầm bén. Thương yêu thắm nồng. Người cha vui lòng gả con gái cho Tân.

Sau lễ cưới. Hai người dọn ra ở nhà riêng.

Khốn nỗi thay! Lang cũng theo ở chung nhà với vợ chồng Tân.

Từ ngày cưới vợ. Tân mê đắm vợ, đôi lúc quên có Lang bên cạnh. Tân vẫn chăm sóc, chiều chuộng em, nhưng không còn đầy đặn, đầm ấm như xưa. Nhiều lúc Tân vuốt ve yêu chiều vợ, bỏ rơi Lang.

Lang buồn cô đơn. Lạnh giá. Không còn tình cảm anh em ruột thịt. Không còn thương yêu nồng thắm như xưa. Lang cảm thấy Tân muốn lánh xa mình. Lang tủi thân. Đau khổ. Chán nản buồn bực thốt lên: “Trời ơi! Anh ấy mê vợ, quên em”.

Lang không muốn chấp nhận sự thật này. Chàng đâu biết, khi người ta có vợ, có chồng chung sống bên nhau, là một thế giới khác mở ra. Thế giới riêng của đàn bà và đàn ông hoà cảm. Cuộc sống khác. Tâm tình con người cũng khác. Không còn chỗ cho kẻ thứ ba chen vào. Dù đó là mẹ cha hay anh em máu mủ ruột già. Mỗi người phải độc lập mà sống thôi. Phải biết tự mình tách khỏi cuộc sống vợ chồng của người ta. Đó là tự tôn trọng mình. Tôn trọng người khác.

Lang ngây thơ. Lang ngu ngơ. Lang dại khờ. Lang không tiến hoá kịp văn minh tinh thần của dân Âu Lạc. Lang trẻ thơ như nhân loại thuở hỗn mang. Quần hôn. Lang chưa đủ lớn khôn để hiểu ra Tính Người. Nó mênh mang bí ẩn như khu rừng rậm rạp. Nó mong manh dễ vỡ. Và cái chết rình rập. Vô hình. Và tính dục có luật lệ nguyên sơ của nó.

Lang không hiểu đạo đức của hôn nhân một vợ một chồng là sự sống tự lập, chung thuỷ, san sẻ hết mình, sở hữu nhau của cặp đôi yêu nhau say đắm trong một gia đình riêng. Và chỉ một cặp đôi đó mà thôi. Không còn chỗ cho kẻ thứ ba. Đó là tính người.

Lang ngây thơ. Lang vẫn cứ ở chung với cặp vợ chồng trẻ. Ngây thơ hơn, Lang đòi hỏi anh phải yêu chiều mình như ngày xưa thơ bé.

Lang ngây thơ. Sự ngây thơ của nhân loại buổi đầu nền văn minh- hôn nhân một vợ một chồng. Sự ngây thơ đó, tất dẫn đến cái chết bi kịch để đời.

Lang cứ dai dẳng sống chung với vợ chồng Tân. Lang nhẫn nhịn sống trong buồn tủi, âm thầm. Không biết cách tự thoát.

Một hôm, Lang và Tân cùng lên nương đến tối mịt mới về. Lang về trước. Chàng vừa đặt chân lên ngưỡng cửa, thì vợ Tân từ trong buồng chạy ra. Nàng ôm chầm lấy Lang.

Lang ngã gục trước cái nhầm lẫn chết người của chị dâu. Giữa lúc đó, Tân bước vào nhà.

Khuất mắt trông coi.

Ai ngờ cái sự đời trớ trêu đáng sợ ấy lại diễn ra trước mặt Tân.

Một cái chết về tinh thần xảy ra giữa ba người.

Một cái chết mang tính người. Tính người nó thế.

Một cái chết do con người tự giết nhau.

Cái chết này không thể đổ lỗi cho xã hội.

Lang bị nhục. Lang xấu hổ. Lang tự dày vò. Không yên. Chàng tự xấu hổ đến nỗi không dám nhìn thẳng vào Tân và chị dâu.

Tân bị xúc phạm. Chàng ghen tuông ngầm ngấm. Uất hận. Nghi ngờ. Sự tinh khiết trong tình yêu chồng vợ đã mất. Tình yêu chết dần từng ngày. Bát nước đã đổ, làm sao vớt lại? Tính người nó thế.

