Chiều ba
mươi tết, lão đãng tử già thu
xếp mớ đồ
đạc lỉnh kỉnh, leo lên
chiếc xe gắn máy cũ kỹ rồi bỏ đi,
việc lão
bỏ nhà đi
biền biệt mấy ngày
liền đã trở thành thói
quen, gia đình cũng chẳng
ai buồn để
ý, chỉ có điều hôm nay ba mươi tết, lão
quên cả việc khói nhang là chuyện tương đối bất thường.
Con ngựa
già đủ sức chạy một mạch đoạn đường ba chục cây
số, đưa lão tới vùng bán sơn địa, lão lặng lẽ dắt
xe vào ngôi chùa cổ, trước cổng tam quan lờ mờ hàng chữ
Hán: Thạch Tân tự. Chùa Bến Đá lọt giữa ba tầng núi,
trước mặt là sông. Lão có vẻ hấp tấp, không ghé vào
thiền phòng thăm
sư cụ, mà
theo lối mòn quen thuộc vòng xuống hậu liêu, rẽ thẳng
ra mé bờ sông. Ráng chiều vàng úa, phiêu phiêu đổ, bờ sông
phất phơ mấy hàng
lệ liễu, xen lẫn với vài chục gốc đào bắc, mai nam.
Cảnh vắng thêm phần hoang phế, rét mướt, tĩnh lặng đến
vô cùng. Sư già khoác vội chiếc áo cà sa bạc phếch, lặng
lẽ liêu xiêu men theo bờ sông, tiến tới gần lão, lão
cũng chỉ lặng lẽ gật đầu
chào cố
nhân. Mớ dụng cụ bầy ra trên bãi cỏ non, một giá vẽ,
mớ cọ, hộp bột màu, tờ giấy làm hàng mã xam xám, bồi
sẵn trên miếng ván ép được
xếp lên
giá. Sư già nheo mắt:
- Ông đi
vẽ tranh?
- Vâng.
Lão chậm
rãi:
-Đãng
tử hồi đầu,
sáu mươi tuổi bắt đầu học vẽ, lòng
chỉ ao ước có được bức tranh chùa Thạch Tân vào đêm
ba mươi tết.
- Sao lại
phải vẽ vào đêm ba mươi tết?
-Vẽ không
giống như chụp, máy ảnh vô tri. Còn người nghệ sĩ nhìn
cảnh bằng hồn.
Sư già gật
gù, vẻ đăm chiêu. Lão đãng tử chợt thao
thao, dáng thanh thoát, vời vợi trang nghiêm như hòa thượng
thuyết pháp, trong ánh mắt già một tia nắng chiều sắp
tắt vụt sáng lên:
-Đêm ba mươi
tết không giống bất kỳ một đêm nào khác, không như
đêm mùa hạ, mùa thu, mùa đông, đêm ba mươi khiến lòng
chợt gợi lên ký ức của một đời,
của một thời. Ký ức vời vợi những còn,
những mất, những được,
những thua, những đắng cay, dịu ngọt. Người già cảm nhận đêm
ba mươi tết như chặng cuối của cuộc đời, cuộc đời
hư vô và mung lung, có bến mà vẫn như không tìm được chỗ đậu
thuyền, cuối cùng
chỉ còn sót lại một khoảng thời gian rất ngắn, rất
ngắn nên phải cố đuổi
bắt cho kịp. Tâm thức đó được đưa lên
giấy, trong sự hòa nhịp trọn vẹn giữa người và trời,
khi ấy trời không còn là một khoảng không lạnh lùng,
vô tri, vì trong tranh đã có hồn.
Sư già thở
dài:
-Mô Phật!
Trầm luân một cõi đi
về phù
du. Thôi, chẳng dám khuấy động
ông nữa.
