TÁC GIẢ
TÁC PHẨM



THẾ PHONG



Tên thật Đỗ Mạnh Tường.

Sinh ngày 10-7-1932 tại Yên Bái
trong giấy tờ tuỳ thân 1936.

Khởi sự viết văn cuối 1952.

Truyện ngắn đầu tiên Đời học sinh ký Tương Huyền đăng trên nhật báo Tia sáng ở Hà Nội (17-11-1952), Ngô Vân, Chủ nhiệm).

Truyện dài đầu tiên in ở Sài Gòn: Tình Sơn Nữ (1954).

Tổng số trên 50 tác phẩm đủ thể loại: thơ, truyện, phê bình, khảo luận, dịch thuật.

Từ 1952, ở Hà Nội cộng tác với các nhật báo Tia sáng, Giang Sơn, tạp chí Quê hương, phóng viên các báo Thân Dân (Nguyễn Thế Truyền), Dân chủ (Vũ Ngọc Các) (Hà Nội: 1952-1954). Chủ nhiệm tuần báo Mạch Sống, Dương Hà chủ bút - báo chỉ xuất bản được một số rồi tự đình bản vào 1955 ở Sài Gòn.

Cộng tác viên, tạp chí ở Sài Gòn: Đời Mới, Nguồn Sống Mới, Văn Nghệ Tập San, Văn Hoá Á Châu, Tân Dân, Tạp chí Sống (Ngô Trọng Hiếu), Sinh Lực, Đời, Nhật Báo Sống, Tuần báo Đời (Chu Tử), Trình Bầy, Tiền Tuyến, Sóng Thần (Uyên Thao), Lý Tưởng,v.v… -

Đăng truyện ngắn Les Immondices dans la baneliue trên báo Le Monde Diplomatique (Paris 12-1970)

Đăng thơ trên tạp chí Tenggara, Kuala Lumpur - Malaysia) từ 1968-1972- sau in lại thành tập: Asian Morning, Western Music (Sài Gòn 1971, tựa Gs Lloyd Fernando).







 






Hà Nội 40 Năm xa - tranh bìa của hoạ sĩ Đằng Giao








HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA


Tặng họa sĩ Phan Diên
T.P




... Có một Hà nội làng hoa Ngọc Hà em đứng đó
Chầm chậm trở về trong mỗi giấc mơ
Chầm chậm đến với những câu thơ
Chầm chậm đời mình cho ngày xuân tới
Và anh
Tình yêu Hà Nội lại theo về...

THÁI THĂNG LONG
(Chiều Phủ Tây Hồ, 1993)




CHƯƠNG 1

Tiếp Theo



Sẵn vé xe ca mua ở Tân Sơn Nhất, tôi chỉ việc xách hành lý leo lên, các bạn khác tản mác đâu không rõ.
Ngồi băng chót, bên phải một trung niên nói giọng Huế, hỏi lý do tôi về Hà Nội thăm gia đình hay đi họp hội nghị? Trả lời chung chung; sau xem chừng không cần đề phòng, tôi cho biết lý do tham dự hội nghị, do tòa đại sứ Pháp tổ chức.
Ông thấy tôi cầm Le Mékong giở trang điều tra, phóng viên Pháp Laurent Passicousset phỏng vấn Lê Minh Khuê, Lý Lan, Ý Nhi, Huy Thiệp, Bảo Ninh… và đọc lướt qua bài: Le cas Duong Thu Huong được đóng khung riêng. Từng cựu học sinh Hà Nội thông thạo pháp văn, ông quay sang dịch ngay câu trả lời của Bảo Ninh, bây giờ tôi không sao tái bản được Nỗi buồn chiến tranh bằng tiếng Việt.() Rồi nói như tự nhủ, làm sao mua được cuốn truyện này để đọc? Và quay sang hỏi tên, địa chỉ, điện thoại riêng của tôi ở Hà Nội. Chỉ cho biết tên, còn chỗ ở, chính tôi cũng chưa biết đêm đầu tiên ở thủ đô sẽ đặt lưng nơi nào?
Xe qua cầu Thăng Long về đến Bưởi, rẽ sang Hoàng Hoa Thám, tôi thực sự xúc động, ngồi lúc nhoai lên, lúc xuống. Thấy vậy, bạn trung niên nhường chỗ ngồi ngồi thoải mái, nhìn ngắm phố phường nhộn nhịp.
Xe vào quảng trường Ba Đình, nhìn lại ngôi trường, kia đúng là Lycée Albert Sarraut thân thuộc. Xa xa, Cột Cờ Hà Nội tọa lạc trong sân vận động, từng mang tên tây State de Mangin, cờ phất phới theo gió tung bay.
Rồi xe lao vút qua Cửa Nam, chẳng mấy lúc đã hiện ra Hồ Gươm nước mầu xanh lục. Không thể quên, xung quanh hồ Hoàn Kiếm vào thập niên đầu năm mươi, từng tổ chức chợ phiên, ngày đêm đông đúc nườm nượp khách bộ hành rong chơi dẫm nát cỏ đường mịn : trong đó có tôi, cậu học sinh 18 tuổi, mới từ Nghĩa Lộ về Hà Nội .



