TÁC GIẢ
TÁC PHẨM



VŨ HỒNG

Tên thật là Nguyễn Kim Sơn.
Sinh năm 1966; quê quán xã Tường Đa, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

Hội viên Hội nhà văn Việt Nam.

TÁC PHẨM CHÍNH :

."Tháp bụi" - tập thơ;
. "Người phương Nam" - tập thơ;
. "Tiếng chuông trôi trên sông" - tập truyện...
. Giải thưởng: Giải 2 cuộc thi truyện ngắn Tạp chí Văn nghệ Quân đội năm 1996;
Tặng thưởng Văn học của Hội nhà văn Việt Nam năm 1999.

Hiện làm việc tại Tạp chí Văn nghệ Bến Tre;
Phó Ban công tác Hội nhà văn Việt Nam tại Đồng bằng sông Cửu Long.








TRUYỆN NGẮN


MIỀN TÂY HUYỀN THOẠI

NGƯỜI LEO DỪA

VƯỜN NẤM SÁNG








Tập truyện
Tiếng Chuông Trôi Trên Sông .
Công ty Văn hóa Phương Nam
&
Nxb Quân đội nhân dân - 2004.


















VƯỜN NẤM SÁNG


“Tóc bạc hết rồi mà chơi cái trò gì vậy cha?”.

“Có gì quan trọng đâu. Nhìn xem, cu cậu không rút vòi ra được, thấy chưa!”.

Ông Kim cười hăng hắc, ra vẻ khoái chí. Dùng hai ngón tay căng da, đoạn, ông ta kề miệng thổi phù phù vào con muỗi đang bị kẹt dính vào cánh tay ông. Nó cố vỗ vỗ đôi cánh, những cái chân vùng vẩy, cào cấu nhưng cũng không tài nào nhấc đít lên được. “Hết nói nổi ông rồi!” – Ông Sang lắc đầu, lủi thủi vòng ra chái nhà châm một bình trà quạu.

Tôi ghé lại nhà ông Kim sau chuyến đi dài ngày ở Tây Nguyên. Lúc ấy là độ đầu hè, buổi chiều phủ vàng vọt lên vườn dừa còn không gian thì bốc mùi nước mưa và mùi ẩm mốc của rơm rạ. Đó là thói quen mỗi khi có dịp về lại quê hương, tôi đều tạt sang thăm hai ông già này. Thấy tôi bước vào, ông Sang có vẻ mừng lắm, còn ông Kim cứ thản nhiên như không. “Mẹ họ, Tết tới giờ mới thấy mặt mũi mầy” – Ông Kim cười hềnh hệch rồi hất mặt về phía chiếc ghế đôn được đẽo từ thân dừa. Chúng tôi cùng uống trà sau khi ông Kim thôi chơi trò bắt muỗi.

Màn đêm xuống thật nhanh trên vườn dừa, chỉ còn để lại khoảng sáng le lói trên sông Hàm Luông. Tượng Đức Mẹ Maria đứng đìu hiu, nhỏ xíu phía vàm Mơn, rồi tượng cũng dần dần chìm vào bóng tối, để lại cái bóng nhờ nhờ như một ảo ảnh, khiến tôi có cảm giác như mình đang trôi vào một cõi nào đó, huyền diệu.

Lúc này, xung quanh chỗ chúng tôi ngồi, những tai nấm nhỏ xíu bám vào gốc dừa mục bắt đầu le lói, giống như cái vách của đêm bị ai đó xé toạc ra khiến ánh mặt trời từ nửa trái đất mé bên kia lọt qua được. Khoảng vườn đầy nấm sáng, rộng chừng một phần tư công, nằm ven sông. Nhà ông Kim ở bên này, chếch về bên trái, cách một con rạch là nhà ông Sang. Nhà ông Hảo thì ở tận xóm Chùa nhưng ông mất cách nay cũng đã gần ba năm rồi.

