TÁC GIẢ
TÁC PHẨM





NGUYỄN THỊ DIỆP MAI

. Sinh năm 1972, tại Cà Mau.
. Hội viên Hội Văn Nghệ Kiên Giang
. Hiện công tác tại Trung tâm Xúc tiến Du lịch tỉnh Kiên Giang (Kien Giang Tourism Promotion Center)
. Sở trường về viết Tiểu Thuyết, Truyện Ngắn.









Xóm Đêm tranh của họa sĩ Nguyễn Thế Cường






SONG XA PHÁO ĐẦU


Cậu Trí kêu tài xế tốp lại. Chiếc xe đò vừa trờ huốt ngã ba Tà Niên chút xíu. Cậu Hai Trí thong thả bước xuống xe. Thằng lơ đon đả :
- Cậu Hai về khỏe ! Cho con gởi lời thăm ông bà Hương cả với mợ !
Xe đi rồi, cậu Trí phủi phủi mớ bụi vừa phả ra từ sau chiếc xe bám lên chiếc áo sơ-mi cổ cồn cao. Tuần nào cậu về nhà cũng vào đúng chiều thứ bảy. Thật ra từ Rạch Giá về Tà Niên đâu có xa xôi gì lắm đâu nhưng cậu ngán đoạn đường đi bộ từ lộ cái về nhà. Con lộ vắt vẻo cả ba, bốn cây số xuyên qua cánh đồng chung của làng Vĩnh Hòa Đông và Vĩnh Hòa Tây. Cậu Trí vừa đi vừa lơ mơ nhìn cánh đồng lúa đang đầu mùa gặt. Khoảnh ruộng gặt rồi trưng ra gốc rạ đều băng băng. Đám chưa gặt lúa quằn quá ngã thành một dề màu vàng xám loang lổ. Chỗ lúa vừa rộ chín nguyên trân một màu vàng rôïm đến sướng mắt. Năm nay lúa trúng vậy chắc là hội phải lớn. Ông Hương cả Thân biểu cậu xin phép nghỉ thêm hai ngày để về nhà theo hầu ông việc đình ngày hội. Cả hai làng chỉ có mỗi mình cậu là cử nhân, làm việc cho Sở Công Chánh. Cậu về dự hội là niềm vinh hạnh của làng Đông, nhứt là ông Hương cả nở mặt nở mày.

