Tranh của họa sĩ Edvard Munch



























LỘT XÁC



VŨ LƯU XUÂN

Không biết từ khi nào con người đã đánh mất khả năng lột xác.


    Hắn là một trong ba đứa bạn thân lúc còn đi học. Từ hồi trẻ, hắn đã tỏ ra chững chạc, nói năng chậm rãi, từ tốn. Khác với tôi, hắn không thích những cuộc vui hời hợt, chóng qua, mà thường trầm tư, tìm lời giải cho những vấn đề lớn liên quan tới thân phận con người. Hắn như kẻ mộng du, một mình lẳng lặng giữa trần gian xô bồ. Về già gặp nhau, hai mái đầu đều bạc, suy nghĩ của hắn đạt độ chín. Một hôm ngồi uống rượu, hắn bảo tôi:

    -Tôi sẽ kể cho ông nghe một giấc mơ rất lạ, liên tục kéo dài suốt mấy tháng. Hễ nhắm mắt ngủ, tôi lại thấy hình ảnh hiện ra rất rõ, sống động, có đầu, có đuôi.

    -Ông lúc nào cũng giống như người sống trong thế giới khác.

    -Có lẽ vậy, đặc biệt giấc mơ cũng đến từ một thế giới khác, cách đây một ngàn, hay vài chục ngàn năm cũng không biết chừng. À, mà rượu còn không?

    Ánh sáng trong đôi mắt hắn biến mất, và hắn chậm rãi:

    Cuối cùng, tôi cũng thoát ra khỏi khu rừng nguyên sinh âm u, trời giữa trưa mà ánh nắng không xuyên thủng nổi tán lá xanh đan khít, dày đặc trên đầu. Tôi chợt lóa mắt vì ánh sáng chan hoà, hắt lên từ mặt suối sáng bóng như gương. Con suối sâu, lờ đờ uấn khúc, len lỏi giữa những tảng đá rong rêu. Tôi lội xuống suối, ngâm mình trong dòng nước trong vắt, mát lạnh, cảm giác thư thái lan tỏa toàn thân. Hình như có tiếng nói văng vẳng đâu đây, tiếng cười đùa tình tứ, giọng nữ cao và thanh, còn giọng nam khàn khàn, trầm đục. Rồi đôi tình nhân, hay hai vợ chồng? Có lẽ đôi vợ chồng, xuất hiện giữa vùng cỏ non điểm đầy hoa dại. Họ quấn quýt, dìu nhau từng bước. Điều rất lạ, người vợ trẻ trung, mảnh mai, nhỏ bé, nước da mịn màng, hồng rực, trái lại người chồng là một ông già cằn cỗi, râu tóc bạc phơ, còn đôi mắt trắng đục như ruột nhãn lờ nhờ. Cặp vợ chồng ấy là hình ảnh tương phản tột cùng của bình minh và chiều tà. Vậy mà họ có vẻ rất thương yêu nhau, khoảng cách thời gian hầu như vô nghĩa trước tình yêu của họ. Gặp tôi, cả hai đều gật đầu chào thân thiện, nụ cười tràn ngập niềm vui. Thiếu phụ nhanh nhảu:

    -Tôi đang chuẩn bị cho ông ấy lột xác.

    -Lột xác ư? Là sao?

    Thiếu phụ sững mắt, đầy vẻ ngạc nhiên:

    -Ông từ đâu tới vậy?

    -Có lẽ từ một nơi rất xa, từ một thế giới khác. Còn các vị?

    -Tụi tôi ở bờ bên kia.

    Tôi nhìn theo tay thiếu phụ.

    -Chỗ này thưa cây, thấy rõ đó.

    Trước mặt tôi là cánh đồng hút mắt, vàng rực màu lúa chín. Xa nữa, từng khóm nhà xinh xắn, rải rác trên những sườn đồi thoai thoải.

    -Làng chúng tôi đó. Bên kia là biển đông.

    Đôi vợ chồng để cả quần áo lội xuống suối, nước sâu, trong vắt, thấy rõ từng viên cuội trắng dưới đáy. Thiếu phụ nhúng sũng khăn, lau nhẹ từng phần da thịt điểm đồi mồi trên khuôn mặt chồng. Chị ta có vẻ rất hài lòng, đôi mắt long lanh niềm hân hoan. Chị âu yếm nhìn chồng, giọng ấm áp:

    -Cuối cùng thời gian chờ đợi cũng đến, ông nhỉ.