Hai ông lui cui nhóm lửa. Tiếng củi tre nổ lép bép làm văng ra những tia lửa nhỏ. Chờ cho chúng tàn, ông Sang cời than rồi gác những con cá lóc được xỏ xiên qua thân để nướng. Những chú cá mà ông đã chuẩn bị đâu đó từ lúc mới đến. Than bốc khói xèo xèo. Quà của tôi từ thị xã mang về là chai rượu Phú Lễ. “Mẹ họ, cũng được” – Ông Kim vỗ đùi sau khi đã nếm qua. Ông Kim thường có lối nói cộc lốc đến khô khan, hễ nói dài là chuyện nọ xọ chuyện kia. Ông Sang thì mủ mỉ hơn. Đặc biệt ông ấy rất khéo tay trong việc bày đồ ăn thức uống.

“Mấy con cá này tôi rộng vài hôm rồi, chắc không còn ngon” – Ông Sang phân trần – “Hồi trưa ông không hú chắc tôi cũng quên mất. Giờ đầu óc tôi hay bị lẫn lộn đủ thứ”.

“Có gì quan trọng đâu. Sao cũng được. Tối qua ông ngủ không được sao? – Ông Kim lại quay ra chơi trò bắt muỗi.

“Tôi ngáy như Trương Phi. Nói vậy chứ chừng một, hai giờ là tôi thức dậy chong đèn rồi. Nghĩ lại cũng nhanh. Mới đó mà tay Hảo đã bỏ mình gần ba năm. Bữa nay mình uống có cảm giác như thiêu thiếu gì đó?”.

“Ờ!”.

Bất giác, ông Kim đưa mắt nhìn về phía vườn nấm. Con muỗi đang bị cầm tù hí hửng bay đi. Đôi tròng mắt ông Kim như dại đi trong giây lát, trái với cái vẻ linh hoạt thường ngày. Ông Sang khẽ khàng cầm lấy ống điếu được chế từ keo chao, rít thuốc lào kêu sòng sọc. Một trận ho khan kéo theo sau đó. “Cái phổi càng già hình như càng teo lại. Hồi chiều tôi có tạt qua mồ cô ấy đốt mấy nén nhang, thấy có mấy cây cắm ở đó, tôi biết ngay là của ông” – Ông Sang vuốt vuốt bộ ngực lép kẹp. “Tôi đốt dùm cho ông Hảo luôn rồi” – Ông Kim tiếp lời – “Mẹ họ, mấy tai nấm tối nay sáng dữ. Bù lại hồi năm ngoái mưa thúi trời thúi đất. Ông Hảo vậy mà khỏe, được đi gặp cô ấy sớm”. Ông Sang nói buồn rầu – “Không biết sẽ đến lượt ai đây? Người ra đi cuối cùng bao giờ cũng buồn nhất!”.

Nói thì nói vậy nhưng trong thâm tâm của hai ông già còn sống này, ông Hảo hình như vẫn còn ngồi đó, bên ly rượu, và họ cùng lai rai với nhau. Lai rai với nhau thâu đêm suốt sáng trong cái ngày đặc biệt hàng năm của bốn người. Bốn người, ấy là kể luôn người đàn bà có tên ở mộ bia kia. Đâu đó cũng gần 50 năm rồi, họ đã cùng lấy ngày sinh tháng đẻ của mình, cộng lại rồi chia ra làm ngày tháng chung nhất của cả nhóm, nhóm trẻ chăn trâu vùng đồng bưng hiu hắt của những năm 48, 49 mà ban ngày chỉ thấy lúp xúp cỏ dại và cánh cò trắng cả bãi sông.

Màn đêm ở miền châu thổ càng lúc càng sâu, nghe rõ tiếng gió rít ầm ào qua những tàu lá như tiếng sải vó của những con ngựa bất kham. Giờ đây, những tai nấm mới thật sự để lộ ra vẻ đẹp nõn nà của mình. Chỉ cần hơi nheo mắt lại, bạn có thể thấy những đốm sáng nhỏ li ti ấy dường như bắt đầu chuyển động và nhảy múa theo một vũ điệu huyền bí nào đó. Thời gian trôi qua rất lâu nhưng hai ông già vẫn còn lim dim mắt, chơi cái trò chơi vờn nấm ma quái ấy. Bài học ấy tôi cũng được mấy ông già này chỉ cho. Nó đòi hỏi phải có sự nhập tâm và sự tưởng tượng, và tôi cũng không thể hiểu hai ông tìm niềm vui gì trong đó, chỉ biết rằng đó là sự lãng phí thời giờ rất lớn, ít ra là đối với công việc của một người còn trẻ như tôi.