Nhìn đồng hồ đúng sáu giờ mười lăm chiều, lững thững đi bộ, đâu đây tiếng xe thồ ơi ới gọi, xích lô năn nỉ lên xe, tôi lắc đầu tản bộ.
Kìa vẫn là cầu Thê Húc năm nào bị sập, đúng vào đêm giao thừa năm năm mươi hai, bởi khách chen chúc vào đền xin quẻ, hái lộc đầu năm. Cầu xây lại thiết kế độ cong cao hơn cầu cũ lài lài.
Này đây, tháp Hoà Phong vẫn rêu phong, xưa mỗi lần đi qua đây mua phá sa của ông Tàu cụt cả hai chân, kê hai đầu gối trên chiếc ghế đẩu thâm thấp, rồi thò tay vào túi quần lấy từng hột lạc rang thơm phức mùi húng lìu đưa vào miệng. Hột lạc vừa mẩy, vừa rịn, rất ít bị hột thối. Sau năm tư, lang thang trên đường Lê Văn Duyệt Sài Gòn, trên hè trước cửa Tổng Liên đoàn lao động, tôi còn bắt gặp ông ; với hũ lạc bọc ngoài hàng lớp vải dầy, vẫn ngồi trên chiếc ghế thâm thấp như xưa kia, đeo kính dầy cộm, ngồi bán lặng lẽ. Rồi sau, một người bạn ở lại Hà Nội cho hay, sau năm lăm, lại vẫn thấy ông già tàu bán phá sa ở tháp Hòa Phong. Cũng có ý tìm lại người cũ ở cảnh xưa, không thấy, có nghĩa ông đã bay xa thật rồi!. Dầu vậy, tôi vẫn hình dung được ông già tàu bán phá sa đầu hói, tóc hớt trọc, thân hình mập mạp, cụt hai chân, ngồi trên chiếc ghế đẩu thâm thấp, ít nói, không bao giờ cười và chắc chắn là một kẻ tốt bụng. Nhìn kỹ Tháp Rùa cuối hồ, dường như tầng tháp chót, tu tạo lại rất khác xưa và hơi quê kệch, không còn nét sắc sảo cổ kính. Nhớ giờ sử ký, học trả bài thuộc lòng, không thể quên Tháp Rùa, còn gọi Điếu Đài, nơi vua Lê Thánh Tơng, thường tiền hô hậu ủng, tới nơi này câu cá. Không biết những chú cá nằm dưới kia; có biết thân phận, mà trốn chạy, hoặc tham mồi, mắc bẫy vua giăng? Với tôi, thật không gì thú vị cho bằng, nhìn ngắm cánh hoa lộc vừng mầu đỏ huyền diệu theo gió, thả từ trên cao lướt thướt giăng giăng mặt hồ. Cây lộc vừng này có tới chín gốc, theo nhà văn Băng Sơn (gặp lại sau này) xung quanh Hồ Gươm, chỉ có hai cây lộc vừng mà thôi. Anh được coi như, một trong năm ngũ hổ của làng báo thủ đô, viết nhiều, in sách không ít; thổ công thuộc từng ngõ, gõ từng căn nhà cổ, mổ xẻ từng ngách, mách từng con đường vừa nhỏ lại hẹp và ngắn nhất của đế đô Thăng Long. Anh còn cho in thú ăn chơi của người Hà Nội",() về món ăn bình dân đã nhiều lần thưởng thức, anh tả thật chi tiết, xác thực – còn món hảo hạng đắt tiền, có lẽ chưa nếm nhiều lần, tả lại ắt hẳn không hay! Cũng chẳng thể bắt lỗi anh được, bởi thủ phạm chính là le fétéchisme d’ argent không cho anh nhiều cơ hội vào nhà hàng sang trọng, được ăn nhiều món ăn ngon. Vậy hiển nhiên là bạn tôi cũng rất thích thành ngữ này, như Jules Supervielle() thích được nhắc lại; bởi thuở hàn vi đau xót nhiều lần đứt ruột, túi không tiền mang nhục!. Bây giờ đứng trước Tháp Bút, kia là đền Ngọc Sơn, lô nhô đám thợ đang sửa sang, tu tạo, cũng lại thử tìm tấm bia tạc công đức người khai sáng chữ, kẻ trồng cây chữ quốc ngữ cho chúng ta thừa hưởng. Nhưng chưa thấy đâu cả? Xa hơn nữa, phía bên kia hồ, Nhà Thủy Tạ, rồi đến quán Đô Thành (chủ quán là hai chị em bà mụ Béo, người có vóc dáng lớn gấp ba người đàn bà thường), nay cảnh cũ người xưa không còn! Kia, vẫn là cái dốc thoai thoải dẫn lên Hàng Đào, bỗng nhiên, tôi khựng lại, bởi tòa nhà lớn xây rất hiện đại, bề thế của hãng Daewoo lừng lững đập vào mắt. Chẳng lẽ đây là biểu tượng văn minh của thành trì Hà Nội bây giờ?



