Chương 11


Thăng Long mùa xuân. Thiệu Bình năm thứ tư 1437.

Lê Thái Tôn sai Nguyễn Trãi và Lỗ bộ ty giám Lương Đăng làm loan giá, nhạc khí, dạy tập nhạc múa.

Nguyễn Trãi nhanh nhẹn dâng bản vẽ khánh đá và tâu:

-Muôn tâu bệ hạ. Kể ra thời loạn dùng võ, thời bình dùng văn. Nay đúng là lúc nên làm lễ nhạc. Song không có gốc thì không thể đứng vững. Không có văn thì không thể lưu hành. Hoà bình là gốc của nhạc, thanh âm là văn của nhạc. Thần vâng chiếu soạn nhạc, không dám không dốc hết tâm sức. Nhưng vì học thuật nông cạn, sợ rằng trong khoảng thanh luật, khó được hài hoà. Xin bệ hạ yêu nuôi muôn dân, để chốn xóm thôn không còn tiếng oán hận buồn than, như thế mới không mất cái gốc của nhạc.

    Vua khen:

-Khanh nghĩ những điều sâu sắc thế, ta sẽ tiếp thu.

Khánh đá này sẽ vang lên chở tình yêu thương của ta tới muôn dân nơi hang cùng xóm vắng.

Vua sai thợ đá huyện Giáp Sơn lấy đá ở núi Kính Chủ để làm.

Vua ra lệnh chỉ cho các quan văn võ trong ngoài.

“Các khanh cùng hưởng lộc Trời mà làm việc không kính giữ phép công, không thương dân đau khổ, là trái với lòng Trời. Chớ coi lời trẫm là những lời nói suông. Nếu các khanh biết dốc hết tâm sức đổi lỗi xưa, theo con đường phải, hết lòng trung thành, yêu mến quân dân, hoà mục với đồng liêu, công bằng xử án, khuyến khích nông tang, dẹp yên trộm cướp, cố giữ liêm khiết thì thân mình vẻ vang, nhà mình vinh hiển, phúc đến con cháu sau này. Nếu ai không nghe theo sẽ tự chuốc lấy trừng phạt”.

Nguyễn Trãi mừng vui khôn xiết. Nguyễn tin rằng công việc soạn quốc nhạc của mình sẽ thông suốt. Những gì Nguyễn tinh cất được trong hồn dân Đại Việt suốt gần cả cuộc đời Nguyễn, nay sẽ được hoà ca, vang lên bất tận tâm hồn Đại Việt, toả mai sau.

Nhưng Nguyễn thật không ngờ!

Lương Đăng chống đối Nguyễn Trãi.

Hắn theo loại nhạc khánh tiết ầm ĩ khoe mẽ quyền lực của cung đình Trung Hoa. Còn Nguyễn muốn đưa dàn nhạc và âm nhạc dân gian Đại Việt đã ngàn năm vào cung đình. Hai kẻ suy nghĩ hoàn toàn trái ngược nhau. Nguyễn Trãi không thể thuyết phục nổi hắn. Hắn vênh vác cậy quyền gần vua, hắn phò trợ thứ quyền lực ra oai tác quái, không hợp lòng dân, trái đạo Trời Đất.

Đêm đêm, Nguyễn không ngủ.

Bầu trời Thăng Long, không trăng, không sao.

Nguyễn tâm tình với Nguyễn Thị Lộ nỗi thất vọng lớn này.

Nguyễn Thị Lộ nói:

-Chuyện này có gì lạ đâu mà phu quân buồn. Trước kia, Lê Thái Tổ sai chàng định ra qui chế mũ áo, chưa kịp thi hành thì Lương Đăng đã tâu, đại ý nói về lễ thì lễ đại triều và lễ thường triều. Tế Trời cáo miếu, ngày khánh tiết, ngày chính đám thì làm lễ đại triều. Hoàng đế mặc áo cổn, đội mũ miện, lên ngồi ngai báu. Trăm quan đều mặc triều phục, đội mũ chầu. Còn những ngày mồng một , ngày rằm hằng tháng thì Hoàng đế mặc áo màu vàng, đội mũ xung thiên, ngồi ngai báu. Trăm quan đều mặc công phục, đội mũ.

Lễ thường triều thì hoàng đế mặc áo bào vàng, đội mũ xung thiên, ngồi sập vàng, trăm quan mặc thường phục cổ tròn, đội mũ sa đen. Về nhạc thì có nhạc tế Giao, nhạc tế Miếu, nhạc tế Ngũ tự. Nhạc cứu khi có nhật thực, nguyệt thực, nhạc đại triều, nhạc thường triều, nhạc cửu tấu khi đại yến, nhạc dùng trong cung… Không thể dùng nhất loạt được. Về lễ bộ đại giá như xe kiệu thì có đại lộ, tượng lộ, mã lộ, có cửu long dư, thất long dư, có bộ liễn, có phi liễn. Về nghi trượng thì có kim qua, phủ việt, chàng, phướn, tinh kỳ, mao tiết, long ngũ phượng…

Phu quân thấy đấy. Tất cả những thứ ấy, Lương Đăng học theo, sao chép nguyên si của triều đình Trung Quốc. Vua thấy choáng ngợp mà nghe theo. Vua Lê Thái Tổ lại sai Lương Đăng định ra các qui chế. Lương Đăng nhân đó dâng lên qui chế về mũ áo, và nhạc khí. Những qui chế của phu quân và Lương Đăng định ra đều không hợp nhau. Có nhiều điều trái nhau, mà cách trình bày cũng khác nhau, cho nên phu quân đã xin thôi việc đó.

Nguyễn Trãi buồn rầu nói:

-Nàng nhớ lâu đến thế. Còn ta thì quên chuyện cũ đó rồi. Ta ngỡ vua trẻ thông thái, thích tạo cái mới, không theo đòi nước lớn, bắt chước họ một cách dễ dãi. Ta đã lao tâm khổ tứ dựng nên một nền nhạc dân tộc truyền thống hoành tráng cho cung đình Lê Thái Tôn, nhưng nay thì ta thất vọng.

