Nhìn lại lịch sử văn học dân tộc Việt Nam,có
một thời tác phẩm Truyện Kiều (TK)là đề tài
làm nổ ra cuộc tranh luận gây xáo động văn đàn và công
luận xã hội thập niên hai mươi,ba mươi thế kỷ XX.
Các bậc thức giả tân cựu (Phạm Quỳnh, Phan Khôi, Ngô
Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng…) ca tụng bênh vực cũng nhiều
mà lên án mạt sát cũng không ít - Vâng ! chỉ tội nghiệp
nàng Kiều nào dám hó hé cự cãi, chỉ biết trốn vào phòng
loan ôm gối tấm tức…-Nàng bị “ăn đòn” rất dữ
nào là “ai dâm,sầu oán đạo dục,tăng bi”-nào là tiểu
thuyết phong tình hối dâm “không đáng làm sách dạy,gieo
cái nọc gió trăng hoa liễu trong não thiếu niên nam nữ
ta”.
Cụ Nguyễn Công Trứ trước đó khi Vịnh Thúy Kiều cũng
đã hạ bút phê:
“Bạc mệnh chẳng lầm người tiết nghĩa
Đoạn trường cho đáng kiếp tà dâm”
Thời đại trôi qua giờ nhìn lại, chúng ta hiểu TK chỉ
là cái cớ tranh luận ẩn chứa những ý định chính trị
đương thời : cảnh tỉnh ngăn không cho “tinh thần quốc
dân bị đầu độc”!
Ở khía cạnh luân lý đạo đức,dưới mắt các cụ Tống
Nho-Khổng giáo đàn bà con gái thuộc phạm trù ”nữ
sanh ngoại tộc” -là“khuê
môn bất xuất” - là“tại gia
tòng phụ,xuất giá tòng phu,phu tử
tòng tử” – có nghĩa chỉ biết cúi đầu tòng
và tòng mãn kiếp .Trong khi đó “lẫm liệt”bước
ra từ tác phẩm, nhân vật Thúy Kiều “xổng” khỏi tay
Nguyễn Du làm “cách mạng” - táo tợn trong ý nghĩ “Nàng
rằng:'khoảng vắng đêm trường - vì hoa nên phải đánh
đường tìm hoa’ ”; cả gan trong hành động: “Xăm xăm
băng lối vườn khuya một mình”.
Và chuyện tất yếu phải đến, là người “vệ đạo”
- giữ nghiêm gia pháp, các cụ phải nọc ra đét roi thôi
! – nói vui theo cái kiểu đánh không chết để nó
hoang đàng mới tiêu vong.!?
Cho đến nay, TK luôn là một tác phẩm mở (open) ,qua thời
gian nhìn dưới nhiều góc cạnh,ta càng thấy lấp lánh
tuyệt vời.
Các công trình nghiên cứu lâu nay đã chỉ ra Nguyễn Du
là bậc thầy ngôn ngữ . Tiếng Việt trong TK bình dị gần
gũi đời sống , biểu cảm phong phú, đặc biệt khả năng
diễn đạt chừng như vô hạn.
Nhiều khái niệm trừu tượng thiền triết sâu sắc tưởng
chừng ‘bó tay’ nhưng qua ngôn từ ,cách biểu đạt
dung dị Nguyễn Du đã làm cho người đọc như được
“sờ” vào nội hàm.
“Tưởng bây giờ là bao giờ
Rõ ràng mở mắt còn ngờ chiêm bao”
Có đó ,không đó,mộng và thực như
thể chồng khít lên nhau ,cuộc sống - con người biến
hóa như ánh chớp –“Thân như điện ảnh hữu hoàn vô”
–(Thân người như bóng chớp có rồi không). (*)
Thầy Nhất Hạnh đã giảng giải : “Câu thơ hay về nội
dung:không biết sự thực này đã là sự thực chưa hay chỉ
là một giấc mơ thôi.Về hình thức: hai tiếng “bây giờ”
và “bao giờ”đều chuyển tải thời gian,đều có chữ
“giờ” đứng đằng sau.Thơ là hình ảnh và âm nhạc.Nếu
nói tưởng bây giờ là lúc nào?thì sẽ không hay. Bây giờ
và bao giờ là hai chữ gần giống nhau như hai sợi tóc .Bây
giờ là vần bằng,bao giờ cũng là vần bằng. Hai chữ có
thể lộn với nhau. Nếu dịch : ‘Is it true or is
it not true’! -thì dở quá đi. Giờ phút bây giờ có
thực là giờ phút bây giờ không?Thực tại trong giờ phút
này có phải là một thực tại hay chỉ là một hình ảnh
của tâm trí mình.Đó có phải là một điều trong quá khứ
mà mình mộng tưởng ra hay một điều trong tương lai mà
mình mơ ước vào? - “Tưởng bây giờ là bao giờ”-
sáu chữ rất mầu nhiệm.-Sống trong giờ phút hiện tại
và thấy được những mầu nhiệm của giờ phút hiện tại.”(“Thả
một bè lau” trg 371 –NXB TÔN GIÁO – Hà Nội 2005).
Ý thức luân lý đạo đức trong TK mang ý nghĩa tích
cực,người đọc tìm thấy ở đó - chứa đựng trong đó
không phải bài lên lớp suông mà là hình tượng
tâm trạng tự thân trăn trở
,cố sức chống chọi vượt lên chính mình
,biết phân định rạch ròi hoa và rác.
Khi
phần “rác”(tạm gọi như vậy) – bản năng dục vọng
khơi dậy :
“Sóng tình dường đã xiêu xiêu
Xem trong âu yếm có chiều lả lơi (câu 499)
thì phần
hoa trong Kiều lên tiếng :
“Thưa rằng:”đừng lấy làm chơi,
Dẽ cho thưa hết một lời đã nao!
Vẻ chi một đóa yêu đào ,
Vườn hồng chi dám ngăn rào chim xanh.
Đã cho vào bậc bố kinh
Đạo tòng phu lấy chữ trinh làm đầu.
Ra tuồng trên Bộc trong dâu,
Thì con người ấy ai cầu mà chi!
Phải điều ăn xổi ở thì,
Tiết trăm năm nỡ bỏ đi một ngày! (câu 501-510)
Gặp lại cố nhân Kim Trọng sau 15 năm lưu lạc – ai cũng
biết tình cũ không rũ cũng tới – cảm xúc ‘mù lòa’
ùa đến – nhưng Kiều đã tỉnh táo kìm lại :
“Chữ trinh còn một chút này,
Chẳng cầm cho vững lại giày cho tan! (câu 3161)
Dẫu đời có vùi dập song phẩm chất tiết
hạnh Thúy Kiều vẫn sáng đẹp - Chữ ‘trinh’ thanh sạch
thuở ban đầu - của Tình thứ
nhất (** )vẫn còn đó nguyên vẹn tinh khôi !
(* )Bài kệ Thị Đệ tử - Thiền sư Vạn Hạnh
(**)Tựa bài thơ tình Xuân Diệu.
______________________________________
(Sài Gòn,ngày 11.02.2012)
© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng ngày 18.02.2012 theo nguyên bản của tác giả gởi từ SàiGòn.