Xưa, làng Vĩnh Hòa chỉ là một. Từ ngày chánh quyền cho mở con lộ nhỏ đi thẳng xuống kinh Tà Niên thì mới phần ra thành Vĩnh Hòa Đông và Vĩnh Hòa Tây. Người trong làng cũng tự dưng tách thành hai, nửa bên Đông coi nửa bên Tây như làng khác dù rằng vẫn chung đình thờ cụ Nguyễn Trung Trực và chùa Hoa Vân. May mà đình thì ở làng Đông, chùa ở làng Tây nên bà con qua lại còn mối giao hảo thâm tình. Rằm tháng Giêng là ngày chánh lễ cúng đình của hai làng. Sáng tinh mơ ngày mười bốn, các cụ hương chức cả hai làng khăn áo chỉnh tề cùng dâng hương ở chùa Hoa Vân xin rước sắc thần về đình làm lễ. Sau ba ngày lễ hội, các cụ lại cùng nhau thân hành đưa sắc thần về chùa Hoa Vân thờ phụng. Lệ cả trăm năm nay không sai năm nào. Trong ba ngày đó hai làng mở nhiều cuộc đua tài. Làng nào được giải thưởng nhiều thì năm đó sẽ làm ăn phát đạt. Trong những môn đua tài, thi đấu cờ tướng được xem là môn quyết định chung cuộc thắng thua.
Hơn chục năm nay, ông Hương cả Thân giữ chức "Kỳ Thủ" khiến cho làng Tây giận đến thâm gan nhưng không biết phải làm sao. Năm nay có một ông tú già vừa về cất nhà ở làng Tây, nghe đâu cũng là tay cao cờ thách ông Hương cả đấu ba ván để gỡ thể diện cho làng. Ông Hương cả cao hứng kêu cậu Trí về, một là để khoe con, hai là để cậu có dịp học thêm vài chiêu cờ của bậc kỳ thủ. Cậu Trí đành vâng lời cha mà về dự chứ thật ra đâu có khoái gì việc "dạ, thưa, kính" đến mỏi cả miệng suốt ba ngày liền.
Cậu Trí đi ngang cây tra bồ đề cổ thụ um tùm nằm choi loi một mình trên cái gò cao giữa đồng. Không biết từ thuở khai làng lập đất nào mà đã có cây tra này. Dưới gốc cây có miếu thờ thổ địa nay đã thành hoang phế. Cậu Trí đưa mắt ngắm nghía gốc cổ thụ. Nó vẫn tốt nguyên. Hồi nhỏ, khi nào theo cha đi thăm ruộng là cậu được đưa đến đây để đốt nhang cho thổ địa. Trưa nào nóng nực hay có chuyện buồn vui gì, cha cũng hay dẫn cậu ra đây ngồi một lúc rồi về. Dường như gốc cây này đối với cha cậu là chỗ để nương nhờ tinh thần thì phải.
Về đến nhà trời đã chạng vạng. Vợ cậu Trí đã dọn cơm sẵn, đợi cậu về cùng ăn với cả nhà. Cậu bước vô nhà, lấy cái nón nỉ xuống, khoanh tay hướng về phía ông bà Hương cả đang ngồi trên bộ tràng kỷ:
- Thưa ba má, con mới về !
- Ừ. Vô nhà sau rửa mặt mũi, thay đồ mát mà ăn cơm !
Ông Hương cả ngắm nghía cậu, tay trái vuốt bộ râu dài một cái. Ông lại quay sang nói tiếp chuyện với bà Hương cả. Cậu Trí nghe lời ra nhà sau. Mợ Trí bụng chửa vượt mặt, lom khom máng bộ quần áo lụa mặc ở nhà của cậu lên vách buồng tắm. Cậu khoát tay :
- Mình bụng dạ như vầy đừng đi tới lui chỗ nước nôi nhiều. Té thì sao ? Có việc gì thì biểu mấy đứa nhỏ làm được rồi.
Mợ bước ra giọng nhẹ như than:
- Lâu lâu mình mới về, em muốn chăm sóc cho mình một chút thôi.
Cậu nghe mà xót dạ. Mợ là con gái nhà điền chủ danh giá bên Tắc Cậu, đẹp gái lại ngoan hiền. Mười chín tuổi được ông bà Hương cả cậy mối may sang hỏi cưới cho cậu. Cậu không thích thục nữ chốn thôn quê, cả đời chưa bước chân lên tới chợ tỉnh. Lúc cậu đang chuẩn bị thi học tú tài toàn phần ở Sài Gòn, ông Hương cả nhắn tin biểu về nhà có chuyện gấp. Về đến, nhà đã dựng rạp, giăng hoa rồi. Cha của cậu luôn coi chuyện hôn nhân đại sự của thằng quí tử duy nhất này là chuyện của bậc sanh thành. Cậu Trí không biết làm gì hơn đành vâng lời mặc đồ chú rể. Cưới xong, cậu đi một mạch đến tốt nghiệp cử nhân luật mới trở về Rạch Giá. Năm năm trường dài đăng đẳng mợ Trí một mực hiếu thảo với cha mẹ chồng không nửa lời than oán. Tấm chân tình của mợ đã khiến cậu Trí nguôi ngoai được nỗi giận phải chia lìa tình yêu với người bạn gái cùng lớp thuở trước. Cậu bắt đầu thương mợ. Nhờ vậy mà ông bà Hương cả mới sắp được có cháu bồng. Ai cũng khen nhà ông Hương gia giáo nghiêm minh, con học chữ Tây giỏi vậy chớ lời cha nghe râm rấp không cãi nửa câu. Nhưng chuyện nhà ai nấy biết. Ông Hương tốn không biết bao công sức mà kể để có được thằng con trai toàn vẹn như vậy.
Mợ Trí khoanh tay thưa ông bà Hương cả vô ăn cơm. Cơm nước xong, ông Hương cả biểu con dâu pha trà, đem bộ bàn cờ ra bộ ngựa ngoài hiên cho ông. Mấy đứa ở biết ý nên đã đốt sẵn hai ngọn đèn huê kỳ treo lên hai đầu hồi. Ngày đầu tiên cậu Hai Trí về nhà là phải hầu cờ cho ông. Cậu thông minh từ nhỏ học chơi cờ rất nhanh. Tới bây giờ tuy chữ Tây một bụng nhưng ít có người nào trong vòng năm ván mà thắng được cậu. Nhưng đánh với cha bao giờ cậu cũng là người thua ván đầu và ván cuối.