Nguyễn Thị Lộ cười trêu chồng:

-Chàng ơi! Dã tràng xe cát biển Đông cũng đành. Mặc bọn họ. Chàng và thiếp cứ yêu nhau mãi, sớm tối có nhau là đủ. Thiếp chẳng mơ gì hơn. Thiếp nhận làm Lễ nghi học sĩ cho vui đó thôi. Chúng ta chờ đợi gì ở họ. Nhưng mình đã làm gì, nói gì, thì đều là thật lòng và trung thành với vua, với dân là hồn ta thanh thản.

Nguyễn Thị Lộ âu yếm vuốt ve chồng. Hai má Nguyễn hóp lại, không còn đầy đặn như xưa. Nàng thấy xa xót quá.

Sau đêm ấy, Nguyễn Trãi vào Cấm thành tâu:

-Muôn tâu bệ hạ, mới rồi bọn thần cùng với Lương Đăng hiệu định nhã nhạc, nhưng kiến giải của thần không giống với Lương Đăng, thần xin trả lại công việc được sai.

Vua theo lời bàn của Lương Đăng, làm theo Lương Đăng. Vua yết Thái Miếu bãi trò hát chèo, không tấu nhạc dân gian nữa.

Tháng sáu. Ngày Bính Tuất.

Sét đánh lầu Cửa Đông kinh thành. Có người chết.

Vua xuống chiếu bãi chức Đại tư đồ Lê Sát:

-Lê Sát chuyên quyền nắm giữ việc nước, ghen ghét bậc hiền tài, giết Nhân Chú để hòng ra oai, truất Trịnh Khả bắt người ta thán phục, bãi chức tước của Ư Đài khiến đình thần không còn ai dám nói, đuổi Cẩm Hổ ra biên giới, cho gián quan đều bịt miệng im hơi. Xét mọi việc làm của hắn đều không phải là phép tắc của kẻ làm tôi. Nay muốn khép nó vào hình luật để tỏ rõ phép nước.

Vua lấy Ngự tiền cường nỗ hả đồng quân tri Lê Đổ làm Chính sự viện đồng tham nghị.

Trung thừa Bùi Cẩm Hổ tâu:

-Chức tham nghị quan hệ đến việc phụ chính, không phải là bậc lão thành thì không được. Nay Lê Đổ là người nhiều lỗi lầm mà thăng lên chức ấy thì làm sao cho được.

Vua không nghe.

Bùi Cẩm Hổ lại tâu:

-Bệ hạ lên ngôi tới nay, hay thay đổi phép cũ của Thái Tổ, như Lỗ bộ ty đồng giám Lương Đăng. Tiên đế cho là người hơi hiểu biết, dùng làm nội nhân phó chưởng, sau thấy hắn khúm núm, không thể gần gũi được, cho ra làm văn đội. Nay bệ hạ lại cho hắn làm quan. Xin bệ hạ nghĩ lại.

Vua không nghe.

Lỗ bộ ty đồng giám kiêm tri điển nhạc sự Lương Đăng dâng nhạc mới phỏng theo qui chế của nhà Minh. Nhạc này vớ vẩn, đua đòi nhà Minh trắng trợn, làm cho Nguyễn Trãi uất đến tận cổ.

Nguyễn Trãi nói toạc ra với Bùi Cầm Hổ:

-Ta đã cùng Lương Đăng soạn định nhã nhạc theo lệnh vua. Nhạc soạn xong dâng vua, thì Đăng phá.

Bùi Cầm Hổ tức lắm, hỏi

-Nhạc ông soạn thế nào?

    Nguyễn Trãi nói:

-Trong đó, nhạc ở trên “triều đường” là điện của nhà vua khi ra coi chầu có tám loại thanh âm như: Trống treo lớn, khánh chùm, chuông chùm, tức là bộ khánh, bộ chuông gồm mười sáu chiếc khánh, từ nhỏ đến lớn và mười sáu chiếc chuông từ nhỏ đến lớn cùng treo một giá ở bên. Đặt các lọai đàn cầm, đàn sắt, sênh, quản, thược, chúc ngữ, huân trì. Sênh, quản, thược đều là các loại sáo. Chúc làm bằng gỗ, hình vuông, cao một thước, ba tấc, giữa lồi lên như cái trống đánh. Ngữ làm bằng gỗ hình con hổ nằm, lưng có hai mươi bảy răng cưa bằng đồng, lấy gỗ cọ vào thành tiếng. Huân làm bằng đất nung hình giống quả trứng, có lỗ để thổi. Trì làm bằng trúc, có lỗ để thổi.

Nhạc ở dưới điện thì có phương hưởng treo, khổng hầu. Phương hưởng gồm mười sáu thỏi gang dài, từ nhỏ đến lớn cùng mắc nghiêng vào một giá, có hai tầng, lấy dìu nhỏ bằng đồng để đánh. Khổng hầu là thứ nhạc khí như các đàn sắt nhưng nhỏ hơn. Quản dịch là các loại sáo.

Đấy toàn là tinh hoa nhạc dân tộc truyền thống Đại Việt mà ta có ý tưởng sẽ làm cho hồn Đại Việt tưng bừng trong các buổi chầu, tạo hào khí cho vua quan hướng về việc xây dựng đất nước, con người Đại Việt. Nay Lương Đăng hèn hạ dùng nhạc nhà Minh. Ta uất quá mà không làm gì được.

Mặc cho Nguyễn Trãi uất, vua sai chép các nghi thức ấy treo ra ngoài cửa Thừa Thiên. Vua bái yết Thái Miếu, các quan mặc triều phục làm lễ theo nghi thức mới.

Nguyễn Trãi cùng Tham tri bạ tịch Nguyễn Truyền, Đào Công Soạn, Nguyễn Văn Huyến, Tham nghị Nguyễn Liễu tâu:

- Muốn chế tác lễ nhạc, phải đợi có người rồi sau hãy làm, được như Chu Công thì sau mới không có lời chê trách. Nay sai kẻ hoạn quan Lương Đăng chuyên định ra lễ nhạc, chẳng nhục cho nước lắm sao! Vả lại, qui chế lễ nhạc của y là dối vua lừa dưới, không dựa vào đâu cả. Như đánh trống là bao giờ ra chầu triều sớm, nay vua ra chầu rồi mới đánh. Theo qui chế xưa, khi vua ra, thì bên tả đánh chuông hoàng chung, rồi năm chuông bên hữu ứng theo. Nay vua ra chầu, đánh 108 tiếng chuông, đó là số đếm lân tràng hạt của nhà sư. Nếu theo qui chế của nhà Minh, thì khi vua ngồi ở của Phụng Thiên phải có ngai báu, nay chỉ có một điện Hội Anh, lại chỉ có sập vàng, nếu di chuyển thì sợ không yên, đặt cả hai thứ cũng không được, thế là lễ nghi gì? Làm cửa thì đằng trước có diềm, đằng sau mở cửa. Nay lại mở đằng trước, qui chế xưa làm như thế hay sao? Khi vua ra thì có hô thét, khi vào thì có thu dẹp, đó là qui định của nghi lễ. Nay quan coi cửa xướng tâu mọi việc xong, các quan lui ra, vua còn ngồi mà người thu dẹp đã la thét thì dẹp làm sao? Vả lại Đăng là đứa hoạn quan, quanh quẩn hầu bên cạnh vua, thần trộm lấy làm ngờ lắm!