Lang không thể sống vật vờ, tê dại mãi trong trạng thái ba người giăng mắc đến thê thảm như vậy được.

Những đêm vật vã. Những ngày ủ ê. Một sớm mờ sương. Lang bỏ nhà ra đi. Chàng đi. Không biết đi đâu. Chân mỏi mòn bước trên con đường cỏ dại vào rừng sâu, lòng chàng tối đen nỗi nhục sầu. Đi suốt mấy ngày rệu rã tả tơi, Lang gặp con sông lớn trước mặt. Nước chảy xiết. Rừng bủa vây. Không muông thú. Không tiếng gà kêu, chúa sủa. Cảnh tượng thật kinh hoàng. Lang gục xuống bên bờ. Bưng mặt khóc. Chàng khóc mãi. Khóc cho cái gì? Khóc vì cái gì? Chàng cứ khóc mà không biết mình đã gào thảm thiết rừng sâu. Côn trùng, sâu bọ, chim cá, hoa lá, cây rừng, hứng lấy nước mắt của chàng. Thương cảm. Sáng hôm sau, Lang chỉ còn cái xác không hồn. Chàng đã hoá đá.

Từ khi xảy ra chuyện buồn, Tân như kẻ mất hồn. Mấy hôm không thấy em, chàng không hề biết. Rồi Tân nóng ruột cồn cào. Ruột gan nóng như lửa đốt. Tân bồn chồn, mất ăn, mất ngủ, bổ đi khắp nơi tìm Lang. Tìm em hết nhà này sang nhà khác. Xóm nọ sang xóm kia. Không thấy tăm tích của Lang. Tân hối hận. Tân đau đớn. Tân hoảng sợ. Buồn rầu như mất trái tim. Tân biết mình có lỗi. Tân vì mê muội ái tình riêng, bỏ mất tình anh em ruột thịt. Biết làm sao bây giờ? Tân quằn quại trong bóng tối gọi Lang:

-Em ơi! Em ở đâu? Biết tìm em nơi đâu? Anh có thể bỏ mọi thứ, đổi lấy em về. Em ở đâu? Không có em, anh sẽ sống ra sao? Đời anh mất em rồi. Em ở đâu? Hỡi tình ruột thịt. Ôi! Máu mủ ruột già. Hỡi cha mẹ nơi chín suối! Nỗi đau này con biết sống làm sao?

Tân nóng ruột như lửa đốt. Anh đi lang thang. Chân bước đi tìm em. Lòng não phiền xa xót. Tân lê thê đi tìm em, đi mãi đến bờ sông. Bỗng khí lạnh ùa tràn. Tân sởn gai ốc nhìn thấy hòn đá in bóng hình Lang hoá đá.

Lang gọi anh. Lang chờ anh. Lang bơ vơ quằn quại trong bể sầu. Hồn đau. Không hoá giải.

Tân khóc. Tiếng khóc hoà tiếng nước chảy xiết. Tiếng khóc chạm vào đá núi, rừng cây, cuồn cuộn mây gió, bão, giông lòng người. Tân chết khô, hoá cây thân mọc thẳng vút trời xanh, bên cạnh hòn đá Lang đợi anh.

Vợ Tân ở nhà chờ mãi không thấy chồng về. Nàng bỏ nhà ra đi tìm chồng trong đêm tối. Nàng vừa đi vừa khóc gọi chồng. Nàng tới con sông gặp Tân và Lang hoá đá, hoá cây đứng bên nhau. Nàng hiểu ra, bi kịch này quá lớn. Không gì có thể chữa nổi, ngoài cái chết. Chết cả thể xác và tâm hồn. Và nàng chết. Người vợ chết bên cây, hoá thành dây leo quấn lấy thân cây. Chồng nàng đây. Vợ chồng sống cùng sống, chết cùng chết, luôn ở bên nhau. Đó là tính người, sau khi đã thoát khỏi cảnh quần hôn hoang thú.