“Mẹ họ, tưởng đâu mấy tai nấm bỏ mình đi luôn rồi chứ” – Ông Kim đột ngột phá tan sự im lặng – “Mấy đứa con nít xóm Chùa phá quá. Ra bao nhiêu chúng nhổ sạch bấy nhiêu. Hồi xế chiều tôi phải rượt mấy đứa chạy có cờ”.
“Thì chúng cũng như tụi mình hồi nhỏ chứ gì. Ông thường hay giành phần nhiều nhất cho Nâu”.

“Ông cũng vậy”.

“Thứ nấm chỉ sáng có một đêm rồi tàn”.
“Hảo cũng vậy. Có gì quan trọng đâu!”.

“Trong ba tụi mình, tôi biết Nâu có cảm tình với ông nhất” – Ông Sang cười hề hề – “Rồi mới đến phiên tôi, rồi mới đến phần tay Hảo. Tiếc là cả ba cùng yêu một người, cũng có lúc đâm ra ghét nhau, gặp mặt nhau cứ như trâu nghinh. Nhưng cuối cùng cả ba đều là kẻ chiến bại. Ông tính xem, xui hay hên?”.

“Tôi không biết. Nâu bao giờ cũng thích nấm sáng”.

“Tự nhiên giờ sao buồn quá, chắc nhớ em gái thằng bạn” – Ông Kim chợt ngâm nga câu đó, cái câu mà ông Hảo hay thốt ra mỗi khi gặp chuyện gì buồn rồi sau đó cả ba đều cười khùng khục. Ông Hảo luôn miệng nói câu ấy kể cả khi đã bước qua tuổi 60. Giờ thì ông Hảo đã đi, bỏ lại hai người bạn già, không biết làm gì hơn ngoài việc ngồi uống rượu cùng nhau, quen đến nỗi không còn chuyện gì để bàn, thỉnh thoảng mới thốt nên những câu bâng quơ tùy hứng, tưởng chẳng ăn nhập vào đâu; giống như bộ tách trà qua mấy trăm năm đã ố vàng, lỡ tay rớt bể một cái để những cái trong bộ còn sót lại cảm thấy bơ vơ, lạc lõng trên chiếc khay cũ kỹ.

“Hai con cá này phần tôi với ông và thằng làm chuyện ghi chép. Con này dành cho tay Hảo. Rượu cứ đổ vào chén cho ông ấy” – Ông Sang trổ tài chia phần đúng như bản tính chu đáo của ông ấy từ nào giờ, tỉ mỉ như một bà mẹ hiền – “Ông uống in ít thôi vì mới dứt sốt. Nhưng ngày nay mà không uống thì không được hả?”.

“Có gì quan trọng đâu”.

“Hồi đó ông còn nhớ tụi mình giành nhổ nấm đem về cho cô ấy mà đánh nhau một trận ra trò không, Kim? Lớn xác hết rồi. Bà con ai cũng cho là tụi mình giành gái, tức cười. Về nhà tôi còn bị ông bà già la cho một trận nhớ đời”.

Ông Kim có vẻ sượng khi nghe người bạn già nhắc lại chuyện cũ. Lần đó, đúng ra là Hảo và Sang cãi nhau, rồi đi đến đánh nhau thật sự. Ông Kim dùng lời can ngăn không được. Tức mình, ông nhào vô nện cả hai người. Hai người kia sau giây phút ngỡ ngàng, buông nhau ra, và họ quyết định xúm lại đánh một mình ông. Cho nên trong con mắt của dân làng, ông Kim chính là kẻ bị đánh nốc ao đến thảm hại. Chuyện của ba người ở khu vườn nấm sáng bắt đầu lan đến tai gia đình Nâu. Gia đình liền cấm tiệt không cho cô ấy qua lại với họ.