Lương Đăng nổi cáu, tâu:

-Thần không có học thức, không biết qui chế cổ, các nghi thức nay đã làm chỉ trông cả vào hiểu biết của thần mà thôi, còn ban hành hay không là quyền ở bệ hạ, thần đâu dám chuyên quyền.

Nguyễn Liễu tâu:

-Từ xưa đến nay, chưa bao giờ có cảnh hoạn quan chuyên phá hoại thiên hạ như thế này.

Đinh Thắng từ trong rèm bước ra, hắn khùng lên,

mắng ầm ĩ:

-Hoạn quan làm gì mà phá hoại thiên hạ? Nếu phá hoại thiên hạ thì chém đầu ngươi trước.

Lê Thái Tôn nổi giận.

Ngài không ngờ các quan dám cãi cọ nhau vỗ mặt mình đến thế.

Bọn Lương Đăng, Đinh Thắng suốt ngày đêm hầu hạ bên cạnh ngài. Chúng nịnh nọt ngài đủ những lời hay ho, tuy có ẽo ợt một chút, nhưng ngài thế dễ chịu vô cùng. Ngài thấy những nghi lễ và nhạc triều hắn đưa ra, đầy vẻ oai phong làm cho mọi người nghe mà phải cúi đầu thần phục uy quyền của ngài. Chẳng biết nó có giống lễ nghi của nhà Minh không? Ngài không cần biết. Chỉ biết, ngài là vua. Ngài có quyền tự quyết mọi nghi lễ dành cho mình. Ngài nhất định không để các ông quan già thao túng. Họ đã quá lắm rồi. Không nể ngài mà chửi bới bọn Lương Đăng thậm tệ trước mặt ngài.

Ngài ra lệnh:

-Giao Nguyễn Liễu cho hình quan xét xử.

Ngày Bính Ngọ, vua ra coi chầu. Khi ra vào có vút roi dẹp đường. Lệ vút roi dẹp đường cho vua đi bắt đầu từ đó.

Ngày Mậu Thân làm lễ Kế Thiên thánh tiết. Buổi sáng vua yết Thái Miếu, lạy bốn lạy. Vua mang triều phục, mặc áo cổn, mũ miện, ngự ở điện Hội Anh. Đại đô đốc Lê Ngân dẫn các quan mặc triều phục, làm lễ dâng biểu chúc mừng.

Vua ban đại yến cho các quan, việc treo hoa, dâng cỗ đều theo nghi lễ mới.

Án về Nguyễn Liễu xử xong, liệt vào tội đáng chém. Nhưng được lệnh riêng cho thích chữ vào mặt, đày đi châu xa.

Nguyễn Trãi lang thang một mình với mùa Thu Thăng Long. Mùa quả chín bốn phương tụ về. Nguyễn nhớ làng quê, nhớ tuổi thơ, nhớ mẹ, nhớ bà, nhớ cha ở làng Nhị

Khê… Hồn Nguyễn thấm ngọt bên chùm nhãn, hay trái cam, quả dưa hấu mát lành. Nỗi nhớ dịu dàng như trái chín ngọt thơm của thi sĩ, làm Nguyễn bớt cô đơn.

Nguyễn không muốn về nhà. Nhà ở đâu mà về? Có còn ai chờ đợi mà về. Nguyễn Thị Lộ đã vào Cấm thành từ sớm tinh mơ. Nguyễn đã ngán cái cảnh đi ở nhờ rồi. Sắp tới, có lẽ Nguyễn sẽ rủ vợ về lại góc thành Nam, làng Cổ Mai Đàm, dựng một con lều để ở.

Nguyễn vừa đi vừa nâng niu giọt nắng. Nắng xiên xiên, chênh chếch vào những tán sấu trên đường. Những khoảnh khắc im lặng trưa mùa Thu, nhìn lên bầu trời nhạt nắng, Nguyễn vẽ màu trời Thăng Long. Những đám mây trắng xốp như bông. Nắng trong vắt như pha lê. Màu nắng ấy tãi đều trên các ngọn cây. Nắng toả lung linh khúc sông Nhĩ Hà .

Nguyễn đi tìm nét dịu dàng Thăng Long qua những hàng cây nghiêng gió, những thung lũng bàng, những màu hoa muôn sắc, chùm nhãn đầu mùa, quả bưởi, quả hồng thơm hương , những bắp ngô, củ khoai nướng, bánh đúc, bánh đa… hiền hòa, chân chất . Hình ảnh làng chập chờn ẩn hiện trong từng thời khắc, từng ánh nhìn, từng cảm xúc tinh tế lướt qua, với mọi giác quan, linh cảm mù mờ.