Vợ chồng đạo sĩ họ Lưu đợi mãi không thấy ba người trở về. Họ nhờ người chia nhau đi tìm kiếm. Họ tìm khắp nơi, gọi tên ba người. Bên bờ sông vắng lặng, hòn đá và hai cây lạ âm vang tiếng nức nở yêu thương. Tiếng nức nở như nước khóc, sóng xô, gió xoáy, buốt lạnh trái tim. Dân làng cảm thấu tình yêu thương máu thịt, xúc động trước hòn đá và hai cây lạ chở linh hồn của ba người, của anh em, vợ chồng thiêng liêng, đã dựng miếu thờ. Họ gọi tên là miếu “Anh em hoà thuận, vợ chồng tiết nghĩa”. Dân làng thường xuyên nhang khói phụng thờ và kể chuyện tình đau đớn tạc không gian. Họ ngầm nhắc nhau tránh những phút giây mê muội trong cuộc sống gia đình, và tình yêu một vợ một chồng. Gia đình là hạnh phúc ấm êm, thiêng liêng. Gia đình là địa ngục. Gia đình là tổ quỉ. Tổ Tiên Việt tộc đã phải trả giá cho Hạnh Phúc Gia Đình bằng cái chết của ba người hoá đá, hoá cây.

Bỗng một năm. Trời hạn hán. Dòng sông khô cạn. Cỏ cây, hoa lá héo khô. Duy hai cây mọc cạnh hòn đá bên miếu thờ vẫn xanh tươi, lá quấn mượt mà. Mọi người cho là linh dị. Tiếng đồn lan xa.

Một buổi trưa, vua Hùng ngự giá qua miếu. Vua ngạc nhiên, thanh thản ngắm dây leo quấn cây tình tứ, dịu hiền bên cạnh hòn đá hình người linh diệu. Vua hỏi sự tình nảy sinh cây lạ:

- Ta đã từng đi khắp núi sông, xem xét phong thuỷ, ngắm nước non thuỷ tú, ngâm ngợi cùng muôn loài hoa lá, có cây, chim thú, nhưng chưa thấy cây lá nào lạ như hai cây này. Miếu này ngát hương, nồng nàn hơi ấm con người. Miếu thờ vị thần nào vậy?

Vị Lạc tướng cho gọi mấy cụ già trong làng ra trả lời câu hỏi của vua. Các già làng tôn nghiêm kể chuyện cái chết bi thương cảm động của hai anh em ruột, của đôi vợ chồng. Cái chết như dòng sông cuộn trôi muôn đời trên nước non cẩm tú, gợi mối sầu, gợi tình thương yêu bất tử, như máu chảy về tim.

Vua Hùng lắng nghe. Nỗi xúc động dâng trào trong tim người thủ lĩnh Việt tộc đầy nhân tính. Vua nâng lá trầu xanh mát hình trái tim trên tay. Nhìn lên cây cao thấy những chùm quả xanh tươi, vua sai người trèo lên hái.

Vua cầm lá, quả ngắm nghía. Lá, quả toả hương. Lá, quả mát mơn man. Lá, quả đều xanh hình trái tim. Vua linh cảm quả lá cây lành. Vua từ từ nếm thử. Vị chát của quả rất hấp dẫn. Khi nhai quả với lá dây leo thì vị hương lạ tràn đầu lưỡi, vừa ngon ngọt, vừa cay cay, thơm thơm đến nao lòng. Nhai một lúc, người nóng bừng như có hơi men từ thẳm sâu Trời Đất Con Người dâng hiến. Nhổ nước xuống hòn đá. Nước chuyển màu đỏ như máu. Màu đỏ máu trái tim ba con người hoà quyện.

Mọi người kinh ngạc. Không thể tin. Mà là sự thật. Họ kêu lên: “Trời ơi! Máu. Máu của trái tim tình yêu”.

Vua thốt lên:

-Thật là linh dị. Đúng là hai anh em, hai vợ chồng họ quấn lấy nhau thành đá, cây, lá dây leo rồi. Tình yêu thương của họ quyện thành máu đỏ nồng nàn tưới nhân gian. Ta đặt tên cho cây là cây cau vút lên tầng vũ trụ, dây leo là dây trầu quấn quyện tình chồng, nghĩa vợ, và hòn đá vôi ân nghĩa anh em. Mọi người hãy ăn trầu, cau, trộn chút đá vôi, ấm áp tình người, nhắc nhau gìn giữ tình yêu thiêng liêng.