“Tại tôi nương tay cho hai ông chứ nếu tôi mà trổ tài võ do thầy Năm Ngỗ truyền lại thì hai ông không còn một cái răng ăn cháo…” – Ông Kim thường lặp lại câu này không biết đã bao lần kể từ ngày ba người gặp lại nhau hồi năm 85 – “Nghĩ lại hồi trẻ tụi mình sống cũng mãnh liệt đó chứ. Thích ra thích, ghét ra ghét, yêu đương, hẹn hò kém gì bọn trẻ bây giờ. Đúng không, Việt? Mầy đi nhiều, biết nhiều, so sánh thử coi! Thậm chí còn hết mình hơn bây giờ nữa”.

Mỗi lần nghe ông Kim bào chữa chuyện năm xưa, ông Sang đều nhắm tít mắt lại, cười hăng hắc như một đứa trẻ. Nhìn ông Sang, tôi không hề nghĩ rằng con người nhỏ nhắn kia đã từng băng rừng, vượt suối ở Trường Sơn, đã từng vào sinh ra tử ở các trận đánh lớn như Khe Sanh, Vạn Tượng… Trông ông lam lũ như một người nông dân cả đời chưa hề bước ra khỏi luống cày của mình.

Tôi thừa biết rằng ở độ tuổi nhau, khi gặp lại họ không bao giờ thấy mình già đi. Sự trẻ trung của họ thể hiện rõ qua những lời họ nói, họ chuyện trò cùng nhau, thậm chí còn có thể xưng hô mầy tao cùng nhau nữa. Có lần ông Kim đã nói với tôi: “Nếu không nhìn những đứa nhỏ như thằng nhóc Việt đây thì có lẽ tụi mình tưởng như mới đánh lộn ngày hôm qua thôi hả? Mẹ họ. Tôi nói có đúng không, Sang?”. “Đúng hết!” – Ông Sang vội gật đầu – “May mà Nâu không lấy ai trong bọn chứ nếu không thì gay, làm gì có chuyện ba kẻ tình địch lại chịu ngồi chung chiếu lúc cuối đời như thế này. Hồi tôi được đưa ra Bắc điều trị, mỗi khi nhớ về Nam, nói không giấu diếm, đó chính là hình bóng cô ấy. Lạ một điều, biết mười mươi cô ấy có chồng rồi vẫn nhớ, đâu còn hy vọng con mẹ gì nữa, phải không? Lúc ngủ không được, tôi cứ nhẩm tên cô ấy vài lần là ngủ được ngay” – Ông Sang nở nụ cười sảng khoái – “Tên cô ấy như là một thứ kinh để tụng vậy”.

“Biết cái vụ đó rồi. Có gì quan trọng đâu”.

“Ngay khi đã có hai mặt con với bà nhà bây giờ tôi vẫn giữ kiểu tụng tên cô ấy. Đôi lúc tôi tự hỏi rằng giữa mình và Nâu nào đã có gì đâu, chẳng qua chỉ là kỷ niệm thuở nhỏ. Mà không phải chỉ của riêng tôi, trong đó có chung kỷ niệm với ông và Hảo nữa. Quái. Cá lóc mùa này hơi lạt. Ông thấy sao? Lần tụi mình lén qua nhà bà Ba câu trộm con cá tra cũng vui quá chứ. Ai đời có ý yêu người ta mà cả bọn lại đi câu cá trộm của người ta”.

“Ai bày đầu tôi quên rồi?”.

“Ông chứ ai”.

“Tôi tính bày cho hai ông bị bắt tại trận để bị Nâu xài xể chơi, ai dè thấy con cá quá hấp dẫn nên tôi không cầm lòng được, tham chiến luôn. Ha… ha…, giờ nghĩ lại mới thấy hồi đó lớn đầu mà như con nít. Thứ gì không trộm lại đi trộm cá tra mới chết chứ! Nhưng mà cũng ngộ lắm, chuyện đó nó theo tôi suốt. Hồi làm trinh sát ở An Giang, mỗi khi vào nhà dân, thấy chủ nhà dọn lên món cá đó là tôi không nhịn cười được. Cười chảy cả nước mắt nước mũi, đến nỗi mấy người chủ nhà tốt bụng cứ nghĩ là mình xem thường món ăn của họ. Có gì quan trọng đâu. Tay Hảo thì khỏe rồi. Ông ấy đi làm báo công khai ở Sài Gòn nên ít có dịp xơi lại món này. Mấy năm ở ngoài kia chắc cũng không có món này đâu hả?”.