    Rồi quay qua tôi, lập lại:

    -Tôi đang chuẩn bị cho ông ấy lột xác.

    Câu nói chứa đầy niềm vui chỉ chực vỡ ra, tôi cũng nhắc lại nguyên câu hỏi cũ:

    -Lột xác ư? Là sao?

    -Là gỡ bỏ lớp da cằn cỗi, để trẻ lại, để quay về quá khứ, từ thời mới gặp nhau.

    Câu trả lời vượt ra ngoài sức tưởng tượng của tôi.

    -Con người lại có thể lột xác được ư?

    -Ông không biết thật à? Ông từ đâu đến vậy?

    -Tôi đến từ thế giới con người bị thời gian truy bức đến bước đường cùng, và cái chết là kết thúc tất yếu. Chúng tôi bị trói buộc trong sự hữu hạn, và cuộc sống quá ngắn trở thành một dấu hỏi, không có câu trả lời minh bạch.

    Hai vợ chồng nhìn tôi thương hại:

    -Thật sao? Té ra lại có một thế giới đáng buồn như vậy. Ở đây cũng có cái chết, nhưng cái chết là một tình cờ, một ngẫu nhiên. Chết vì cọp vồ, sấu đớp, núi sập, hoặc vì một thiên tai ập đến bất ngờ. Còn thời gian không đủ sức uy hiếp chúng tôi. Già rồi lột xác và trẻ lại.

    -Có việc ấy thật à? Ở chỗ tôi chỉ có loài côn trùng, rắn rết mới biết lột xác, con người thì không.

    Ngâm nước chán, đôi vợ chồng leo lên bờ. Tôi nhẹ bước tới gần, len lén quan sát ông già. Ông cười:

    -Đến đây, cứ tự nhiên xem cho rõ.

    -Như vậy bao nhiêu năm mới lột xác một lần?

    -Bao nhiêu năm ư? Năm là gì?

    -Là đơn vị đo thời gian. Cuộc sống chúng tôi ngắn ngủi, áp lực thời gian rất lớn, nên phải tính toán chi li, chia cuộc sống thành từng đoạn nhỏ.

    -Té ra vậy, chúng tôi không có khai niệm thời gian, nên không cần thước đo. Chúng tôi lột xác khi có nhu cầu, nó biểu lộ bằng những dấu hiệu bên ngoài.

    Ông lão đưa cánh tay cho tôi:

    -Này ông xem đi.

    Tôi nhẹ nhàng cầm lên ngắm nghía. Mặc dù ngâm nước hàng giờ, lớp da điểm đồi mồi tái nhợt vẫn có vẻ khô cứng và dòn, nó như quả vải khô, bóp nhẹ sẽ vỡ. Người vợ vén áo chồng, chỉ cho tôi xem những đường nứt trên lưng:

    -Đó là điềm báo.

    Lúc ấy mặt trời bắt đầu nghiêng về tây, họ rủ tôi đi theo. Đường vào làng xuyên giữa hai hàng phi lao cao và thẳng. Gió từ biển khơi lồng lộng, rặng phi lao ngả nghiêng rì rào. Âm thanh ấy tôi đã nghe từ hồi mới lớn, khi đứng đợi người yêu đầu đời. Người yêu đến muộn, và cả thế giới quanh tôi chìm ngập trong tiếng vi vu không ngớt của rừng phi lao.

    Hai người dẫn tôi vào nhà làng. Ngôi nhà rộng rãi, thoáng mát, có hàng lan can bằng gỗ lim bao bọc xung quanh.

    -Để tôi giới thiệu ông với trưởng làng. Ông ấy thông suốt mọi chuyện ở đây.

    Trưởng làng là một ông già quắc thước, nhanh nhẹn, Mái tóc bạc búi gọn giữa đỉnh đầu.

    -Ngọn gió nào đưa vị khách quý đến vậy?

    -Ông ấy đến từ một thế giới khác với chúng ta, thế giới bị cái chết trói buộc.

    -Lại có một thế giới đáng buồn vậy ư? Này ông, xin lỗi nhá.