Dân làng theo vua, nhai trầu cau, vôi. Môi họ hồng. Răng họ chắc. Tình nồng ấm thơm tho.

Từ đó, vua Hùng ra lệnh khắp nơi trên đất nước Hùng Vương phải trồng trầu cau trong vườn nhà, bờ bến, chùa, đền, miếu. Tục ăn trầu của riêng Việt tộc trên thế gian này bắt đầu từ đó. Đặc biệt vua Hùng ra luật bắt buộc trai gái khi kết hôn phải tìm cho được trầu cau, vôi, têm trầu cánh phượng, dâng Đất Trời Tổ Tiên và mời mọi người ăn trầu mừng lễ cưới. Máu Đỏ Trầu Cau ghi nhớ tình yêu là máu ở trong tim. Lễ cưới lấy Trầu Cau làm biểu tượng nhắc cặp uyên ương không bao giờ quên bi kịch Trầu Cau. Hạnh phúc gia đình linh thiêng và rất mong manh, phải trả giá bằng máu Trầu Cau. Ai say mê quần hôn thì đừng giở chuyện cưới vợ, cưới chồng. Ai say mê quần hôn thì ở vậy một mình. Đó là luật của Máu Đỏ Trầu Cau từ thời Hùng Vương dựng nước đã mấy nghìn năm.

Hơn hai nghìn năm sau. Thế kỷ XXI. Cháu con vua Hùng vẫn giữ tục ăn trầu. Trầu Cau vẫn được dâng lên lễ cưới. Nhưng cái chết Trầu Cau vẫn xảy ra đâu đó. Từng ngày. Máu Đỏ Trầu Cau vẫn loang loáng đâu đây. Bất kể gái trai, tuổi tác, cái chết Trầu Cau luôn xuất hiện.

Có thể lời nhắn gửi của vua Hùng đã phôi pha. Hay là con người mọi thời, dù biết mê muội yêu đương và quần hôn là chết, mà vẫn lao vào cái chết.

Thời hiện đại. Người Việt vẫn say sưa khúc hát Trầu Cau. Nước mắt tuôn theo nhạc Trầu Cau đầy nhân tính:

“Ngày xưa có hai anh em nhà kia/ Cùng yêu thương một cô gái làng bên/ Người anh chỉ muốn kết duyên cùng nàng/ Ôi! Ta buồn ta đi lang thang bởi vì đâu/ Cùng yêu thương ở cùng nhau, bỗng đâu chia lìa/ Nhìn nước cuốn, lệ tuôn rơi biết bao buồn thương…

Rừng sâu tìm em biết phương nào/ Bao nhiêu đau lòng, ta đâu thấy hình em/ Thôi hết rồi, phút giây thơ ngây êm đềm/ Ôi! Ta buồn ta đi quyên sinh cũng vì em…

Trong yêu thương, nàng ra đi mong kiếm tìm chồng đâu/ Đây cây rừng thông reo vi vút biết chồng yêu nơi nao/ Mây ơi! Xin đừng bay cho ta nhắn đôi câu/ Đây hương hồn em theo anh đến trời cao/ Lưu luyến tình xưa âu yếm trầu leo lên thân cau/ Ngàn sông sâu, ngàn lệ réo, dòng xuôi trôi gợi khối sâu…”

Thế kỷ XXI. Người kể chuyện Máu Đỏ Trầu Cau đã đi qua cuộc đời. Nàng hiểu nàng và một số người khác đã từng thoát hiểm qua những phút mong manh tơ nhện Trầu Cau, nhờ linh cảm Trầu Cau. Đó là tính người. Con người nhạy cảm, tràn tính người, sẽ vượt thoát từ mỏng mảnh Bóng Tối về Ánh Sáng. Họ tránh được cái chết Trầu Cau.

