Nhớ Ba !




Vào đêm khuya, ngoài Hà Nội, tôi nằm nghe nhạc. Những bản nhạc tiền chiến rót vào tai tôi gợi nỗi nhớ cồn cào. Tôi nhớ ba tôi, ông đang ở tuổi 90, sống ở thành phố Hồ Chí Minh, người cùng thời với Văn Cao, Đoàn Chuẩn, Hoàng Giáp…

Thời thơ ấu ba tôi học ở trường Dòng Thiên Chúa giáo đến hết Tú tài. Trường Dòng dạy khá toàn diện, không chỉ khoa học cơ bản về tự nhiên, xã hội mà còn dạy cả nhạc, hoạ và các kỹ năng nghệ thuật, cách sử dụng các nhạc cụ như đàn Ooc, ghi ta, măng đô lin, violon…Riêng Violon là ba tôi chơi giỏi, tiếng đàn réo rắt, ngọt lịm, những người biết ngón đàn này nói vậy khi nghe ba tôi chơi đàn. Khi đã trung tuổi, mặc dù rất ít thời gian để ngồi chơi đàn vì phải lo chuyện cơm áo, gạo tiền, lo cho một đàn con, thế mà có cơ hội là ba lại chơi violon. Khi ba chơi đàn, thỉnh thoảng có người láng giềng thích âm nhạc đi qua cửa nhà tôi, họ ngừng lại, cười với ông, và đứng nghe tiếng đàn tha thiết của ông. Ba tôi chỉ có một chiếc đàn violon từ thời kháng chiến chống Pháp và dùng nó cho đến khi không dùng được nữa và cũng chẳng có tiền để mua một chiếc mới. Ông ngừng chơi.

Sau này, vào định cư ở thành phố Hồ Chí Minh, dù tuổi cao ông vẫn không thể xa rời những bài hát xưa ông yêu thích. Khi ông 85 tuổi, ngồi chơi với con cháu, ông muốn có cây đàn chơi cho vui. Một cháu gái mua biếu ông một cây đàn Mangdolin vì tay ông cứng rồi không chơi được Violon nữa. Ông lại thả hồn trong tiếng đàn êm dịu và thanh thản. Nhưng tuổi thì cao, mà dây đàn lại cứng, chơi nhiều đau tay lắm, ông ít chơi hẳn. Nay thì, lực bất tòng tâm, ông chỉ còn sách và chữ thôi. Ông phải đọc, chỉnh lý các bản dịch và tác phẩm của mình.

Ông hay kể lại, hồi kháng chiến chống Pháp, ông dạy học, dạy đủ các môn như tiếng Pháp, văn , sử, địa khi trường cần. Bà nội tôi mất khi ba tôi còn ở chiến khu. Khi về thăm quê, nghe chị gái kể lại, địch vào làng để tìm bắt ba tôi, mấy người lính Pháp vào nhà, có một người thấy cây đàn violon của ba tôi treo trên tường đã lấy cây đàn xuống và chơi đúng bản nhạc ba tôi thường chơi trước đây. Và thế là, bà tôi đã khóc vì nhớ con trong tiếng nhạc. Ba tôi có viết bài thơ Về làng, có mấy đoạn, cứ đọc lại cho chúng tôi nghe là ba tôi lại khóc:

Còn gì đâu vết tích mẹ thân yêu

Chờ con ngày tháng đìu hiu

Không về mẹ chết giữa chiều chiến tranh…

khi được nghe kể lại :

Một chiều kia , quân giặc tìm bắt tôi

Mang đàn ra kéo, dạo khúc Thiên thai,

Mẹ tôi khóc, nhớ con trong tiếng nhạc.

Chúng tôi thuộc bài thơ này vì ba mẹ tôi hay hát ru chúng tôi ngủ.

Thủa thơ ấu , chị em tôi được cả cha và mẹ ru ngủ bằng những bản nhạc không lời của Pháp và cả những bài ca xưa như Thiên Thai, Trương Chi, Suối mơ…Những bản nhạc êm dịu cứ thế lắng đọng cùng với kỷ niệm tuổi thơ gắn với người cha, người mẹ đáng kính.