Thăng Long- làng và phố đan quyện không thể tách rời. Thăng Long cổ là một ngôi làng chài thờ thần Long Đỗ. Thế kỷ XI, năm 1010, vua cha Lý Công Uẩn định đô, làng dần dà trở nên đất Kinh kỳ- Kẻ Chợ, thu hút người tài hoa khắp làng quê đất Việt lên Thăng Long lập phường làm ăn, buôn bán, xây nên phố. Cùng với sự xuất hiện của chữ Hán, các khoa thi mở ra, ông lão làng chài cùng các lão nông từ các làng xa xôi lên, đi học, đi thi đỗ đạt cao, làm quan, sinh ra đàn con cháu Nho học và quan lại, xây nên đất Kinh kỳ. Người Thăng Long gốc, hay gốc của Nguyễn là làng quê, bởi ta là con cháu ông lão làng chài và các lão nông sống trong các làng đất Việt. Mà đất Việt là cả một cánh đồng lúa nước mênh mông. Từ tiền sử đến giờ, vẫn là cánh đồng lúa nước mênh mông ấy. Những con người được nuôi dưỡng từ đồng lúa, dòng sông, đầm nước, bãi bờ, được học hành, được giao thương, trên mảnh đất Kinh kỳ- Kẻ Chợ, ngày càng tinh tế hơn trong cách suy tư, luận triết, cách trồng cấy, làm đẹp sản phẩm, cách mặc, cách nấu ăn, giao đãi, tiếp xúc, trao lời… Sự sống tinh tế ấy được chưng cất nhiều đời kết lại thành Tinh hoa văn hóa Thăng Long- Đại Việt truyền mãi mãi. Tinh hoa văn hóa ấy chẳng có gì kỳ bí, chỉ là cuộc sống hằng ngày của dân Kinh kỳ- Kẻ Chợ được tinh cất. Song cái tinh hoa ấy chìm ẩn rất sâu dưới nhịp đời dâu bể cuồn cuộn bão giông. Nhưng vẫn còn một thế giới vô hình của thần Hoàng làng Long Đỗ cùng linh hồn ông lão làng chài và các lão nông luôn tồn tại cùng Thăng Long. Cõi tâm linh ấy khôn nguôi nhớ đất Kinh kỳ- Kẻ Chợ mà tìm về bên đàn con, lũ cháu.

Nguyễn đắm hồn vào muôn màu hoa khoe sắc, những hàng cây thay lá, nảy chồi, các món ăn đủ mùi vị “cơm nếp, cháo kê, thịt gà”, hương quả bốn mùa… tinh luyện nên nét dịu dàng Thăng Long. Nét tinh tế ấy, đã và đang sống một thế giới riêng kỳ ảo nơi làng quê. Ký ức đồng quê trong như ngọc, sáng lên trong hồn Nguyễn. Tiếng chim líu lo trên cành cây dẫn Nguyễn ra với con đường có hai hàng cây xanh ngát. Thoảng trong gió hình như có mùi hương của một loài hoa đồng nội… Ngan ngát, thanh khiết và trong sạch. Nguyễn mơ về một đầm sen mênh mông những hoa và lá. Cánh đồng lúa hiện ra nhiều dáng vẻ, sắc màu của sự sống bốn mùa sinh sôi. Những trưa hè nắng vàng rực như mật tưới tràn trên khắp cánh đồng. Nước ruộng nóng như đun, những chú cua kềnh càng thi nhau chạy nấp vào những búi cỏ… Sau mỗi mùa gặt cánh đồng ngập nước mênh mông, cào cào, châu chấu, nhái bén và cả ếch nữa, nhiều vô kể… Nắng thu hanh hao và đám lúa nếp đang kỳ đông sữa… Mùa Đông trên cánh đồng, những thửa ruộng đã gặt hết chỉ còn trơ lại những gốc rạ màu xám trắng… Mùa Xuân ấm áp. Mưa như rây bột êm đềm phủ lên đồng quê một màu trắng đục. Trên cánh đồng đã ngát lên mùi hương của lúa đang thì con gái.

Nỗi nhớ làng trào dâng thao thiết khi Nguyễn nâng trái ngọt trên bàn tay. Nguyễn nhớ bưởi vườn nhà vấn vít hương thơm. Bưởi thơm hoa, thơm lá, thơm vỏ vàng quả chín, vỏ xanh trái non… Thơm thanh cao, quyến rũ, ngát thơm tình mẹ, tình bà bên nồi nước thơm lá bưởi, hương nhu, bồ kết gội đầu, ướp hương vào tóc, theo ta đến tận cùng kiếp sống trầm luân.

Nguyễn nhớ mùa Đông ở làng. Cây trong vườn buồn bã, heó khô, xơ xác, cỗi cằn. Hàng cau ủ dột rũ những tàu lá cuối cùng che sương gió cho bầy con đông đúc của mình được tươi cành, xanh trái. Nhưng chồi non, lộc biếc đã nhanh chóng phủ lên những cành khẳng khiu, già cỗi một màu xanh nõn nuột qua một đêm Xuân có mưa bụi rơi, trong vườn quê. Vườn Xuân ở làng đã để lại trong ta những cảm xúc về sự sống vô thường:

Chớ bảo Xuân tàn hoa rụng hết

Đêm qua sân trước một nhành Mai.

(Mãn Giác thiền sư- 1052- 1096).

Nỗi nhớ làng xao động trái tim Nguyễn mỗi khi gặp cây Gạo cổ thụ, gốc xù xì, lồi lõm, rễ cứng như đá màu nâu đen bóng, chồi, lên chụt xuống, trụ vững cùng bão giông, mà dáng vẻ vẫn ung dung tự tại như “ông lão làng chài” mãi còn ngự bên Hồ Gươm, xây nên một cảnh trời.

Tháng ba, ngồi dưới gốc cây Gạo ngắm sóng biếc Hồ Gươm lung linh màu đỏ hoa Gạo tan cùng sóng, mà mơ về làng thấy làng hiện ra ở đất Thăng Long gần gũi, thân thương hơn bất kỳ nơi nào trên đất Đại Việt. Nguyễn tin, vẻ đẹp huyền ảo của cỏ cây, hoa lá Thăng Long sẽ truyền suốt thời gian, không gian, truyền kiếp này sang kiếp khác, để con cháu Nguyễn mãi mãi còn một Thăng Long đẹp như nhạc, như thơ. Mặc cho dâu bể cuộc đời xáo động, vần xoay.

Chương 12

Buổi thiết triều sáng nay rất căng thẳng làm cho Lê Thái Tôn đau đầu, buồn bực. Hai đại thần tin cẩn của ngài lâu nay là Lê Sát, Lê Ngân đều phạm tội nặng. Ngài chuẩn bị chém đầu họ. Ngài không muốn thế. Nhưng họ u mê cậy quyền lực mà phạm tội chết. Ngài mệt mỏi vì chuyện này. Muốn quên.

Ngài cho vời Lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ vào điện riêng của ngài vào giờ chiều. Chỉ có nàng mới giúp ngài quên tức giận.