“Ờ!”.

Những tai nấm chập chờn, kết thành những bông hoa trắng như tuyết lượn lờ trên cánh đồng, vuốt ve những sóng lúa chín vàng. Mùa hạ, làn gió nồm hiu hiu đưa về. Gió như muốn lẩn trốn trong các vòm lá. Gió như muốn chui vào trốn trong ngôi nhà thờ gỗ ọp ẹp, tưởng chừng như sắp đổ đến nơi. Bà nữ tu già âu yếm vuốt mái tóc dài mượt của cô gái: “Con sẽ là một thiên thần đó, Nâu!”. Cô bé nhoẻn miệng cười, bẽn lẽn rúc vào ẩn mình dưới gốc dương liễu tránh lời khen ngọt ngào kia. Những tai nấm sau khi bay lượn trên cánh đồng giờ lại lượn lờ quanh cô gái, vuốt ve làn da mịn màng của nàng. Nàng lim dim mắt, tận hưởng làn ánh sáng huyền diệu đang bao phủ thân thể nàng. “Ta yêu ngươi lắm!” – Nàng âu yếm đặt những nụ hôn lên những sợi nấm bé li ti trong lòng bàn tay. Những tai nấm bắt đầu cất lên tiếng hát du dương như tiếng của những chú chim chìa vôi thường hót lên ở mỗi buổi sáng nơi vườn dừa. Nàng hôn thật lâu, thật lâu, tưởng chừng như thời gian cũng bắt đầu ngưng tụ, đọng lại thành những giọt sương bám vào gác chuông. Nàng thả hồn mình vào làn sương ấm áp ấy, trong khi những tai nấm thì bay lượn. Chúng luồn vào nhà kho ẩm ướt, luồn qua các giá sách đã mục ruỗng, luồn qua đám cỏ gai ngoài sân và sau cùng bay vút lên trời cao. “Má ơi, cho con cái bánh bò này nghe?” – Cậu bé nài nỉ người mẹ đang đứng xoãi chân xay bột – “Chỉ là một cái bánh thôi mà!”. “Mới ăn cơm còn đói nữa sao?” – Bà mẹ nhíu mày nhìn cậu bé. Cậu bé dậm chân: “Một cái thôi mà!”. Rồi cậu bé hí hửng lách mình qua căn bếp ám khói chạy một mạch đến ngôi nhà thờ gỗ. “Nửa cái này cho mình, nửa cái kia cho Nâu” – Cậu bé thầm nghĩ và sau đó như chợt nhớ ra điều gì, cậu ta lẩm bẩm – “Còn phần cho Hảo và Sang nữa”. Và cậu bé ỉu xìu khi nhớ đến gương mặt khó đăm đăm của bà mẹ. “Thôi chia bốn vậy…” – Cậu bé thầm sung sướng khi mường tượng đến nét mặt vui mừng của lũ bạn khi nhận được quà. Một tiếng nổ vang trời cùng những ánh lửa chớp nhì nhằng, thiêu trụi cả cánh đồng lúa chín vàng và ngôi nhà thờ gỗ xập xệ. Cậu bé òa khóc khi thấy những tai nấm héo úa rơi đầy trên thảm cỏ…

“Bà nhà ông về xứ này sống có quen không?” – Ông Kim cất tiếng.

“Gần 20 năm rồi còn gì. Xứ ngoải cũng là đồng bằng như xứ mình thôi” – Ông Sang đã lè nhè say – “Chắc giờ tới cuối năm tôi gom ba cái lương hưu lại, thu xếp làm một chuyến đưa bả về Hưng Yên thăm mồ mả ngoại sắp nhỏ kẻo lớn tuổi rồi, không còn có dịp nào nữa. Hết lo cho con cái lại lo tới cháu nội, cháu ngoại, có lúc nào rảnh tay đâu. Như ông vậy mà khỏe, một thân một mình…”.