Nàng cảm thấu Máu Đỏ Trầu Cau là máu Tiên Rồng răn dạy cháu con cách sống làm người, biết yêu thương gia đình, huyết thống. Biết sống thuỷ chung, tinh sạch trong gia đình một vợ một chồng, vốn cũng là tổ quỉ. Cách dạy không bằng lý sự, thuyết giáo mà bằng tính người. Cha Mẹ Tiên Rồng đã dạy cháu con bằng cái chết của chính mình gửi vào Máu Đỏ Trầu Cau. Dạy bằng hành động ăn trầu cau để ghi nhớ tính người.

Ngày nay, kể chuyện Máu Đỏ Trầu Cau ta bỗng thấy cồn cào nỗi ân hận, xin khơi trầm, sám hối Mẹ Cha Tiên Rồng. Sám hối rằng:

- Con chót dại ngu mê thường nghĩ Tổ Tiên Việt tộc bao nhiêu nghìn năm không sản sinh ra những nhà triết học, phát minh ra học thuyết này, lý luận kia gửi lại cho con cháu. Để chúng con phải mò mẫm học theo các vị Lão Tử, Khổng Tử, Phật Thích Ca Mâu Ni… và rất nhiều ông phương Tây có những cái tên dài dặc, đọc còn chưa hiểu, viết không ra… để mong thành người, sống an lành kiếp hữu hạn. Nay con biết con nhầm con dại. Máu Đỏ Trầu Cau đẫm tính người đã được Cha Mẹ Tiên Rồng phát minh bằng trực cảm tính người truyền đời con cháu, cách đây nhiều nghìn năm. Phát minh Tính Người tinh tế Việt tộc sinh ra trước cả thời Nho, Phật, Lão, Thiên Chúa giáo rất xa, mà chúng con mù mờ, bây giờ mới biết.

Kinh Thánh Cựu ước đưa ra Luật về sự Thánh Thiện trong đó có những điều cấm về sinh dục:

“Không người nào trong các ngươi được đến gần một người bà con ruột thịt để lột trần chỗ kín của nó… Ngươi không được lấy chị em của vợ ngươi mà gây ra cảnh ghen tuông… Đàn bà trơ trẽn đưa đến nhục nhằn… Đừng để nhan sắc đàn bà lôi cuốn con và cũng đừng ham muốn phụ nữ…”

Những điều Thiên Chúa răn dạy con người, Cha Mẹ Rồng Tiên đã gửi vào Máu đỏ Trầu Cau và biết bao câu truyện cổ tích, những huyền thoại trực giác Tính Người trước khi Kinh Thánh ra đời.

Nay con biết con nhầm con dại. Xin qui phục Mẹ Cha Tiên Rồng. Xin nguyện quay đầu về huyết thống Rồng Tiên. Không màng chữ sáo. Không mê sính ông xa, ông lạ tận đẩu tận đâu. Không viết ra những chữ khuyếch khoác. Mệt đầu. Không chắp vá, khập khễnh chẳng ra sao. Không khoe tài, khoe giỏi bằng những lời vay mượn, dẫn tên Tây, tên Tàu, mà chẳng hiểu họ thế nào. Con đã biết Mẹ Cha Tiên Rồng, mở văn minh nhân loại từ rất xa xưa. Không sống quần hôn đã lâu lắm. Lâu lắm rồi. Mọi sắc thái tình cảm tinh tế tính người, Mẹ Cha Tiên Rồng đã đủ lời diễn tả. Bởi Mẹ Cha tiến hoá trước bình minh. Chẳng có gì thuộc về Con Người mà Mẹ Cha không biết và đã truyền dạy chúng con, không vay mượn nước ngoài. Tiên Rồng đã từng xây đắp nước Văn Lang văn minh, hùng mạnh, chan chứa Tính Người. Mười tám đời vua Hùng dựng nước. Mỗi Đức Vua đều là một anh hùng văn hoá, khai sáng, mặc khải cho dân Việt tộc tiến hoá nhanh về tinh thần, trở thành Con Người hoàn thiện.

Nay con biết con nhầm con dại. Xin chảy về hoà Máu Đỏ Trầu Cau.



Hồ Gươm Xuân Nhâm Thìn 2012
___________________________________________




© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng tải theo nguyên bản của tác giả từ Hà Nội ngày 23.02.2012.
Trích đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com