Khi chúng tôi còn nhỏ, nhà tôi sống ở một thị xã ở trung du Bắc bộ, ba tôi dạy học ở trường cấp 3 ( nay gọi là trường Phổ thông trung học). Tôi đã từng là học sinh của ba. Khi ba tôi dạy địa lý thế giới lớp 8, chúng tôi rất thích nhìn ông vẽ bản đồ ngay trên bảng. Ông vẽ bằng cả hai tay bản đồ thế giới, mỗi tay một hướng, trái và phải trên bảng viết, bản đồ các châu lục Bắc bán cầu hiện ra chẳng khác gì chúng tôi kẻ ô để vẽ trên giấy, chỉ một vài phút của tiết học ông đã vẽ xong để dùng bản đồ đó minh hoạ luôn cho bài giảng.

Chúng tôi không biết ba ngủ vào lúc nào. Chỉ biết khi mình đi ngủ vẫn thấy ba trên bàn làm việc để viết, ngủ dậy cũng thấy ba đang viết. Ông vừa dạy học, vừa sáng tác kịch, thơ và dịch các tác phẩm văn học nước ngoài từ Pháp ngữ sang tiếng Việt, vừa chăm các con. Mẹ thì làm quần quật suốt ngày để lo ăn mặc cho chúng tôi vì hai ông bà có những 7 người con. Mặc dù rất bận, vừa học lại vừa làm thêm cùng mẹ, nhưng chiều thứ 7 nào ba mẹ tôi cũng dẫn chúng tôi ra hồ và vườn hoa chơi. Chúng tôi chạy nhảy, la hét thích thú. Tôi thích nhất là được ngồi trước khung xe đạp nam ba đèo để ôm cổ ba cho dễ. Vì ba tôi cao lắm, ngồi đằng sau chẳng ôm được cổ ba.

Cứ thế chúng tôi lớn lên, trong tiếng ru của mẹ và sự chăm sóc của cha, được học hành đến nơi đến chốn.

Ba tôi thích văn chương và ông đã thành đạt ở lĩnh vực này. Sách dịch và sách ông viết được xuất bản khá nhiều. Những tác phẩm văn học cổ Hy Lạp như hai tập trường ca IliadeOdissee ( dịch nguyên tác bằng thơ, hơn 3 vạn câu thơ của tác giả Homère), Bi kịch Hy Lạp, Hài kịch Hy Lạp Aristophane , những tác phẩm cổ điển như Xalambo của Flaube, Ngụ ngôn La Fontaine…, hơn 40 tác phẩm dịch từ tiếng Pháp sang tiếng Việt được in ấn và nhiều tác phẩm tái bản. Ông còn dịch nhiều tác phẩm từ tiếng Việt sang tiếng Pháp, trong đó có tập thơ Ánh Trăng ( song ngữ) tuyển chọn những bài thơ hay của các nhà thơ Việt Nam, như thơ của Nguyễn Bính, Xuân Diệu, Hàn Măc Tử, Tập thơ Bích Khê… Sức làm việc bền bỉ, liên tục của ông đã ra hoa, kết trái. Những thành tựu ông đạt được nhờ sự cố gắng suốt đời của ông và nhờ sự hy sinh của người vợ đáng kính là mẹ tôi để nuôi con, giúp chồng làm nên nghiệp lớn.

Ba mẹ tôi không bao giờ buồn vì tuổi già, các cụ sống vui vẻ với đàn con, cháu hiếu nghĩa.

Ở xa ba mẹ, nỗi nhớ trào dâng, tôi hay hoài niệm về tuổi thơ êm đềm bên cạnh người cha, người mẹ thân thương của mình và thấy, hạnh phúc nhất trên đời này là được sống cận kề với những người thân yêu, ruột thịt của mình ./.




© Tác giả giữ bản quyền .
. Cập nhật trên Newvietart.com ngày 21.12.2011 theo bản gởi của tác giả từ HàNội.
. Đăng tải lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com