Ông Hương cả có một bộ bàn cờ bằng cây mun lên nước bóng dợn. Con cờ bằng thứ ngà voi ở bên Miến Điện càng đánh càng trắng, trong ngời. Chữ khắc trên từng con cờ tinh xảo đến từng nét đá. Màu nhuộm là thứ phẩm đặc biệt không bao giờ phai. Hồi xưa ông nội cậu Trí rất mê cờ tướng. Ông công phu tìm thầy giỏi đặt làm bộ cờ nầy mất cả chục ngoài lượng vàng mười. Giờ chỉ khi nào có địch thủ là người tôn quí, ông Hương cả mới đem bộ cờ ra đánh chơi thôi. Cậu Trí tút tắc sắp cờ ra bàn, rót trà mời cha. Đám đàn bà đã rút ra nhà sau để sai biểu mấy đứa ở chuẩn bị đồ ăn uống đãi khách lên dự lễ cúng đình ngày mai.
- Song xa xuất thủ.
Ông Hương tấn trước. Ông nổi tiếng với đôi xe công, song mã thủ biến đổi thâm trầm không thể lường trước.
- Pháo đầu nginh địch.
Ngược với cha, cậu Trí rất giỏi trong việc dùng đôi pháo và quân chốt để vây thành. Cứ thế hai cha con tấn thủ hào hứng. Cậu Trí vừa chống sĩ đỡ mặt tướng, vừa hỏi:
- Con nghe nói ông Tú ở làng Tây là thầy giáo ở thị xã mới về hả ba ?
- Ừ, ổng là địch thủ đáng nể đó. Ba với ổng đã đánh chơi mấy lần. Ổng có chiêu "Xảo tiên đoạt môn" cực độc luôn. Ngày mai con sẽ thấy kỳ phùng địch thủ. Ráng mà học mấy chiêu độc đó. Ba bảo đảm không ai chơi lại con đâu. "Chiếu".
- Hồi tượng. – Cậu Trí rút tượng về thí để cứu vãn tình thế. Đã muộn, cậu đành giơ tay xin thua. Xếp ván cờ mới, thong thả – Bây giờ con làm việc theo kiểu Tây, ba cứ bắt con học mấy thứ nầy tốn thời gian muốn chết.
- Là người Nam thì phải học cái tinh hoa của ông bà chớ.
Cậu Trí nín thinh vì có tranh cãi cũng không ích gì. Ông Hương cả mà muốn thì như trời muốn thôi. Ván thứ ba cậu Trí thắng bằng chiêu "Nhơn Quí chinh đông". Ván thứ tư cậu lại thắng bằng một chiêu "Pháo thần đoạt thủ". Ông Hương cả thấy nóng mặt vì thua liên tiếp. Ông chăm bẩm vào từng nước cờ. Cậu Trí cứ ung dung. Đánh cờ chẳng qua là một trò giải trí, thà cậu ngồi hầu cờ sáng đêm còn hơn là phải nghe cha nói chuyện sống sao cho phải đạo của ông bà xưa. Ông Hương cả nghiền ngẫm thế cờ con xe của ông vừa lọt vào. Một thế cờ không có tên nhưng lại rất công hiệu. Cầm chắc một trong hai con xe phải "chết" một con rồi. Giỏi như ông mà lại phải "hy sinh" con xe kể như cầm chắc thua, ráng lắm là thủ huề. Ông ngâm nghi mãi tìm cách tháo ra. Con ngựa phải lùi ba. Cậu Trí độn chốt ngang xiết chặt vòng vây quyết lòng bắt cho được con xe của đối thủ. Ông Hương cả lại đờ ra suy nghĩ.

