Tình Rồng Tiên







Ngày xưa ở Lĩnh Nam. Thủ lĩnh là Lộc Tục hiệu Kinh Dương Vương. Sức khỏe tuyệt trần. Đi lại dưới nước như trên cạn. Kinh Dương Vương chơi hồ Động Đình (*). Gặp Long Nữ con gái Long Vương. Kết vợ chồng sinh con trai Sùng Lãm.

Sùng Lãm khỏe cực kỳ. Một tay nhấc bổng hai tảng đá lớn. Giống cha, chàng đi dưới nước như thoi. Nối nghiệp cha, hiệu Lạc Long Quân.

Lĩnh Nam xưa hoang vu tù hãm. Lộn xộn tối ngày, không mấy khi yên. Lạc Long Quân du ngoạn nắm binh tìn

Đến biển Đông Nam, gặp con cá lớn. Sống lâu đời, hơn năm mươi trượng. Đuôi cánh buồm, nuốt chửng mười người. Cá bơi sóng nổi ngất trời. Thuyền lại qua, đều bị nhấn chìm. Người trên thuyền bị nuốt sống. Dân chài sợ quái vật, gọi Ngư Tinh.

Ngư Tinh ở hang lớn, ăn sâu đáy biển. Trên hang, một dãy núi cao. Ngăn miền duyên hải hai vùng...

Lạc Long Quân quyết giết Ngư Tinh. Trừ hại, cứu dân lành. Ngài đóng một chiếc thuyền thật lớn. Rèn khối sắt, nhiều cạnh sắc nung đỏ. Đem xuống thuyền, thẳng hang Ngư Tinh. Giơ khối sắt, ném vào miệng Ngư Tinh. Hắn há miệng đón mồi. Ngài lao thẳng khối sắt vào miệng hắn. Ngư Tinh cháy họng, vùng chống cự. Quật đuôi vào thuyền Lạc Long Quân. Ngài chém Ngư Tinh làm ba khúc.

Khúc đầu thành con chó biển. Ngài lấy đá, chặn đường giết chó.Vứt đầu lên ngọn núi, nay gọi Cẩu Đầu Sơn.

Khúc mình Ngư Tinh trôi xứ Mạn Cầu. Nay gọi Cẩu Đầu Thủy. Khúc đuôi Ngư Tinh, Lạc Long Quân lột da. Đem phủ lên hòn đảo giữa biển. Mang tên Bạch Long Vĩ anh hùng.

Trừ xong nạn Ngư Tinh. Lạc Long Quân đến Long Biên. Cáo chín đuôi, nghìn năm thành tinh. Trú hang sâu, chân núi đá Tây Long Biên. Nó hóa thành người trà trộn trong dân. Bắt con gái, mang về hang hãm hiếp. Từ Long Biên đến núi Tản Viên. Dân luôn bị Hồ Tinh xâm hại. Lo sợ, bỏ ruộng vườn, nương rẫy. Kéo nhau đi nơi khác làm ăn.

Lạc Long Quân xót thương dân. Một mình một gươm, đến sào huyệt Hồ Tinh. Tìm cách diệt trừ yêu quái.

Ngài vừa tới hang, Hồ Tinh xông ra. Lạc Long Quân hóa thành mưa, sấm sét. Vây chặt Hồ Tinh, giao chiến ba ngày đêm. Hồ Tinh dần đuối sức, tháo chạy. Lạc Long Quân đuổi theo, chém đứt đầu Hồ Tinh hiện, con cáo chín đuôi.

Lạc Long Quân vào hang, cứu người sống sót. Sai thủy tộc, dâng nước sông Cái, phá hang. Nước sông chảy như thác, băng ngọn núi. Xoáy hang cáo thành vực sâu. Gọi tên Đầm Xác Cáo, nay thành Hồ Tây.

Dẹp yên nạn Hồ Tinh. Dân về ven hồ vui cấy cày, chài lưới. Dựng nhà, lập xóm khu đất làng Hồ. Người Long Biên yên ổn sinh tồn. Lạc Long Quân ngược lên rừng Phong Châu.

Rừng có cây cổ thụ Chiên Đàn. Cao hàng nghìn trượng. Trước kia, cành xum xuê tươi tốt. Sau cây khô héo thành Mộc Tinh.

Mộc Tinh hung ác, quỉ quyệt lạ thường. Chỗ ở luôn thay, rừng này sang rừng khác. Mộc Tinh đổi hình, ẩn nấp khắp nơi. Đón bắt người lớn, trẻ con, ăn thịt. Dân khóc than thảm thiết, kêu la. Lạc Long Quân ra tay trị Mộc Tinh.