Sư già quầy qủa trở
về chùa. Còn lại một mình, lão di chuyển từ vị trí
này sang vị trí khác, mắt nheo nheo ngắm nhìn ngôi chùa
cổ mái bạc mầu rêu, ngắm trời, ngắm đất.
Cuối cùng
lão cũng chọn được
vị trí thích hợp để kê
giá vẽ. Từ vị trí này, lão thấy một góc chùa và cả
dòng sông. Góc chùa ẩn khuất, lờ mờ. Dòng sông sáng hơn,
sông hẹp, nước hiền hòa, không giống như cuộc đời
nổi sóng, cuồn cuộn bon chen. Mé bờ sông có một lá thuyền
con bồng bềnh, không người, không lái. Lão lặng lẽ, xuất
thần, rồi ngồi tựa lưng vào cội mai già thiêm thiếp.
Đêm dần xuống, trở lạnh, trở gió, gió heo may, rì rào.
Trời không trăng,
nhưng đầy sao và đặc biệt trong
xanh, cao vút. Có vẻ trời cũng chiều người, không tối
âm u như đêm
ba mươi thường tình. Lão vươn vai đứng dậy, thắp một
ngọn đèn bão. Ánh sáng lù mù, chỉ vừa đủ
soi giá vẽ. Lão
bắt đầu
ngưng thần, phác họa cảnh vật bằng viên
than. Dưới mái hiên, lúc này sư cụ đã thắp ngọn đèn
lộng hình búp sen, ánh sáng nhân tạo duy nhất, hắt qua
lớp giấy kiếng đục
khiến cho lối vào
tĩnh phòng càng thêm lung linh, mờ ảo. Một góc chùa, một
dòng sông với hàng lệ liễu, một con thuyền, và xa, rất
xa, một viền núi lờ nhờ, cảnh vật hiện lên trên trang
giấy chỉ có thế thôi, và cuộc đời
cũng chỉ cần có thế thôi.
Lão bóp một ít
keo lên tấm bảng mầu, dùng đầu
cọ nhúng vào
các ngăn
vàng đất, nâu, xanh
lá, xanh da trời và
tím đen.
Tất cả các gam màu đều lạnh và tối. Một lớp
xanh da trời rất loãng và mỏng làm nền cho khoảng không
gian và dòng sông, một lớp xanh da trời pha lẫn chút tím đen để viền
mép núi, một lớp xanh lục pha đậm tím đen để vẽ hàng liễu rủ, mờ
dần, mờ dần, một lớp nâu pha tím đen
để tả gian chùa
trong góc tối, những mảng mầu lần lượt đắp chồng
lên nhau, lão chấm thêm một ít mầu huyết dụ, để tạo vùng ánh sáng hắt
lên cửa phòng, dần dần hình thành một không gian rất
lạnh, không gian của lão, của người nhìn hiện tại bằng
tâm thức nhọc nhằn. Vẽ xong, lão lấy cọ, nhúng nước,
xóa mờ những góc cạnh, bức tranh nhập nhòe, cảnh vật
hòa quyện vào nhau. Đêm ngả về khuya,
gió núi hú lồng lộng, lão dựng ngược cổ áo, làm vài
cử động cho ấm người rồi lại tiếp tục.
-Đẹp mà
buồn quá.
-Thật vậy
ư?
Lão thủng
thẳng quay lại. Một bóng dáng thanh thoát đứng
khuất xa tầm ánh sáng, cô gái áo trắng, khuôn mặt lờ
mờ, nửa đêm
xuất hiện, phảng phất như gái lang thang đi về giữa cõi
người và chốn Liêu Trai.
-Sao bác không
dùng sơn dầu dễ tả hơn?
Lão nhìn
cô gái có vẻ ngạc nhiên:
-Cháu cũng
biết vẽ à?
-Biết sơ
sơ, nhưng chưa đủ khả năng để gửi hồn vào tranh.
-Bác không
vẽ sơn dầu vì không còn đủ
thời gian chờ đợi. Sơn dầu lâu khô lắm.