Đêm tối thui, trăng lặn mất tự đời nào. Xóm giềng gần đã đi ngủ hết. Xa xa vọng lại tiếng đờn vọng cổ dây Rạch Giá nghe buồn nẫu ruột. Chắc là đám nhậu khuya nào chưa tàn cuộc. Cậu Trí đưa tay che miệng ngáp dài. Ông Hương cả cứ ngồi trước thế cờ độc mà cậu học trò quí tử ví chết đôi xe của ông. Cậu Trí với tay lấy cái bình thủy, châm thêm nước vào bình tích. Rót trà ra ly thêm cho cha, cậu rót ực cạn một ly. Cơn buồn ngủ vẫn không bớt. Chừng mười lăm phút nữa rồi mà ông Hương cả vẫn chưa quyết được. Cậu Trí lại ngáp:
- Nhanh đi ba ! Có một nước cờ mà hơn nửa tiếng rồi.
Ông Hương cả tự ái. Năm tuổi ông đã chơi cờ tướng, không tin một nước ví tầm thường này làm ông thua được. Ông đẩy con xe bên trái lên thí. Cậu Trí thản nhiên quăng pháo lên ăn đánh cốp. "Chiếu". Chẳng những ông mất con xe mà còn bị vây khốn. Ông đẩy con tượng lên thí. "Cốp". "Chiếu". Con chốt sang sông nằm ém trong góc đột nhiên xuất kích ẳm gọn con tượng của ông. Ông Hương cả không kịp suy nghĩ đẩy ngựa về che mặt tướng. Cậu Trí chặt lưỡi:
- Ba à, mất xe bây giờ.
Lời cảnh báo của cậu đã muộn vì con xe còn lại của ông muốn toàn mạng chắc là chuyện không dễ. Ông Hương cả nghe nóng ran chân tóc, giọng hỏi hơi run run:
- Thế gì đây ?
- Con tự nghĩ ra. Chưa đặt tên.
- Thế cờ thì phải có tên chớ.
- Ờ… thì. – Cậu Trí biết cha đang tìm cách gỡ gạt. – "Thần pháo kinh thiên" được không ba ?
Ông Hương ngậm ừ trong miệng. Một lúc, ông lấy hết can đảm nói nhỏ:
- Cho ba hồi một nước !
- Thua thì thua cho rồi chứ hồi làm gì.
Ông Hương nóng bừng, máu dồn lên mặt. Ông hạ mình xin hồi một nước mà thằng quí tử trả lời một câu lạnh tanh vậy. Ông xô bàn cờ sang bên, đứng lên chỉ mặt cậu Trí:
- Cậu làm con vậy đó sao ? Tui banh da xẻ thịt nuôi cậu đến bây lớn, giờ chỉ xin nhường một nước mà cậu làm cao vậy hả ?
- Trời ơi, ba à ! Đánh cờ chơi thôi mà. Sao ba cố chấp dữ vậy ?
- Dám nói tui cố chấp hả ? Đồ bất hiếu !
Cậu Trí nhịn hết nổi, đứng dậy:
- Ba thật là vô lý ! Con không nói chuyện với ba nữa.
Nói xong, cậu xỏ dép đi tuốt vô buồng riêng, không nhìn thấy hàm râu dài của ông Hương cả run bần bật. Từ nhỏ đến giờ lần đầu tiên cậu nổi giận với cha. Ông Hương cả ngồi bệt xuống bộ ngựa. Cố kiềm cơn giận đang bốc lên tới óc o, ông nghe tiếng mợ Trí thỏ thẻ:
- Mình cãi chi với ba ? Ba giận rồi đó.
- Chuyện phải thì nói. Tui có làm gì đâu mà ba chửi tôi bất hiếu ? Ba lúc nào cũng luôn miệng người quân tử phải đường hoàng chính chính. Ba tẩm ướp tui đủ thứ nghĩa khí của người xưa vậy mà ba đâu có làm theo. Chỉ là chuyện cờ chơi mà lôi công sinh thành dưỡng dục ra để chửi. Thua thì chịu thua, có gì đâu mà sĩ diện. May là đánh với tui, chớ đánh với ông Tú làng Tây xin hồi một nước thì chắc lạy người ta luôn.
Rồi tiếng cậu Trí nhỏ dần. Sau im hẳn. Cậu nói như đóng vào tai ông. Lời của cậu giống như người ta đóng cây đinh bẩy phân vô tấm ván gõ. Khó tưng tức từng chút một nhưng đóng dính rồi không tài nào rút ra được. Ông điếng người nhìn xuống bàn cờ. Hồi xưa tới giờ ông luôn là người cha mẫu mực. Ông làm gương mọi việc cho con học theo. Nay giờ chỉ vì giành thắng một ván cờ mà nó coi ông như thứ ngụy quân tử. Nghĩ tới đó nghe cục gì nghẹn ngang cổ. Đồ cái thứ quân… ! Gẫm cho cùng mình cũng đã là người thua. Chỉ gì một chút sĩ diện mới mở miệng xin hồi một nước cờ. Gẫm cho tới cùng cũng tại mình dỡ. Suy tới ngọn thằng nhãi ranh nói cũng đúng. Tới nó, ông còn đánh thua thì nói gì đến việc tranh tài với ông Tú. Ông đại diện cho cả làng Đông, cho cả dòng họ Ngô chứ đâu phải chỉ là chơi cho vui. Mà để thua người ta trước mặt bá quan văn võ thì còn gì mặt mũi để sống. Mình đã hết thời thật rồi ! Càng nghĩ ông càng ức. Bao nhiêu tình thương thiêng liêng dành cho thằng Hai Trí như vậy mà nó không chút nương tình. Mắng cha son sỏn. Gia đình gia giáo nghiêm minh có tiếng năm đời nay. Cả đời ông chưa từng bao giờ làm trái ý ông nội thằng Trí chứ đừng nói gì đến cãi lại. Vậy mà… Chuyện cha con ông gây lộn chỉ vì ván cờ đánh chơi đồn ra ngoài thì biết phải chui đi đâu cho đỡ ngượng mặt. Tức quá là tức ! Ông Hương cả chịu hết nổi đứng lên xỏ guốc đi ra khỏi nhà.