Ngài luồn hết rừng này, rừng kia. Qua suối đèo nhiều ngày gian khổ. Mới tìm thấy chỗ ở của Mộc Tinh. Lạc Long Quân giao chiến với Mộc Tinh. Trăm ngày đêm, đất rung đá lở. Trời đất mịt mù, chim thú hoảng hồn. Vẫn không thắng nổi Mộc Tinh.

Cuối cùng Lạc Long Quân dùng nhạc cụ. Chiêng trống khua rầm rập, dồn rã tấn công. Mộc Tinh khiếp sợ, chạy về Tây Nam. Sống quanh quất ở đó, gọi là Xương Cuồng

Diệt xong Mộc Tinh. Lạc Long Quân thấy dân vùng này đói khổ. Thiếu mặc phải lấy vỏ cây che thân. Tết cỏ gianh làm ổ nằm. Lấy cây tưng lư, cây quang lang thay gạo. Lấy rễ gừng ăn cho mặn miệng. Bắt ba ba núi làm mắm…

Lạc Long Quân dạy dân trồng lúa nếp. Lấy ống tre thổi cơm. Đốn gỗ làm nhà sàn ở, phòng thú dữ. Dạy dân ăn ở thuận hòa trên dưới. Cha ra cha, con ra con, vợ chồng ra chồng vợ. Dân ơn đức, xây cho Lạc Long Quân cung điện nguy nga trên ngọn núi cao.

Nhưng Lạc Long Quân không ở. Ngài thường về quê Mẹ thủy phủ. Dặn:

-Hễ có gì tai biến, cứ gọi ta. Ta sẽ về ngay.

Lúc bấy giờ Đế Lai phương Bắc. Đem quân tràn xuống phía Nam. Cùng con gái yêu xinh đẹp Âu Cơ. Thấy Lĩnh Nam phong cảnh tốt tươi. Nhiều chim muông, trầm hương, gỗ quí. Đế Lai dựng thành đắp lũy ở lâu dài. Dân phục dịch, cực không chịu nổi. Hướng về biển Đông gọi Lạc Long Quân

- Bố ơi! Sao không về cứu chúng con?

Chỉ trong chớp mắt, Lạc Long Quân về. Nghe dân kể chuyện Đế Lai. Lạc Long Quân hóa chàng trai đẹp. Có hàng trăm đầy tớ theo hầu. Vừa đi vừa hát, đến thẳng Đế Lai.

Lạc Long Quân không thấy Đế Lai. Thấy một cô dung nhan tuyệt trần. Cùng vô số thị tỳ binh lính.

Người tài sắc đó là Âu Cơ. Gặp Lạc Long Quân tuấn tú hào hoa. Nàng say đắm, xin theo cùng chàng. Chàng đưa Âu Cơ về cung điện núi cao.

Đế Lai về, mất tích con gái. Liền đem quân lính tìm khắp nơi. Hết ngày này qua ngày khác. Lạc Long Quân sai vạn ác thú chặn đường. Xé xác lính, chúng kinh hoàng bỏ chạy. Đế Lai ngậm ngùi thu quân về xứ Bắc

Lạc Long Quân làm chồng Âu Cơ. Ít lâu sau, Âu Cơ sinh một bọc. Bảy ngày, bọc nở ra trăm trứng. Mỗi trứng nở một người con trai. Trăm chàng trai lớn lên như thổi. Khỏe mạnh, khôi ngô, thông minh tuyệt vời.

Hàng chục năm, gia đình Âu Cơ. Hạnh phúc, vợ chồng với đàn con.

Lạc Long Quân luôn nhớ về thủy phủ. Một hôm, chàng từ giã vợ con. Hóa Rồng, vượt mây bay về biển.

Âu Cơ và các con nhớn nhác bám theo. Không theo được! Nàng buồn ở lại núi. Ngày qua ngày. Nàng mỏi mắt ngóng chồng. Lạc Long Quân biển trời xa biền biệt. Âu Cơ sầu, nhớ chồng khôn xiết. Nàng đứng trên ngọn núi hướng biển Đông. Cất tiếng gọi thất thanh

- Ơi bố nó! Bố nó ơi! Sao không về, không về. Để Mẹ con thiếp sầu khổ thế này?

Lạc Long Quân biển khơi nghe nàng gọi. Tức khắc về, ôm quấn lấy vợ con.

Âu Cơ rầu rĩ trách chồng:

- Thiếp vốn sinh ở núi cao, động lớn. Ăn ở với chàng, sinh được trăm trai. Sao chàng nỡ bỏ mẹ con thiếp mà đi. Để Mẹ con sống bơ vơ lạnh lẽo?