Trời gần tối, gọi xích lô đưa đến nhà Đoàn Chuẩn, nhạc sĩ nổi danh một thời trước năm tư ở miền Bắc, nay cư ngụ tại phố Cao Bá Quát, nhà số 9, để chuyển thư của nhạc sĩ Lê Hoàng Long nhờ. Tơi nhớ mài mại, nhà này ở một đầu phố, nằm phía sau Nguyễn Thái Học, kéo dài tới Nguyễn Tri Phương, xưa còn có tên là phố Tuyên Quang. Anh xích lô ra giá: năm cò một bợ, ngẩn người nghe ;tôi đoán già, đoán non năm nghìn một cuốc xe. Trả liều ba cò không đi kêu xe khác. Lúc đầu, anh xích lô lắc đầu, sau lại mời lên. Tôi cứ làm như mình thuộc đường, lấy tay chỉ chỏ, cứ đi thẳng ra Cửa Nam, đến hiệu Alimentation Générale Anpo, rẽ sang Nguyễn Tri Phương là tới phố Cao Bá Quát. Xuống xe, đưa tờ năm nghìn, đáp không tiền thối; tôi bảo anh: cứ cầm đi, nhưng nhớ tôi vẫn là dân thủ đô đấy!.



Tòa nhà ba tầng có gắn ăng ten Parabol, tầng trệt cho thuê bầy bàn bi da; còn tầng giữa, nơi ở của gia đình.
Trước mặt tôi, một Đoàn Chuẩn, nằm trên giường nệm, bàn dài bầy ti vi, đầu máy. Anh đang nghe compact disc cuốn băng vidéo, do đạo diễn Đinh Anh Dũng thực hiện. Anh nói, bản quyền ba triệu là cao nhất bây giờ ; nhưng ở đây có thâu tốt cách mấy, cũng chưa bằng Cali được và vẫn thích giọng ca số một, Khánh Ly. Nói gì cũng phải cả, nhưng lời ca, tiếng hát cũng thuộc vào xướng ca có loại mới hay! Khánh Ly và Ái Vân đều hát hay cả là phải , vì con nhà nòi mà !.() Chị Đoàn Chuẩn pha hai ly cà phê sữa 3 trong 1 thết khách, vừa uống vừa râm ran tâm sự: Thằng nhạc sĩ Lê Hoàng Long là bạn thân, nó nhờ tôi xin ảnh mấy tay nhạc sĩ Hà Nội trước 54, và bất cứ giá nào cũng phải tìm bằng được ảnh Nguyễn Văn Khánh cho nó để in vào sách sắp ra . Bữa nào anh về, cho biết, tôi gửi cho nó. Thở hổn hển, anh lại xin phép, nằm dài trên giường.