Ông Kim không nói gì nhưng mắt ông dàu dàu buồn. Trời về khuya, không gian nồng nặc mùi sương. Từ vách nhà vẳng ra tiếng những chú mọt đục thân cây nghe trèo trẹo. Ông Sang lại rít thuốc lào sòng sọc.

“Giải phóng mấy năm rồi tôi cũng chưa hay tin cô ấy mất. Mất năm Mậu Thân hả? Lúc đó ông ở đâu? Đồng Tháp phải không? Còn Hảo? Hình như ông ấy đã nói là ở Campuchia thì phải. Tôi thì vừa vào đến Quảng Bình. Lúc đó, tôi hay có những giấc chiêm bao lạ lắm. Tôi thấy cô ấy một mình bước xuống ga Hàng Cỏ, mắt đỏ hoe, tay thì vẫy vẫy gọi tôi. Tôi mừng rỡ chạy sang nhưng đôi chân như muốn díu cả lại, không cất bước được… Vậy đó!”.

Ông Kim nói đều đều:

“Máy bay Mỹ bỏ bom trúng ngay nhà cô ấy. Chúng giải vây tỉnh lỵ mà. Vợ chồng con cái không còn một chút gì làm thuốc. Mẹ họ, Nâu chết đi tôi thấy quá hụt hẫng, mặc dù biết là cô ấy đã vuột khỏi tầm tay mình từ đời nảo đời nao. Ba năm sau tôi mới hay tin cô ấy chết do một giao liên mang về. Chắc ông chưa biết hồi trước khi đi lấy chồng Nâu nói gì với tôi đâu? Tôi xấu tính hả? Mẹ họ, tại tôi muốn giữ riêng chút kỷ niệm đẹp thôi mà. Cô ấy nói, cô ấy không muốn vì một điều gì đó mà ba đứa mình rạn nứt, thành thù địch của nhau. Đơn giản quá nhỉ? Chuyện yêu hay không yêu tính sau. May là cả ba đứa mình đã qua mặt được thần chiến tranh.

Đôi mắt ông Sang chợt rươm rướm nước:

“Hồi đó trước mặt Nâu tôi đều tìm cách nói xấu hai ông, tốt tôi cũng biến ra cho xấu. Tồi quá, phải không Kim?”.


“Thì tôi cũng có khác gì đâu. Mà cũng chẳng có gì. Ở vào tình thế đó tôi đâu làm chủ cái miệng mình được nữa. Đánh địch thì phải đánh tới ổ chứ. Có gì quan trọng đâu. Miễn sao giờ đây cô ấy thấy tụi mình đã trở lại như hồi nhỏ là cô ấy vui rồi”.

“Cái miệng ông đôi khi nó cũng hại ông đó, Kim à! Tôi nói thật. Chuyện này mấy năm rồi tôi giấu, sợ ông giận. Trước tôi có người bạn tập kết, sau về làm bí thư. Ông biết tay bí thư nói gì với tôi không? Ông nói bản chất ông thì tốt không ai bằng. Chỉ có điều cái câu ông hay nói khiến ông ấy bực mình ghê lắm. Ông liền đưa ra ví dụ là có lần trong một hội nghị quan trọng, có mấy vị đại biểu cấp trên về dự. Sau khi người ta thao thao bất tuyệt, nào là cái này quan trọng, chuyện kia quan trọng thì đến phiên ông lên diễn đàn. Chưa kịp thưa gởi ai cả thì ông liền buông: “Cũng chẳng có gì quan trọng đâu”. Chết bà người ta không? Nhiều người biết cái tật ông vậy nên bỏ qua nhưng đâu phải ai cũng hiểu. Ông làm cho hội nghị quan trọng không còn ra thể thống gì nữa. Mẹ họ, tôi nói vậy thôi chứ không có gì quan trọng đâu!”.

Ông Sang cố tình nhại lại lời ông Kim. Đoạn, hai ông bá vai nhau mà cười sang sảng một góc vườn.


Bến Tre, những đêm nấm sáng




VŨ HỒNG



TRANG CHÍNH TRANG THƠ ĐOẢN THIÊN BIÊN DỊCH HỘI HỌA ÂM NHẠC