Tờ mờ sáng rồi mà ông Hương cả vẫn chưa về. Cả nhà táo tác đi kiếm. Cậu Trí giờ mới hối hận chuyện cãi vả tối hôm qua. Chỉ vì một chút hiếu thắng mà đã khiến cha giận đến nỗi mất ngủ, bỏ đi đâu không biết. Thôi thì tìm được rồi, cậu sẽ xin lỗi, sẽ đích thân pha nước cho ông tắm. Mấy cụ hương chức đã đến trước cửa gọi ông Hương cả đi ra đình làm lễ. Cậu Trí đành bước ra nói dối là cha cậu đang mệt, chút xíu nữa sẽ đến sau. Mấy cụ dặn đi dặn lại ông Hương cả phải thật tĩnh dưỡng đến chín giờ ra đình bắc đầu cuộc đấu cờ. Cậu Trí ruột gan rối bời dạ dạ vâng vâng.
Một lúc sau, mấy đứa ở về báo tìm khắp xóm không thấy ông Hương cả đâu. Cậu Trí thần người một lúc chợt nghĩ có lẽ ông đi ra miếu thổ địa dưới gốc cây tra bồ đề. Cậu vội vàng thay quần áo đi ngay. Mợ Trí hỏi với theo đi đâu, không trả lời cậu đi thẳng.