Nhớ lại, chủ hãng nước mắm Vạn Vân, mỗi lần từ Hải Phòng lên Hà Nội, chơi ngông thuê riêng một máy bay bốn chỗ, hai cánh kép của hãng Autrex ;còn xe hơi dùng riêng chiếc Buick 52 xám tro. Thời kỳ này ở Bắc Việt chỉ có hai chiếc xe Mỹ, chiếc Buick 51 cũ hơn là của thủ hiến Bắc phần, Nguyễn Hữu Trí. Cậu chủ hãng nước mắm, bỏ nhà theo kháng chiến ; khi nằm khu ba, lúc ra khu bốn, nhớ đào nhiều, vợ thì ít; mà vẫn sáng tác riêng Đường về miền Bắc hoặc Đường về Việt Bắc dành tặng nội tướng. Rồi từ chuyện tình hứng cảm do Trần Thiếu Bảo() kể lại, chẳng bao lâu Tà áo xanh ra đời. Nhưng đặc biệt có một bài dành riêng cho Mộc Lan, em gái ở đàng trong mới gặp gỡ mà tình riêng lại rất tha thiết. Và chơi trội đúng tác phong con nhà giầu, xài tiền đúng chỗ; bèn đặt hoa tươi, mỗi sáng buộc cửa hàng đem lại tặng nàng với tấm danh thiếp trắng bóc. Sáu tháng ròng rã, ca sĩ Mộc Lan chưa biết được ai tặng hoa cho, một buổi sáng ở nhà, hỏi cho ra lẽ. Thế là công tử nhạc sĩ đa tình Đoàn Chuẩn đành lộ mặt!. Còn bây giờ nhạc sĩ tài hoa ra sao ? Miệng móm sều, không mang răng giả, mặt bủng, da chì, năm nay 71 tuổi, cùng tuổi vợ. Cùng tuổi nằm duỗi mà ăn, bây giờ thì cạn kiệt; chị giải thích thêm, đúng hơn là cạn kiệt từ mùa thu năm năm tư rồi. Đoàn Chuẩn chuyển tờ tạp chí, có bài phỏng vấn, nói rất chân tình… bây giờ tôi đang lâm vào tình trạng kiệt quệ, cả tình, lẫn tiền và quan trọng hơn hết là tài. Anh sống lại với tài năng dĩ vãng, đẻ ra những đứa con tinh thần, nay chúng tản mác bốn phương. Nào là Chuyển bến, Tình nghệ sĩ, Dang dở, Đường về miền Bắc, Gởi gió cho mây ngàn bay v.v … Cũng nhờ âm thanh vang xa ấy, ở hải ngoại ca sĩ Khánh Ly, chưa một lần gặp mặt, gửi về tặng chàng nhạc sĩ tài hoa gian truân hai trăm đồng, có hàng chữ trên tờ giấy bac: In God we trust(), để thuốc thang. Người nghệ sĩ có lòng vẫn đùm bọc, thưong nhau như thể tay chân, quả không sai. Và Mai Nguyệt chẳng từng nói: Nghệ sĩ trót sinh giầu cảm lụy/ Dẫu tàn thân thế khó quên nhau.() Có tiếng gõ cửa, vợ anh ra mở. Khách bước vào là bạn tôi, Kiều Liên Sơn. Nó làm thơ từ Hà Nội cũ, lấy vợ sớm, mấy chục năm sau, xuất bản tập thơ lại là Tình yêu muộn mằn.() Bây giờ, nó là cố vấn tối cao báo Hàng Không, độc quyền phân phát quảng cáo Air Vietnam cho báo nào nó thích, như ban một ân huệ. Nó cười hề hề: Mày cứ về Nghĩa Tân ở với tao cho vui!