Nguyễn Thị Lộ mặc bộ trang phục nữ quan màu xanh lá cây nhạt, đầu cài trâm, đôi mắt nàng sáng rực long lanh như ánh trâm lướt đi lướt lại. Trông nàng vừa dịu dàng, xinh đẹp, vừa nghiêm trang như bậc mệnh phụ phu nhân quyền quí.

Đức vua gặp nàng, như gặp người thân. Ngài không còn phải giữ gìn ý tứ trong từng giọng nói, nụ cười. Ngài có thể bộc bạch cùng nàng những ý nghĩ sâu kín. Ngài có thể hỏi nàng những điều ngài chưa biết mà không cần phải e ngại. Ngài có thể nghe nàng nói chuyện, hết giờ này sang giờ khác, hết ngày này sang ngày khác.

Nguyễn Thị Lộ nghiêng mình chào lạy đức vua.

Ngài cười rất tươi:

-Ta miễn lễ. Công việc của nàng thế nào? Nàng có được an vui không?

-Tạ ơn Thánh thượng. Thần thiếp luôn hoan hỉ với phận sự của mình.

-Hôm nay ta muốn nghe nàng nói về các nhạc cụ dân tộc truyền thống Đại Việt. Ta được nuôi dạy trong cung cấm từ nhỏ, không được tiếp xúc với dân gian, không hiểu được tiếng đàn, tiếng sáo trong lòng họ. Các đại thần thì tâm tính khô như ruộng hạn, chẳng bao gìơ hiểu được âm nhạc của dân quê. Mặc dù ngày xưa, họ từng đi chăn trâu cắt cỏ, từng thổi sáo mục đồng.

-Muôn tâu bệ hạ, thần thiếp sinh ra ở một làng quê thơm hương lúa. Cánh đồng vàng mênh mang trải dài tận chân trời. Làng Hải Triều quê hương thiếp có nghề dệt chiếu Hới nổi tiếng. Nghề này do Trạng chiếu Phạm Đôn Lễ đi sứ Trung Quốc mang về dạy dân làng. Vùng đất làng Hới ở ngã ba sông. Sông Nhĩ Hà chảy đến đó, chia ba ngả, thành sông Luộc, sông Trà, sông Nhĩ Hà, chảy xuôi về ba miền đồng bằng rồi trôi ra biển. Làng Hới do phù sa sông nước bãi bồi mà thành, nên cây cối bốn mùa xanh tốt, hoa quả trĩu cành. Thế nên, lòng người dân hiền hoà, bay bổng điệu hò tiếng hát. Thần thiếp thường lên thuyền chở chiếu Hới về kinh đô Thăng Long bán. Thuyền nhẹ lướt trên dòng sông quê, tiếng mái chèo khua dạt dào trong sóng nước. Hồn người hát ca. Chính vì vậy mà làng quê thiếp quanh năm có hội hè theo nghi lễ dân gian. Đền miếu thờ các vị thần thời Lý thời Trần ở làng quanh năm thơm hương khói. Ngã ba sông Luộc còn ghi dấu trận đánh oanh liệt dưới sự chỉ huy của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. Là nơi hội tụ của các cánh quân thuỷ chiến của nhà Trần tiến về Thăng Long đánh giặc Mông Thát. Thần thiếp rất mê hội hè làng quê với những đêm hát chèo, hát sẩm, hát cửa đình… tiếng đàn sáo vang lên tận trời xanh. Chính thần thiếp cũng nhảy vào đám hội hát thâu đêm. Có lần khuya quá không thấy con về, mẹ thiếp phải ra tận của đình tìm về.

Bệ hạ muốn hiểu về dàn nhạc dân tộc truyền thống. Nó là tấc lòng của dân Đại Việt.

Người Đại Việt rất quen thuộc với âm nhạc dân tộc. Những cây đàn bầu, đàn nguyệt, đàn tranh, đàn nhị, đàn đáy, đàn tỳ bà… trong bộ nhạc cụ gẩy dây, thánh thót cung thanh, cung trầm như tiếng của ông bà, cha mẹ. Những chiếc trống đồng, trống gỗ, trống mặt da, trống quân, tiếng chiêng, cồng… của bộ gõ, rộn rã tưng bừng sức sống ngàn năm. Những nhạc khí thổi hơi tiêu biểu là các loại sáo, sáo ngang, sáo dọc, sáo diều vi vút trên đồng quê, rừng núi những chiều hè. Bộ nhạc khí kéo dây cung với cây đàn nhị, đàn hồ độc đáo… Những nhạc cụ thân thương ấy, cất lên tiếng tơ, tiếng trúc, tiếng lòng Đại Việt buồn vui thương nhớ, đợi chờ, mơ ước.

Nhạc cụ truyền thống thân thiết gần gũi với mọi người, nó “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” sống dậy, thành một dàn nhạc lớn, rung lên tiếng nói tâm tình sâu thẳm, ý nhị, phong phú, thức tỉnh hồn Việt. Nó đưa ta về đồng bằng lúa xanh tận chân trời, cánh cò bay lả bay la. Hòa tấu nhạc chèo xẩm xoan, hề mồi… gợi nhớ giọng hát xẩm những đêm Kinh kỳ- Kẻ Chợ và chú hề hoạn làm chao đảo cung đình.

Những cây đàn trong bộ dây: đàn tranh, đàn nguyệt, đàn nhị, đàn bầu, đàn tỳ bà thi nhau độc tấu, khoe sắc, tỏa âm thanh kỳ diệu của mình và hiện hữu tài năng của những người biểu diễn. Đàn thập lục mười sáu dây hiển hiện bức tranh tố nữ với cây đàn, duyên dáng, cao sang, gợi nhớ vua Lê Thái Tổ đã dùng đàn tranh- “Thập ngũ huyền cầm” trong ban “đồng văn nhã nhạc”. Đàn tranh đứng thứ ba trong bộ tam tuyệt của dàn nhạc tài tử, nhiều dây, hình dáng dài, nhô lên hình vòng cung, phát âm thanh đanh tiếng, khi hết một đoạn thường lặp lại một nốt “hò líu, xàng xang, xề xê…” Đàn tranh, gợi âm thanh nhẹ nhàng, vui trong trẻo, hòa lòng người với thiên nhiên tinh khiết. Đàn nhị còn gọi là đàn cò, hiện ra như một “cổ vật gia bảo” bởi nó có từ lâu, gần gũi đời thường, trong dàn nhạc phường bát âm, ngũ âm, nhã nhạc, chầu văn, sắc bùa, cải lương, dân ca… anh nông dân xưa cũng có nó trong tay. Nó làm người nghengỡ ngàng. Nghe như lảnh lót tiếng con cò lặn lội bờ song, gánh gạo đưa chồng, tiếng khóc nỉ non… Ba cây đàn bầu, đàn nguyệt, đàn tranh hòa tấu, mỗi cây đàn một âm thanh riêng biệt, hòa cùng dàn nhạc vang lên giai điệu của những vùng thiên nhiên, văn hóa khác nhau của các dân tộc Đại Việt.