Lạc Long Quân nghẹn ngào phân giải:

- Ta là loài Rồng, nàng là giống Tiên. Khó ăn ở với nhau lâu được. Nay ta đem năm mươi con về biển. Nàng đem năm mươi con về núi. Chia nhau trị vì, trồng cấy, dựng xây. Kẻ lên rừng, người xuống biển. Giữ nhà. Giữ đất ruộng đồng. Giữ núi sông. Giữ biển đảo xa. Gặp sự nguy thì cấp báo cho nhau. Cứu nhau vượt qua hoạn nạn. Đừng quên nhau, cùng một bọc Mẹ Cha!

Gia đình Âu Cơ lã chã lệ tuôn. Vợ chồng chia rẽ đôi đường. Từ biệt nhau lên ngàn xuống bể. Cuộc chia ly vì nghĩa lớn quốc gia. Gác tình nhà để mà cứu nước.

Trăm người con trai, trăm nẻo biển rừng. Thành Tổ tiên của người Bách Việt.

Người con trưởng ở lại Phong Châu (*) được tôn vua Văn Lang hiệu Hùng Vương.

Tình Rồng Tiên ghi tạc hình tượng Cha Lạc Long Quân vào sông, núi, biển, trời, nước Văn Lang. Bậc làm vua như Lạc Long Quân. Một kiếp người xả thân cứu dân. Sức mạnh vũ bão. Dũng Trí cao cường. Ở đâu và lúc nào Người cũng đều chiến thắng. Cứu muôn dân thoát nạn phong trần. Trừ mọi thứ giặc trên đời vây quấn. Giặc xâm lăng xử bằng Tình Nghĩa. Kết Tiên Rồng vui sống Nghĩa Nhân.

Hỏi thế giới có dân tộc nào mang tầm cao nhân bản. Như tộc Việt Âu Lạc Văn Lang?

Nỗi nhớ Tổ Tiên. Giống nòi Âu Lạc. Bắt đầu từ cuộc chia ly rung núi chuyển sông của Cha Mẹ Tiên Rồng. Nỗi nhớ thành niềm thao thức tâm linh. Truyền đời nối đời Việt tộc.

Họ tiễn đưa nhau lên thác xuống ghềnh với lời thề non, hẹn biển. Mong cho nhau chân cứng đá mềm. Họ nguyện cầu chín tầng mây yên ả. Trời Đất thênh thang. Êm đềm trăng gió hồng hoang. Họ tìm nhau trong mơ. Trong gió bão, trong lửa cháy, khói bom, trong cơn khát của bầu trời, trận rung của mặt đất. Họ khắc đá ghi xương khối ân tình. Dù nước chảy đá mòn. Tình không phai nhạt. Họ thề nguyền cuộc chia ly không làm tan đàn chim Lạc. Họ khắc khoải gọi cháu con ngàn sau, mãi mãi, đừng quên nỗi đau này. Sức sống bất diệt này. Tình yêu chung thuỷ này…

Non nước Việt Nam. Dăm bảy nghìn năm sau. Đàn con Âu Lạc vẫn xao xác tìm nhau khắp địa cầu. Đàn con thiết thao gọi Cha Mẹ Âu Cơ- Lạc Long Quân mau về cứu chúng con. Tiếng gọi vang động rừng già, chuyển rung biển lớn, xuyên thấu cao xanh:

- Kính Lạy Mẹ Âu Cơ. Trăm trứng Âu Cơ một dòng sữa Mẹ. Chảy tuôn tràn tắm tưới giang san. Nuôi đàn chim Việt muôn ngàn kiếp. Bay bốn phương, con đống cháu đàn. Tất cả cùng một bọc sinh ra. Là con một Cha, nhà một nóc. Giống Tiên Rồng Cha Mẹ dựng gây. Mà có lần con đứng lặng bờ Tây. Thái Bình Dương, nửa vòng trái đất. Máu đỏ da vàng, mũi tẹt giáp nhau. Quán “Cơm Việt Nam” “Phở Hà Nội”. “Bánh cuốn Thanh Trì”, “Chè Hội phố”. Nhìn nhau như mặt giăng, mặt giời. Tránh ánh mắt, nụ cười, giọng nói. Không thốt nổi gọi: “ Mẹ Âu Cơ”. Không ca được một câu “Lạy tạ”. Không biết đâu Tổ quốc Mẹ hiền! Đau đớn con, xa xót lòng con. Đàn kiến gặp nhau, cụng đầu chào. Đàn con Việt, ngoảng mặt, xoay lưng? Đau đớn xuống mép bờ biển lạnh. Lặng nhìn về Đông Thái Bình Dương. Quê Mẹ xa, gần trong bước sóng. Khóc nghẹn ngào gọi Mẹ Âu Cơ!

Sóng điện tâm linh của tiếng gọi Mẹ Âu Cơ cảm ứng truyền quanh quả đất, biển trời, vũ trụ bao la. Gọi đàn chim Lạc tìm về ấp ủ tình Rồng Tiên.