Xiết tay giã từ Đồn Chuẩn đúng chín giờ đêm. Nó bảo, đem va li về nhà để, sau đó nó sẽ đưa đi thăm Hà Nội về đêm, có gì khác lạ không ? Nó lái xe mô tô Angel 80 phân khối rất nghề, trong vai một hướng dẫn viên thổ công vào loại thượng thừa của Hà Nội. Bát phở đầu tiên, nó thết nằm trong ngõ Hàng Giầy, quán hẹp, bàn thấp chủn, ghế dài, ở đây không có đĩa rau sống như ở Sài Gòn. Phở bốc hơi, nước giùng ngọt, ăn phở trời lạnh, thật tuyệt! Ăn xong, bước qua hàng bên cạnh làm hai chung trà tráng miệng, cộng cả tiền phở: tám nghìn hai trăm đồng. Xe lao vút xuống bờ Hồ càng lạnh hơn, chạy thẳng ra Trần Hưng Đạo, rồi thẳng tới khu Khu Đấu Xảo (cũ), gần Trung tâm văn hóa Pháp, nơi tôi sẽ dự hội nghị vào sáng mai. Nó đưa tôi vào dẫy nhà thấp lè tè, lại không cho biết đến thăm ai? Cảm tưởng khu nhà này, giống như khu gia binh Sài Gòn cũ, kiểu dãy nhà sau trại lính, dành cho vợ con hạ sĩ quan, binh sĩ, ở gần Đài Phát thanh Sài Gòn-Đakao. Thì ra Kiều đưa lại thăm một biên tập viên tạp chí Văn nghệ quân đội. Ngô Vĩnh Bình(), khoảng trên dưới năm mưoi chủ sở hữu căn nhà hẹp, bàn khách nhỏ, bầy la liệt sách, báo. Kiều đến đây để bàn công việc bài vở với Bình về tờ tuần báo Người cao tuổi ra số hai. Rồi Ngô Vĩnh Bình quay sang tôi, hỏi về hội nghị sách, gặp gỡ các nhà văn Pháp, Thụy Sĩ, Bỉ và khẳng định xưa kia tôi học ở Hà Nội, rành tiếng tây, hiển nhiên thôi. Và dặn Kiều, bữa nào rảnh rang, đưa tôi đến tòa báo gặp gỡ anh em. Giã từ Bình, lại tiếp tục thăm bạn bè khác, mà Kiều không cho biết rõ là ai? Rồi Kiều nhắc lại tôi có nhớ Tạ Vũ không, làm thơ từ thời Hà Nội năm tư, bây giờ rất nát rượu. Chồng uống vài be, lời ra khó nghe, vợ nổi đóa tung bát đĩa bay vèo. Gặp mặt, may ra mới nhận ra nhau được, chỉ trừ bạn thân, như Băng Sơn, Mọc Đình Nhân, Nguyễn Minh Lang thì không nói làm gì? Kiều cho xe tăng tốc hướng về Hoàng Mai, đường như vào trận đồ, loáng thoáng tôi chỉ nhận ra đường Trương Định, cũng có đại lý hãng Daewoo lấp lánh biển hàng rực sáng. Đường tráng xi măng càng lúc càng hẹp, ngoằn ngoèo, Kiều kể cho nghe, xóm Hoàng Mai từng có mặt nhà thơ dân gian Nguyễn Bính, nên sáng tác bài thơ có câu: "Thôn Đông mà nhớ thôn Đoài" chính chỗ này đấy! Gần mười rưỡi đêm, gõ cổng ầm ầm, vợ Tạ Vũ ra mở, Kiều cho hay bà sính thơ hơn cả chồng. Tối nay, Tạ Vũ tỉnh táo, hàm râu quai nón mọc lởm chởm vô tổ chức, bao quanh khuôn mặt gầy gò, khắc khổ đầy vẻ chán chường. Tạ Vũ xưng hô tao, mày thân mật, nhưng tôi vẫn chưa nhớ ra gặp gỡ ở đâu, khi nào?. Trước năm tư nhà ở Hàng Chiếu, anh kể, có một lần Nhật Tiến đưa tôi lại thăm vào thời kỳ mới viết báo, làm văn. Cũng đành chịu không nhớ được, mà cứ tao, mày thoải mái cho thân mật, đã chết thằng tây nào đâu!. Nhất là đối với người bạn sáng say, chiều xỉn, không bon chen, trục lợi; lại nữa vào Sài Gòn bỏ thời giờ cất công đi tìm tôi, coi như bạn thân mà không gặp; chứ không như nhiều kẻ thăm họ để mong nhận hàng. Sau bảy lăm, tôi làm lơ xe, ăn bo bo, còn gọi là cao lương cho sang, có hàng gì cho nhau nhận?. Kiều và Tạ Vũ thân nhau, nên đã báo trước tôi sắp ra họp hội nghị và Kiều sẽ đưa lại thăm ngày đầu.