    Trưởng làng nheo mắt cười tiếp:

    -Vậy tôi gọi ông là “người hữu tử”.

    Cái tên hay đấy, và tôi gật đầu:

    -Vâng, “người hữu tử”

    Tôi được giới thiệu với dân làng, mọi người đều cởi mở, chân thật. Tôi đi từ ngạc nhiên này sang ngạc nhiên khác. Có nhiều đôi so lệch, vợ trẻ chồng già, hoặc vợ già chồng trẻ, lại có ông bố bà mẹ trẻ hơn con cái. Họ coi việc ấy là tự nhiên. Dấu ấn thời gian in trên cơ thể trở thành vô nghĩa. Cuộc sống là một chuỗi thời gian vô tận, được đánh dấu bằng những chu kỳ lột xác.

    Buổi chiều ở nhà làng vui như ngày hội. Đám thanh niên tất bật lo làm tiệc thú săn, còn các thiếu nữ vo gạo, thổi cơm, chuẩn bị mâm chén.

    -Ở đây chiều nào cũng vui vẻ, tấp nập vậy à?

    Trưởng làng rót đầy hai đấu rượu lớn. Giọng thản nhiên:

    -Sau giờ đồng áng, ngày nào cũng vui, nhưng hôm nay đặc biệt hơn, vì có người lột xác.

    -Tôi dự được không?

    -Này “người hữu tử”, cũng nên để ông dự một lần cho rộng tầm mắt. Đây là giai đoạn đau đớn và nguy hiểm nhất trong đời người, cần phải bước qua cầu sinh tử để có thể trở thành người mới, trẻ lại. Ông có muốn lột xác không?

    -Tôi ư? Chúng tôi chỉ có một thời tuổi trẻ duy nhất qua mau. Cuộc sống ngắn ngủi bị giới hạn giữa hai đầu hư vô: hư vô từ điểm đến, và hư vô tại cõi về.

    Trưởng làng thở dài:

    -Ừ, ông là “người hữu tử”

    Ông đưa tôi đấu rượu, với một đùi gà gô nướng.

    -Ông uống được không?

    -Tôi là cái hũ chìm, con “người hữu tử” thường mượn rượu để giải toả ngàn vạn nỗi buồn.

    Tôi bưng đấu, tu một hơi hết sạch.

    -Rất hào.

    -Ở chỗ tôi nhiều người uống xong thường đập ly, để nghe tiếng thủy tinh vỡ, tiếng vỡ tạo một cảm giác rất lạ.

    Tôi cười, tiếp:

    -Tôi cũng đang muốn đập đây. Nói chơi chứ không dám thất lễ.

    Trưởng làng chợt hỏi:

    -Rượu ngon chứ?

    -Hơi nhạt, không say.

    -Say là sao?

    -Say là cảm giác tê cứng khi men rượu đã ngấm vào từng thớ thịt và xông thẳng lên óc, nó khiến người ta không làm chủ được hành vi, cũng như cảm xúc của mình. Ở chỗ tôi, khi say có người thích đánh nhau, có người khóc, người cười. Trong cuộc sống đầy phiền muộn, “người hữu tử” thường muốn say để tìm được một phút ngắn quên đời.

    -À, như vậy chúng tôi không có nhu cầu đó, chúng tôi không cần say.

    Trăng mười sáu vừa lên, bữa cơm rượu đã xong, mọi người chuẩn bị lên đường. Thông thường khi có ai lột xác, rất đông dân làng đi theo để chung vui.

    Theo phong tục từ xưa đề lại, dẫn đầu là một thiếu nữ mới lớn, xinh đẹp. Cô đội chiếc hũ sành đổ đầy dầu. Trưởng làng giải thích:

    -Dầu này pha chế bằng mỡ trăn, mật ong và bột nghệ. Lớp da cũ lột ra, bà mụ sẽ lấy dầu bôi ngay vào lớp da non, nó tạo cảm giác mát dịu, giúp da khỏi bị tổn hại và không để lại sẹo. Nếu không bôi dầu, da sẽ bị nám đen khi ra nắng.

    Theo sau thiếu nữ là đôi vợ chồng, người vợ trẻ dìu chồng từng bước, bước chân liêu xiêu có vẻ nặng nề. Cạnh họ là hai bà mụ, những chuyên viên giàu kinh nghiệm.