Gần chín giờ, cậu Hai Trí trở về nhà, mặt mày phờ phạc, quần áo lấm lem sình đất. Má hỏi : "Ba đâu ?", không thèm trả lời. Mợ hỏi : "Mình té ở đâu mà dơ hết mình mẩy ?", không thèm nói. Cậu Trí ngồi im trên bộ ngựa như ông thiềm thừ. Mắt đỏ chạch. Mặt cứng như tượng ông Ác. Cả nhà không ai dám hỏi thêm. Tiếng trống tế lễ vừa dứt. Tiếng trống hội vang lên dồn dập. Cậu Trí bừng tỉnh như vừa qua một cơn mơ dữ. Mợ Trí sợ tái xanh ngồi nép ở góc bộ tràng kỷ. Cậu Trí uể oải đứng dậy biểu mợ vô buồng lấy bộ quần áo lễ của ông Hương ra. Kêu tụi nhỏ chuẩn bị nước cho cho cậu tắm. Trống hội giục hồi thứ hai, cậu Trí bước ra cửa chỉnh tề trong bộ áo dài the khăn đống của cha. Cậu cẩn thận ôm chiếc hộp đựng bộ cờ gia truyền. Không nhìn ai, thong thả đi về phía đình.

Sân đình náo nhiệt. Bàn cờ đại đã được bày sẵn ra giữa sân. Hai người khiển quân mặc áo đen, áo đỏ, đầu chích khăn vàng nóng ruột chân cẳng cứ rậm rịp. Ông Tú làng Tây áo the, râu dài lốm đốm bạc phe phẩy cây quạt lông chim ô. Cậu Hai Trí bước vào cổng đình, người đến xem dạt qua hai bên nhường lối. Ai cũng sửng sốt vì bộ đồ lễ cậu mặc trên người. Xưa nay cậu chỉ mặc đồ âu, ghét nhứt là cái khăn đống đậy lên đầu. Cậu Trí xá xá chào các cụ trưởng bối của hai làng. Tiến đến bàn thờ chánh, đặt cái hộp đựng cờ lên trước lư hương. Thắp ba nén nhang. Cậu Trí lầm rầm đứng khấn. Mắt cậu như có nước. Không biết tại khói nhang hay tại cậu xúc động trước vong linh của các bậc thánh thần hiển hách. Xong. Cậu Trí cầm hộp cờ đặt lên bàn, ngỏ lời xin làng cho mình thay ba đấu với ông Tú. Cậu thưa ông Hương cả bị mệt, ủy quyền cho cậu đến thi đấu, bằng chứng là cái hộp cờ gia truyền được mang đến. Hương chức làng Đông quá bất ngờ phải hội ý một hồi. Không còn cách nào khác phải chấp nhận. Các cụ ừ thì ừ thiệt chứ lòng dạ như sôi. Ai cũng biết cậu Hai Trí giỏi giang nhất vùng nhưng cuộc đấu này là vinh dự của cả làng, cả dòng họ nhà cậu chứ đâu phải chuyện chơi. Ông Tú gật đầu chấp thuận. Bộ cờ của đình được thay bằng bộ cờ quí của ông Hương cả. Trống hội điểm ba hồi báo hiệu cuộc đấu bắt đầu.
- Kính cụ đi trước !
- Long hội xuất hải. Chốt một.
- Pháo đầu hội chúng. Pháo ba.
Tiếng hô từ người xướng trong đình vọng ra sân. Người khiển quân bên nào đẩy cờ đi đúng nước rồi nhắc lại lời xướng không sai một li. Trời trưa dần mà người đến dự hội không thưa đi. Họ cứ xuýt xoa những nước "độc", "quái chiêu" từ hai đối thủ một già, một trẻ tung ra. Gần chánh ngọ. Ván cờ thứ nhất kết thúc. Bằng chiêu "Pháo nộ xung thiên", cậu Trí đánh bại đôi song mã lợi hại của ông Tú. Người xướng niên phong cờ, tạm nghỉ. Người làng đông vỗ tay reo hò. Rồi lục tục kéo nhau về. Các vị cao niên, hương chức hai làng ở lại làm lễ cúng Ông xong, cùng nhau vào nhà hậu dùng cơm. Cậu Trí lấy cớ về chăm sóc cha, xin phép về trước.