Nguyễn Thị Lộ ngừng giây lát.

Nàng biết Lê Thái Tôn vừa cấm diễn chèo trong cung đình.

Nàng nói với đức vua, như lời dặn của tổ tiên:

-Bệ hạ đừng quên rằng âm nhạc dân tộc truyền thống Đại Việt là tâm hồn Việt ngàn đời không thể mất. Nó rất phong phú, độc đáo, gắn bó gần gũi với đời sống Việt các lễ Tết cổ truyền, lễ hội dân gian, cúng tế Xuân Thu nhị kỳ, lễ đình, đền chùa, tang ma, hiếu hỷ, vui chợ búa, đón bạn nước láng giềng, trong cung đình, thính phòng, gia đình, thôn xóm… cần gìn giữ, phát triển, làm vốn quí cho con cháu ta sau này.

Lần đầu tiên Lê Thái Tôn được nghe những lời giảng về âm nhạc truyền thống hay như vậy.

Ngài nói:

-Khanh xứng là bà giáo của cung đình.

Nguyễn Thị Lộ hết sức tự tin. Nàng đâu còn trẻ con nữa để nghe những lời khen của đức vua.

Nàng mời Lê Thái Tôn ra đại sảnh xem cung nữ múa bài bông. Một điệu múa dân gian nàng vừa dạy cung nữ múa mua vui cho đức vua.

Đức vua cùng nàng ra tiền sảnh.

Đội múa đã sẵn sàng.

Nguyễn Thị Lộ giảng giải:

- Múa Bài Bông, múa Bỏ Bộ và múa Tứ Linh hợp lại thành cuộc trình diễn ca múa nhạc dân gian ở cửa đình những ngày lễ hội, tế thần. Nhưng múa Bài Bông phức tạp, tốn kém hơn nhiều.

Tương truyền múa Bài Bông có từ đời Trần, do anh em thượng tướng Trần Quang Khải và Trần Nhật Duật sáng tác để quân đội và ca nữ múa hát trong Đại hội Thái Bình Diên Yến, tổ chức ba ngày tại kinh thành Thăng Long mừng đại thắng quân Nguyên, năm Trùng Hưng thứ tư (1288) đời Trần Nhân Tông… Múa Bài Bông tượng trưng cho những bông hoa chiến thắng, gồm mười sáu cô đào trẻ đẹp, cao đều nhau, quần áo rực rỡ, múa hát theo nhịp sáo, đàn, nhị, trống con, phách… hòa tấu tưng bừng, cuốn hút dân chúng. Điệu múa Bài Bông này, được triều Trần dùng trong lễ cung đình. Múa Bài Bông còn được truyền trong dân gian Việt theo lối múa hát cửa đình.

Lê Thái Tôn say sưa ngắm nhìn các cung nữ múa. Gương mặt các nàng thánh thiện, trang nghiêm. Động tác của các nàng uyển chuyển, toàn thân rung lên ánh ngọc. Từng động tác dâng hoa, dâng đăng sao mà đẹp và trang nhã thế! Ngài nhận ra vẻ đẹp tâm hồn của các nàng trong điệu múa rực rỡ này. Vẻ đẹp bấy lâu chìm ẩn trong những tấm thân tròn lẳn, điệu đà của các nàng lúc này mới hiện ra làm cho đức vua ngỡ ngàng.

Nguyễn Thị Lộ thấy đức vua say mê xem múa Bài Bông, nàng rất hãnh diện.

Nàng muốn ngầm bảo đức vua rằng, đàn bà chúng ta đâu có tầm thường. Vẻ đẹp thân thể hàm chứa nét thánh thiện cao sang của đàn bà, cần được nâng niu, trân trọng.

Nàng nói với đức vua về cách trang phục cầu kỳ của điệu múa:

-Xin bệ hạ nhìn cách trang phục đặc biệt của đội múa Bài Bông. Các cô đầu đội mũ Kim- phượng kiểu cánh sen có thêu kim tuyến lấp lánh, mình mặc áo Mã- tiên đỏ thắm thêu kim tuyến, phía dưới đính nhiều tua, có tám dải lụa nhiều màu buộc quanh người… Quần lĩnh đen chít ống, bít tất trắng, chân đi hài thêu. Khi múa, các tua xòe rộng bay phấp phới. Tay cầm quạt, vai đặt đòn gánh ngắn xinh, hai đầu đeo đèn lồng nhiều màu, trong thắp nến, hoặc đeo hai lẵng đầy hoa, xếp công phu, đẹp mắt. Người đeo đèn, người đeo lẵng hoa xếp xen kẽ. Trước khi vào múa, đội hình xếp hàng bên ngoài sân đình. Nhóm nhạc công hòa tấu những cây đàn dân tộc. Đội hình múa theo nhạc, lễ thần trước hương án, và từng động tác múa khoan thai, nhịp nhàng, đều tăm tắp, cùng với giọng hát trong trẻo tế tụng thần linh, ca ngợi dân làng, nhưng phải luôn giữ thăng bằng để không đổ nến, rơi đèn, rơi hoa…

Lê Thái Tôn cười vui, thán phục. Ngài nhìn Nguyễn Thị Lộ đầy vẻ ngưỡng mộ. Nàng không chỉ viết hay, nói giỏi, nàng còn biết dạy các cung nữ của ta hiện lên vẻ đẹp thánh thần. Nàng thật là tuyệt mỹ giai nhân. Ta có nàng như có thêm một thế giới khác. Không giống cái thế giới vật chất tầm thường của các ông quan già trong triều. Ta phải sống trong thế giới của nàng. Một thế giới sống đầy sáng tạo và ước mơ.

Ngài thầm thốt lên:

- Nguyễn Thị Lộ. Nàng là ai?