    Trưởng làng nói tiếp:

    -Ông biết không, có người đã chết khi đang lột xác, mỗi lần lột xác là một lần đau đớn, là thời khắc đi qua cửa ải giữa hai vùng tử sinh,

    Tôi tò mò

    -Chúng ta đi đâu đây?

    -Địa điểm duy nhất để lột xác là động đá sâu thẳm trong lòng núi Bạch Vân Thê.

    -Vân Thê tức là thang mây?

    -Đúng vậy, Bạch Vân Thê cao ngất, xuyên tới chín tầng mây. Cao bao nhiêu không rõ, nhưng người leo lên chưa thấy ai trở về. Đó là cửa ngõ giao tiếp với nhà Trời. Mỗi lần hoa đào nở, mõ Trời lại từ núi xuống, rao sắc chỉ của Ngọc Hoàng. Đối với Trời, chúng tôi kính mà không gần và cũng không cầu cạnh điều gì.

    -Hàng năm mõ rao gì vậy?

    -Thường thì chuyện thời tiết, nắng hạn mưa dầm, để dân dễ bề đối phó, chăm sóc mùa màng.

    Đoàn người vượt qua cây cầu đá rộng, rồi dừng lại,

    -Tới rồi sao?

    -Mới được nửa đường. Đây là hồ Tẩy Tâm, mỗi lần đi qua, chúng tôi đều dừng lại nghỉ chân.

    Hồ Tẩy Tâm rộng bát ngát. Lúc ấy trăng đã lên cao, vậy mà cảnh trí bên kia hồ chỉ hiện ra lờ mờ. Trên bờ, từng rặng lệ liễu loà xoà, cành lá phất phơ theo chiều gió. Mặt hồ phẳng lặng, gợn một chút khói sương lãng đãng. Chúng tôi bước xuống những bậc đá xanh hình chữ nhật, phẳng lỳ. Trưởng làng ngồi bệt trên phiến đá, đôi chân nhúng xuống nước đong đưa. Tôi cũng bắt chước theo. Nước mát, tạo cảm giác gai lạnh chạy khắp xương sống. Ông nói thật nhỏ như không muốn khua động không khí tĩnh lặng đến rợn người:

    -Ngồi ở đây, nhúng chân xuống mặt hồ, nhắm mắt lại, từ từ chìm vào hư vô, chẳng bao lâu mọi phiền não đều gột sạch, bởi vậy chúng tôi gọi là hồ Tẩy Tâm.

    Tôi cũng nhắm mắt lại. Đâu đây thoảng một chút hương rất nhẹ của hoa anh đào, hay chồi phong lan. Giác quan không còn đủ tinh tế để cảm nhận ngoại cảnh, cảm nhận dòng chảy của thời gian. Tất cả đều ngưng đọng, hư huyễn và sâu thẳm đến vô cùng.

    Không biết ngồi được bao lâu, có bàn tay vỗ nhẹ vào vai, và tôi chợt thức giấc, giữa một nhân gian không định rõ hình hài. Một chút hương thơm hoa cỏ quyện vào làn gió mơn man, ánh trăng phủ một chút sương mờ chảy thành dòng sữa đục, và bóng người chập chờn, xao động trong chốn mung lung.

    Trưởng làng hỏi:

    -Ông thấy sao?

    Tôi hít một hơi thật sâu rồi chậm rãi trả lời:

    -Mọi phiền não đều tan vào hư không.

    Đoàn người lại rục rịch lên đường. Mấy chàng trai múc đầy bốn đôi nước, gánh vào trong động.

    Con đường lót đá xanh đi xuyên vùng ánh trăng lung linh. Núi Bạch Vân Thê dần dần hiện ra trước mặt, sừng sững. Từ lưng chừng núi, khói sương mù mịt phủ trắng xoá.

    -Bạch Vân Thê, cái tên đặt rất hay. Bám vào chiếc thang kết bằng mây trắng để leo lên trời.

    -Ở đây có một tục lệ bật thành văn. Tất cả các cụ đã lột xác tới lần thứ ba, đều theo núi Vân Thê tìm lối lên trời. Vì sao họ đi và có tới được không, hay bỏ xác giữa đường, hiện chưa ai rõ.