Hai giờ chiều, trống nổi ba hồi báo cuộc đấu tiếp tục. Người đến coi đấu cờ còn đông hơn lúc sáng. Bà Hương cả, mợ Trí muốn đến coi lắm nhưng cậu Trí không cho. Vẫn mặc đồ lễ, cậu Trí ngồi vào bàn đấu. Cậu có vẻ mệt mõi, thần sắc bất định. Chỉ sau một lúc, hớ liền ba nước, cậu để mất một ngựa, một xe, hai chốt. Ván cờ kéo dài đến bốn giờ chiều. Ông Tú khoan khoái, vuốt râu:
- Xảo tiên đoạt môn. Cậu thua rồi. – Thấy mặt cậu Trí nhợt, mồ hôi rịn khắp trán, ông khuyên – Nếu cậu thấy không khỏe, ngày mai đấu tiếp.
Tiếng xướng ông Tú làng Tây thắng vọng ra ngoài. Dân làng Tây nhảy tưng lên, reo hò muốn rung cả ngói đình. Mối hận mười mấy năm nay của làng có cơ hội để rửa rồi. Tiếng reo hò, bàn tán tựa hồ như từng nhát búa thầu đập vào thái dương cậu Trí. Cậu đứng dậy bước đến trước bàn thờ đốt ba nén nhang. Không khấn vái, đứng im hồi lâu. Mắt cậu lại như ướt nước. Cậu quay lại ngồi vào bàn đấu:
- Thưa, xin cụ đấu tiếp ván cuối !
Ông Tú chợt thấy mặt cậu Trí như đanh cứng. Ánh mắt sáng lên như hai đốm nhang. Ông gật đầu. Ván cờ cuối cùng được bày ra. Cậu Trí chợt chấp tay:
- Thưa, ba con dặn ván này phải nhường cụ Tú hai con xe.
Cả đình ồ lên sửng sốt. Đủ quân kia mà chưa chắc gì thắng, giờ lại chấp hai con xe. Cậu Trí không thèm quan tâm, bóc hai con xe bỏ vào túi. Ông Tú không biết nói sao, đành ra hiệu cho cậu đi trước để đáp lễ.
- Chu Công bình thành. Pháo xuất.
Cuộc cờ lúc đầu nghiêng hẳn phần thắng về ông Tú. Ông Tú cứ tủm tỉm cười vuốt râu. Cha con gì cao ngạo, ngang tàng giống hệt nhau. Mà như vậy ông càng thấy khoái chơi. Cậu Trí rất thận trọng từng nước tiến lùi. Bóng xế ngã về chiều làm dịu dần cái nóng từ trên dọi xuống, từ dưới sân gạch Tàu bốc lên. Người xem cũng đỡ bức rứt, chú tâm hơn vào ván cờ quyết định. Mợ Trí chắc chịu hết nổi thập thò trước cổng đình, rồi lần đứng nép sau miếu thờ Thần Nông. Cậu Trí đột nhiên thay đổi nước đi. Những nước cờ lạ lùng không tên gọi, cũng chẳng theo sách vở gì. Người xướng không biết sao đành hô trổng : "Pháo tiến. Chốt sang một". Ông Tú hơi ngớ người, bối rối chống đỡ. Ông dè dặt vừa đánh vừa ngâm nghi dò tìm chỗ hở trong quân cậu Trí. Mặt tướng trống hơ, trống hoắt, điểm đại kỵ trong thuật cờ.
- Chiếu. – Ông Tú đắc ý đẩy con xe lên vỗ mặt tướng.
- Chiếu. – Cậu Tú lộn con ngựa về, chẳng những ăn ngọt con xe của ông Tú mà còn độn pháo chiếu bí.