Cha Mẹ nhớ cội nguồn. Đặt tên con “Âu Cơ”. Thuyền tình trôi dạt đại dương. Tiếng gọi “Âu Cơ” lòng ấm lại. Nghĩa Vợ Chồng, Con Cháu Rồng Tiên. Đất lạnh trắng trời, ôm lũ con thơ dại. Nuốt nước mắt vào trong. Nuôi “đàn chim Việt” lớn thành Người. Khắc khoải gọi “Âu Cơ” Đất Mẹ! Thái Bình Dương “Muối mặn gừng cay”. Tình Rồng Tiên tràn lệ tinh cầu. Đêm dài ai thầm gọi “Âu Cơ”. Sóng chát chao tiếng Vợ gọi Chồng. Tiếng Cha gọi Con, Chồng gọi Vợ. Tiếng Con gọi Mẹ Cha, cháy Đất Trời. Tiếng Anh Em gọi nhau da diết một đời!

Trần gian hỡi!
Có cuộc sinh nở nào đau đớn vậy?
Mẹ Âu Cơ quằn quại giữa hồng hoang
Gieo trăm trứng nở nòi giống Tiên Rồng
Sinh thực khí Mẹ Cha Việt cổ
Âm vang Trống Đồng cốt cách Rồng Tiên.

Hồ Gươm chiều Thăng Long nghìn tuổi. Ôm cháu vào lòng cô gọi “Âu Cơ”. Truyền sức sống Tình yêu Mẹ Việt.

Giọt máu Tiên Rồng ta gửi trao nhau. Cháu đã về đây với Tổ Tiên. Cây có cội, nước có nguồn.

Gia đình Âu Cơ tan hợp bể dâu
Chia ly mấy nghìn năm vẫn nhớ
Tìm về nhau, xao xác đêm sâu
Thầm gọi nhau, vang động rừng già
Nước mắt rơi, xuyên thấu cao xanh
Xin cầu nguyện chín tầng mây yên ả
Lòng người thênh thang, mưa nắng êm đềm
Máu xương rơi! Không tan đàn Chim Lạc
Khắc cốt ghi xương Tình Rồng Tiên
Tình Anh Em ruột thịt một nhà
Mình yêu thương cho núi cao, sông rộng
Tình Rồng Tiên xua giá lạnh địa cầu.



Hồ Gươm Thu 2010- 2011.
___________________________________________

(*) Sách Việt Lý Tố Nguyên của Triết gia Việt Nam Lương Kim Định (1914- 1997) chương “Sử điệp Trống Đồng” đọc mật mã Trống Đồng Đông Sơn, phát hiện Tổ Tiên Bách Việt là chủ nhân của bài “Nghê Thường Vũ Y Khúc” hiện rõ từng nét trên Trống Đồng.

“Nghê Thường Vũ Y Khúc” còn có tên là “Động Đình Hồ” (Bài ca vũ được ca múa chào Mặt Trời, người Việt cổ đã hát trên bờ Động Đình Hồ).

Sách Lĩnh Nam Chích quái liệt truyện- Truyện Hồng Bàng ghi: “Nhà nước Văn Lang: Đông giáp Nam Hải (nay là Quảng Đông- Trung Quốc) Tây giáp Ba Thục (Tứ Xuyên- Trung Quốc) Bắc đến Động Đình Hồ (nay thuộc Tỉnh Hồ Nam Trung Quốc) Nam đến nước Hồ Tôn (Chiêm Thành).

Giáo sư, Bác sĩ Trần Đại Sỹ (Trường Y khoa Arma-Paris, Giám đốc Trung Quốc sự vụ Viện Pháp- Á ) dịp khai giảng niên khoá 1991- 1992 tại Viện Pháp- Á đã công bố nghiên cứu khoa học của ông bằng cổ sử, triết học, khảo sát địa lý, di tích các vùng trên tại Trung Quốc, và hệ thống ADN, Trần Đại Sỹ xác định biên giới cổ của Việt Nam đúng như Truyện Hồng Bàng ghi.

Động Đình Hồ cái nôi của Việt tộc. Cho tới Bắc thuộc lần I, từ phía Nam sông Dương Tử xuống là vùng đất cư trú của cư dân Bách Việt (không cùng hệ thống AND với người Trung Quốc).
Động Đình Hồ còn có nghĩa là cái ao tròn bên cái nhà vuông, hiện diện khắp nơi trên đất nước Việt Nam hiện nay.

(*) Phong Châu thuộc khu vực Đền Hùng, Tỉnh Phú Thọ ngày nay.





© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng tải theo nguyên bản của tác giả từ Hà Nội ngày 04.02.2012.
Trích đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com