Cô gái
chợt thở dài:
-Không đủ thời gian,
nó giống như một án phạt, lơ lửng, đe dọa.
Lão đãng tử già nhìn
cô gái đăm
đăm, ở cô gái có cái gì
rất quen, nhưng vẫn lạ:
-Không đủ
thời gian là án phạt đối với người già, đất rất
gần mà trời hình như lại quá xa. Còn cháu, cháu trẻ mà
cũng có ý niệm ấy sao?
-Có đó, bác ơi!
Cháu cũng có đó. Đôi khi cháu cảm thấy sợ vô cùng. Cuộc sống được đếm
từng ngày
thực sự là một án phạt.
Một lần
nữa lão lại nhìn sững cô gái:
-Thật vậy
ư? Chẳng lẽ một cô gái trẻ lại mang trong lòng nỗi ám
ảnh của thời gian?
Giọng cô
gái thật buồn:
-Những bước
ngoặt lớn trong cuộc đời hầu như đều đến thật tình
cờ, vượt ra ngòai mọi dự đoán,
toan tính.
-Nếu thế,
cháu sẽ làm
gì?
-Vẫn sống
trọn vẹn những ngày còn sót lại. Cuộc đời
đẹp lắm, nó giống như ánh nắng chiều trên đỉnh núi cao,
càng nhìn
càng khám phá ra những điều
mới lạ. Ánh nắng chiều càng
thêm đẹp
vì sắp
tắt. Cuộc đời
càng thêm đẹp lúc sắp
tàn.
Giọng nói đứt quãng của cô gái
áo trắng điểm
bằng tiếng mõ
cá lóc cóc, từ ngôi chùa cổ vọng ra, chậm rãi, nhịp
nhàng. Cô chợt lảng sang chuyện khác:
-Giá trên
thuyền có một lão lái đò thì tranh ấm
hơn.
Lão tư lự:
-Ừ, ấm
hơn, thật ra, ... bức tranh này không cần có người.
-Nhưng bác
này, bức tranh dường như vẫn còn thiếu một cái gì đó.
-Đúng
rồi.
Lão lấy chiếc bàn
chải đánh
răng, nhúng nước rồi chấm bột trắng, vàng
chanh, cam.
-Bác đang làm chi vậy?
-Cháu cứ
chờ xem đi.
Lão búng lớp bột
mầu lên khoảng trời, một mảng tranh lấm chấm những điểm nhỏ trắng,
vàng và
cam. Lão quệt một lớp trắng ngả vàng lên chóp núi, ngọn
cây, mái chùa, rồi nhìn cô gái cười thật hiền:
-Bức tranh
không cần có người nhưng phải có sao, thêm một chút ánh
sáng. Đúng không?
-Đúng đó
bác, điều may mắn là trong đêm tối hãy còn có sao.
Sáng mồng
một tết, vẫn khoác tấm áo cà sa bạc phong phanh, sư già
lặng lẽ đứng trước giá vẽ, vẻ thật đăm chiêu, giọng
sư già nhẹ như gió thoảng:
-Dù sao một
tấc quang âm vẫn là một tấc vàng.
Giọng nói
thì thầm của sư già đủ khua động lão đang
chìm trong
giấc ngủ chập chờn. Lão vẫn nằm lười, đầu gối lên
gốc hoàng mai, gốc hoàng mai sì sì, cũng già như lão, nhưng
hoa vẫn đẹp. Lão chợt nhìn quanh:
-Đâu rồi, cô
ta đâu rồi?
-Người
con gái áo trắng trò
chuyện lúc nửa đêm, phải không?
Sư già chợt
thở một hơi thật sâu:
- Đi rồi,
cô ta đi rồi.
_________________________________________
© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả ngày 13.01.2012.
Xin Vui Lòng Ghi Rõ Nguồn Newvietart.com Khi Trích Đăng Lại .