Mười một rưỡi đêm ra về, Kiều đi theo hướng vành đai Hà Nội, phía Thái Hà Ấp, qua hướng Bạch Mai, nhìn phi trường hoang phế, đèn đêm tia vàng vọt, ảo mờ. Con đường thật dài, mang biển phố Trường Chinh, kéo dài về tận Láng. Rẽ sang Kim Mã, Kiều chỉ vào căn nhà hai tầng của ông bà cụ, nay chuyển sang chủ khác. Tới Láng, bây giờ không phải chỉ một Láng, như xưa kia vắng vẻ, hoang vu; mà Lê Văn Trương thuê nhà ở đó yên tĩnh, để viết tiểu thuyết độc quyền, dành cho NXB Tân Dân. Bây giờ, có đến ba Láng: Láng thượng, Láng trung và Láng hạ. Láng hạ là nơi toà đại sứ Huê Kỳ mới xây lại và được nghe kể, khi xây cất bên ngồi treo bảng Công trường Thanh niên, lúc xong dân chúng chưng hửng treo bảng mới. Còn khu Giảng Võ, xây cất thật đồ sộ, cũng như con đường từ Hà Nội vào Hà Đông, nay nhà cửa cao ngất, thật chẳng có cách nào nhận ra, đâu là Hà Nội và Hà Ngoại?. Về đến thị trấn Nghĩa Tân thuộc huyện Từ Liêm, căn nhà Kiều lọt thỏm trong dãy nhà hiều tầng. Nó dành cho tôi căn gác xép đụng đầu, cứ coi giang sơn nhỏ bé này, là phòng khách sạn sang, chưa chắc tôi đã quí bằng!.


CÒN TIẾP ...




HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA
Bút Kỳ của THẾ PHONG
Nhà Xuất Bản Thanh Niên - Hà Nội 1999



© Cấm trích đăng lại nếu không được sự chấp thuận của tác giả .





TRANG CHÍNH TRANG THƠ ĐOẢN THIÊN BIÊN DỊCH HỘI HỌA ÂM NHẠC