Vua và Nguyễn Thị Lộ cùng nhau dạo quanh hoàng thành. Qua con hồ bán nguyệt, họ ngồi dưới gốc cây hoa lan. Hương thơm quyện theo gió. Nguyễn Thị Lộ nhìn nước hồ in sắc nước mây trời lóng lánh ánh tà dương, nhớ về ao làng Hới.

Nàng nói:

-Bệ hạ có biết không, ao làng không chỉ để người dân tắm mát, câu cá, rửa chân, mà còn là nơi biểu diễn nghệ thuật nữa.

-Nghệ thuật gì, trẫm không hiểu.

-Nghệ thuật biểu diễn rối nước.

-Đúng rồi, hồi nhỏ trẫm cũng đã xem biểu diễn rối nước.

-Vâng. Thưa bệ hạ, từ bao đời nay, trò leo dây múa rối là nguồn vui chơi hấp dẫn bà con xa gần trẩy hội đình chùa làng xã. Trò múa rối xưa gắn với lễ nghi phong tục. Ngày hội làng, người ta diễn lại sự tích ông Đùng, bà Đà bằng hai quân rối lớn, thân đan bằng nan tre hoặc nứa, mặt phết giấy, quần áo giấy mầu, rước quanh làng và làm động tác tỏ ra sự vui mừng. Loại quân rối này ở hội đền làng đều được tạc các bộ phận cơ thể bằng gỗ rời nhau, rồi chắp lại, có khớp lỏng để cử động được. Ngoài đồng ruộng, người ta làm con rối bù nhìn như hình người đứng ngày đêm trông lúa, đuổi lũ chim chuột đến phá hoại mùa màng.

Vua nghe chuyện bù nhìn bật cười:

-Cái bọn chim, bọn chuột ấy, chúng ngây thơ nhỉ?

Bù nhìn giống người làm cho chúng sợ. Hay thật. Làm sao dân chúng lại nghĩ rằng chúng sợ mà làm bù nhìn. Thú vật thật đáng yêu. Chúng không ranh mãnh như người. Ta nhiều lúc cũng giả vờ làm một ông vua bù nhìn. Nhưng các quan không sợ ta. Họ múa may, quay ta đủ kiểu.

-Nhưng đức vua có sợ gì họ. Ngài sẵn sàng nhận biết và xử tội họ.

-Cũng phải thế chứ. Nếu không thì họ đã biến ta thành bù nhìn rồi. Nghệ thuật rối của dân gian, thế mà hay? Nó có từ thời nào, nàng biết không?

-Rối là nghệ thuật sân khấu biến cách, chuyên sử dụng các con giống, các tượng gỗ, các lốt giả trang, làm trò đóng kịch trên sân khấu. Đó là trò diễn xướng dân gian. Nó có từ trước kỷ nguyên Đại Việt. Khi định đô ở Thăng Long, nhà Lý xây dựng nhiều đền chùa, tháp, nghệ thuật điêu khắc, kiến trúc phát triển, hội hè đình đám xôn xao, hội kén hoàng hậu, hội mừng sinh nhật vua… được dân chúng tổ chức với nhiều trò hay, trò lạ. Nghệ thuật múa rối tưng bừng hồ ao, làng xóm. Sách cũ còn ghi năm 1021, vua lấy ngày sinh nhật làm tiết Thiên Thành, lấy tre làm ngọn núi Vạn Thọ Nam Sơn ở ngoài cửa Quảng Phúc, trên núi làm hình chim bay, muông chạy muôn vẻ kỳ lạ, lại sai người bắt chước cầm thú làm vui, để ban yến cho bầy tôi. Những quân rối chim muông ở đây đã bay, đã chạy và người ta thi nhau bắt chước tiếng cầm thú làm vui.

Ngay từ đầu thời Lý đã có quân rối nam, quân rối nữ bằng gỗ, bằng sắt, chạy nhảy, múa may, đánh trống, đánh chuông. Có chú tiểu trong lầu hoa, trong treo chuông vàng, mình mặc áo nâu sồng, vặn máy ngầm, giơ vồ lên đánh, nghe vỗ bao gươm mà đứng nghiêm, quay mặt, nhìn thấy Thánh minh mà khom cật cúi đầu.

Thần thiếp thích xem quân rối nước reo hò nhảy múa rộn rã trên mặt nước. Khắp thôn làng Đại Việt, đâu đâu cũng có trò múa rối nước dưới ao làng. Trò này sinh ra từ đặc điểm địa lý đất đai Đại Việt nhiều hồ ao và những cánh đồng chuyên trồng lúa nước. Ở Trung Quốc không có rối nước. Rối nước là văn hoá riêng của người dân Đại Việt sống với đồng ruộng, ao hồ. Người múa rối ngâm mình trong nước, đứng trong buồng trò dùng dây điều khiển con rối. Tiếng trống, tiếng pháo báo hiệu phát ra từ ao làng, gọi người lớn bé, già trẻ kéo nhau ra xem múa rối nước. Trai gái thôn Thượng, thôn Đoài nô nức rủ nhau về, những nụ cười trao duyên thầm thắm đượm cũng từ cái ao múa rối nước.

Đức vua nhìn Nguyễn Thị Lộ kể chuyện say sưa, rất cảm mến nàng.

Ngài hỏi:

-Họ múa cái trò gì mà vui đến vậy?

-Rất nhiều tích trò được diễn ở đây. Các trò ca ngợi thú vui lao động, làm ruộng, cấy cày, chăn vịt, đánh cá, xay lúa, giã gạo… Các trò chơi vui giải trí như đấu vật, đua ngựa, đánh đu, leo cây, lộn thang, múa lân, múa rồng, đánh kiếm… Các tích nêu gương anh hùng dân tộc như Hai Bà Trưng, Trần Hưng Đạo, Lý Thường Kiệt… Các vở chèo tuồng như Tây Du, Tam Quốc… Rối nước biểu diễn với bộ nhạc gõ như trống, mõ, phèng, não bạt, kết hợp với các âm thanh mạnh như pháo, ốc, tù và… làm cho làng quê vui náo nhiệt.