Miệng ông Tú đang cười chợt ngậm ngang. Mồ hôi rịn ra mép của ông. Người đến xem đấu, không còn phân biệt đông tây, tụ vào nhau bàn tán. Trận cờ giằng co, hút người ta đến đỗi trời sắp lặn lúc nào không biết. Người cao cờ chỉ cần ngẫm một chút là biết ngay cậu Trí nắm chắc phần thắng ván này. Ông Tú không còn công nữa mà chuyển hẳn sang thủ vì vừa để mất thêm một con ngựa và một con tượng. Quân của ông chỉ còn lại một xe, một ngựa, một sĩ, ba chốt. Cậu Trí giam cứng con xe của ông không đường tiến thoái. Cậu đẩy thêm con chốt xiết chặt vòng vây. Ông Tú ngậm cay thí con xe cứu chúa. Pháo trái của cậu Trí dịch sang hai, chiếu tướng. Ông Tú vã mồ hôi. Ông thua không còn đường gỡ. Ông đẩy con sĩ lên thí vớt vát để chuẩn bị nói: "Xin thua". Cậu Trí ngẩn lên nhìn ông ý nhị, tay đẩy con pháo vào chân con ngựa của ông. Ông Tú hiểu ngay cậu muốn để ông thủ hòa. Từ thế thắng, cậu Trí lại bị ông Tú chuyển thành thế cờ hòa tàn cuộc. Cậu đứng lên:
- Con xin chịu hòa !
Cậu Trí gom cờ vào hộp, mặc kệ dân hai làng ầm ỉ vì ván cờ không thỏa đáng. Trưởng bối, hương chức phải hội ý lại bàn cách quyết định thắng thua cho hai làng. Cả đình náo loạn như khu vườn chim về chiều. Ông Tú chen đến gần cậu Trí rỉ tai, chân thành:
- Cám ơn cậu ! Tui không biết nói sao hơn.
- Xin đừng cám ơn, chỉ xin cụ từ đây đừng thách đấu với làng Đông nữa. – Cậu Trí ôm hộp cờ vào lòng, mắt lại ướt.
Ông Tú không hiểu sao lại vậy, gật đầu chắc như đinh đóng cột.
Cậu Trí không nhìn ai, ôm hộp cờ đi ra khỏi đình. Cậu không đi về hướng nhà mà đi ra hướng con đường dẫn ra miếu thờ giữa đồng. Mợ Trí nê bụng nặng nề, lẻo đẻo theo. Đến cuối đường làng, cậu dừng lại đợi. Mợ bước lại đứng trước mặt cậu, nước mắt lưng tròng:
- Mình !
- Trời tối, đừng đi theo rủi té. Nói với má, ba sẽ về. Lo cho má nghe !
Mợ gật đầu. Lủi thủi quay về. Nhìn theo bóng vợ đến khi khuất hẳn, cậu mới tiếp tục đi. Trời chỉ còn lờ mờ sáng. Ở đằng tây còn một chút đỏ lịm như máu. Mọi vật nhập nhoạng không rõ hình, rõ dạng. Cậu nhớ hồi xưa ba nói giờ này là giờ âm dương giao hòa, cô hồn lên dương gian, không được ra đường. Cậu mặc kệ, cứ bươn đồng đi đến miếu thờ dưới gốc cây tra bồ đề. Cây tra bây giờ đã trở thành một khối đen khổng lồ, dị dạng. Bên cạnh miếu có một mô đất lùm lùm mới nguyên. Cậu Trí quì sụp xuống trước nắm đất. Ngằn ngặt khóc không thành tiếng. Hồi lâu cậu móc trong túi ra hai con cờ quân xe đen. Dùng tay móc đất. Vùi hai con cờ xuống. Cẩn thận lấp lại. Cậu rì rầm khấn. Tiếng khấn như tan vào không gian hổn độn khí âm dương:
- Xin lỗi ba ! Con đã để hòa. Ông Tú đáng mặt kỳ thủ lắm. Con đi đây. Ba ngủ ngon nghe ba !
Con đường từ kinh Tà Niên ra lộ cái tối thui. Không ai ra đường giờ cô hồn lên dương gian.

Người ta nói, từ năm đó hội đình Vĩnh Hòa Đông không còn ai thi đấu cờ tướng nữa.
Người ta nói, có một người đàn ông không biết già hay trẻ đội cái nón sùm sụp, lang thang suốt dọc đường tàu Nam - Bắc. Ông ta sống bằng tiền đấu cờ với khách qua đường. Bàn cờ của ông ta đẹp và quí lắm, chỉ có điều thiếu mất đôi xe đen./.


Rạch Giá, ngày 25-4-2003




NGUYỄN THỊ DIỆP MAI



TRANG CHÍNH TRANG THƠ ĐOẢN THIÊN BIÊN DỊCH HỘI HỌA ÂM NHẠC