Nguyễn Trãi tiên sinh bảo với thần thiếp rằng rối nước manh nha từ trong cuộc sống của người dân vùng trồng lúa nước. Họ phải sống chung với nước, trong niềm vui tồn tại và trong cả những thiên tai. Người Đại Việt với địa lý riêng biệt phải chịu bốn tai hoạ Thuỷ, Hoả, Đạo, Tặc. Bốn hoạ do nước, lửa, cướp, giặc gây nên tàn phá cuộc sống của họ. Người dân phải sống thích nghi và chế ngự bốn thứ đó, bắt nó phục vụ cuộc sống của mình. Bắt nó cùng mình tạo nên nền sản xuất trồng cấy lúa nước. Kết quả của sự hài hoà sáng tạo đó đã tạo thành bản lĩnh, lối ứng xử, niềm vui, nỗi buồn, tụ lại thành, nghệ thuật, tình người, gọi chung là bản sắc văn hoá Đại Việt. Nó khác với văn hoá Trung Quốc. Bởi vậy nên chúng ta không thể bắt chước hình thức lễ nhạc của Trung Quốc được.

Nói xong câu “Bắt chước hình thức lễ nhạc của Trung Quốc”, Nguyễn Thị Lộ bỗng khựng lại. Nàng đã phạm thượng rồi chăng?

Nàng ngắm gương mặt trẻ tươi của đức vua. Ngài vẫn rạng rỡ, háo hức nghe nàng, nên yên tâm.

Nàng nói tiếp:

- Nước là cội nguồn của sự sống Đại Việt. Nước để trồng lúa và các loại cây hoa trái, không có nước, không thể trồng lúa. Nước là những dòng sông thuyền bè đi lại giao thương khắp mọi miền Đại Việt. Nước là nghề chài lưới ven sông của những người đàn bà Đại Việt. Nước là tình yêu đất đai nòi giống, là anh hùng ca Sơn Tinh Thuỷ Tinh bất diệt. Xem rối nước nhắc nhở con người Đại Việt biết sống cộng sinh cùng nước.

Lê Thái Tôn càng nghe Nguyễn Thị Lộ nói, càng thấy tâm hồn mình rộng mở. Ngài lõm bõm hiểu ra rằng lễ nhạc của quốc gia không chỉ là mấy bản tấu vênh vác, cứng nhắc nơi cung đình với áo thụng, cân đai, võng lọng ngai vàng… Mà là tiếng nhạc rộn ràng của dân gian, vang lên đây đó khắp đồng quê thôn xóm. Và ngài phải nhảy múa vui cùng dân chúng trong tiếng nhạc đó. Không thể có kiểu vua đi ra ngoài Cấm Thành thì tiền hô, hậu ủng, roi quất tứ tung. Xưa nay, chưa từng ai nói cho ngài hiểu điều hệ trọng này. Chỉ có nàng. Nguyễn Thị Lộ. Nàng đã nói cho ta nghe, tiếng nói nồng ấm của trái tim nàng. Tiếng nói của người mẹ, người vợ, người yêu, người đàn bà trí thức Đại Việt. Lê Thái Tôn mơ, một ngày nào đó, ngài sẽ đi cùng Nguyễn Thị Lộ về làng chiếu Hới của nàng, nghe dân chúng hoà tấu bản nhạc đồng quê và xem múa rối giữa ao làng trong tiếng trống rộn vang…

Tâm hồn đức vua bay bổng giữa mây trời. Rồi đây, quốc gia Đại Việt của ngài sẽ tưng bừng tiếng nhạc chèo, tiếng sáo diều vi vút ngân nga những chiều hè gió mồm nam thổi qua cánh đồng làng.

Nghĩ như vậy, ngài thêm yêu quí Nguyễn Thị Lộ. Người đàn bà của ngài, có tâm hồn cao quí, dẫn ngài vào những giấc mơ xa…

Vua mải vui trò chuyện trong vườn Thượng uyển cùng Nguyễn Thị Lộ. Trời đã về tối lúc nào không rõ.

Lương Đăng từ chiều đến giờ vẫn nấp đâu đó theo bước chân vua, vội chạy ra tâu:

-Xin bệ hạ đã đến giờ ngự cơm tối.

Nguyễn Thị Lộ hơi giật mình. Tên hoạn quan mắt lấm lét nhìn nàng. Hắn có vẻ tức giận nàng đã say mê chuyện trò với đức vua quên cả thời gian. Hắn còn tức giận hơn vì nàng là vợ của quan Thừa chỉ Nguyễn Trãi. Người mà hắn nuôi mối hận từ thời Lê Lợi, đến bây giờ càng tăng thù hận. Hai kẻ không giống nhau về tư tưởng và văn hoá. Hắn nô lệ văn hoá nhà Minh. Hắn huênh hoang đề cao quyền lực cung đình, nịnh nọt đức vua, quên muôn dân. Nguyễn đòi bảo tồn văn hoá truyền thống dân tộc. Nguyễn Trãi hướng về dân. Hắn không học hành, xu nịnh quyền lực mưu lợi cá nhân. Nguyễn Trãi tài cao học rộng, tính tình thẳng thắn, trung hiếu với vua, yêu dân, lấy dân làm gốc, hiến dâng cuộc đời mình cho dân. Hai kẻ trái ngược nhau về nhân cách, tư tưởng, đạo đức, ắt không đội trời chung. Nhất là mới đây, Nguyễn đã vạch mặt hắn té tát trước buổi chầu có mặt trăm quan.

Lê Thái Tôn chia tay Nguyễn Thị Lộ.

Ngài bảo:

-Trời tối, khanh không nên về nhà. Thân gái giữa đường, phòng bọn trộm cướp. Khanh nên nghỉ lại thư phòng của khanh trong cung cấm đêm nay. Ta sẽ ban cơm tối cho khanh.

Nguyễn Thị Lộ rất cảm động trước sự quan tâm chăm sóc của đức vua với nàng. Nàng cúi lạy đức vua và lui về thư phòng.

Hoạn quan Đinh Thắng mang cơm tới cho nàng. Hắn lẳng lặng không nói câu gì. Nguyễn thị Lộ nhận cơm và nhờ hắn tạ ơn vua.

... CÒN TIẾP ...






© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng tải theo nguyên bản của tác giả gởi từ Hà Nội ngày 19.02.2012.
TÁC PHẨM CỦA MAI THỤC CHỈ PHỔ BIẾN DUY NHẤT TRÊN HỆ THỐNG VIỆT VĂN MỚI - NEWVIETART