    Tôi trầm ngâm:

    -Vì sao họ đi ư? Họ muốn tìm cõi tuyệt đối. Thế giới hiện thực không bao giờ được coi là đủ, một khi tầm mắt còn bị khép kín trong một vòng tròn cố định. Đối với họ, có tới được không chẳng phải vấn đề, vì cuộc sống cuối cùng là một hành trình tìm kiếm không bao giờ thoả mãn.

    Trưởng làng có vẻ trầm ngâm, đầu cúi thấp như đang đếm từng bước nhỏ.

    Đoàn người dừng dưới chân núi. Đường vào động được dọn sẵn với những phiến đá rộng xếp bằng thành từng bậc. Hang sâu thẳm, thỉnh thoảng có một vài khe nứt trên nóc động, sương gió và trăng khuya lùa vào, long lánh đọng lại trên những giọt nhũ đá chảy dài. Sáu bó đuốc thông được cắm trên vách. Đám đông dừng lại bên ngoài. Tiến vào động chỉ có đôi vợ chồng, hai bà mụ, trưởng làng và tôi, người đến từ thế giới khác, thế giới của cái chết và sự hữu hạn. Bốn chàng thanh niên đổ nước vào hai cái chum rồi quay ra, khép cửa động bằng tấm ván lớn. Không gian đã được cách ly, tĩnh lặng và sâu thẳm. Đây là nơi chứng kiến những cuộc đổi đời thiêng liêng.

    Người chồng ngồi xếp bằng trên mặt bàn đá, hai lòng bàn tay ngửa như tư thế thiền sư nhập định. Dưới ánh sáng huyền bí, chập chờn, tôi bắt gặp gương mặt căng thẳng, chờ đợi giờ phút thiêng liêng, quan trọng: sự sống sẽ trỗi dậy từ một thể xác rã rời, cạn kiệt.

    Một nồi nước lớn được bắc lên, nước sôi bốc mùi lá sả và hoa bưởi. Khi nước nguội dần, từng gáo, từng gáo được dội lên thân hình khô khẳng, giờ đã trần truồng. trưởng làng ghé tai tôi, giọng nói vo ve, đầy vẻ thành kính:

    -Đây là nghi thức truyền thống, nước gột rửa sự cằn cỗi của tuổi già, đồng thời giúp lớp da khô cứng mềm hơn.

    Người vợ nhỏ nhẹ:

    -Ông đã sẵn sàng chưa?

    Ông chồng nhìn sâu vào mắt vợ, đôi mắt ánh lên nỗi khắc khoải đợi chờ. Miếng da đầu tiên bằng lòng bàn tay được lột ra. Người chồng khẽ rùng mình, cắn chặt hai hàm răng. Bà mụ vội vã thoa một lớp dầu mỏng lên làn da đỏ hỏn rướm máu. Rồi cứ thế từng miếng da khô chết được lột khỏi cơ thể, kéo theo tiếng rên xiết, có lúc là tiếng thét đau đớn tột cùng, toàn thân rỉ máu. Nhìn cảnh tượng đó, tôi bỗng thấy đổ mồ hôi hột, ớn lạnh. Hai bà mụ làm việc luôn tay. Sau khi đã kiểm soát thật kỹ từng phân vuông da thịt, người chồng được trùm kín trong tấm khăn lụa mỏng.

    Một nồi nước khác lại được bắc lên, bốc mùi ngải cứu hăng hắc. Rồi từng gáo nước lại dội lên toàn thân. Thoạt đầu ông chồng thoáng rùng mình, rồi từ từ dãn ra trong tư thế thoải mái. Công việc kéo dài hơn hai tiếng đồng hồ. Mọi người đều thở phào nhẹ nhõm.

    Trưởng làng thì thào vừa đủ nghe:

    -Tốt rồi, nhưng người lột xác phải ở trong hang tối thiểu ba ngày, để dưỡng thương, cho lớp da non kịp thời se lại.

    Ông nắm tay tôi, lách tấm cửa gỗ ra ngoài. Trời về khuya, khí lạnh thấm mát hai lá phổi. Tôi như vừa trải qua một giấc mơ rất đẹp, giấc mơ chiến thắng sự già cỗi, chiến thắng cái chết.

    Trưởng làng ngồi trên phiến đá, dựa lưng vào gốc tùng già, mắt lim dim như ngủ. Tôi đến ngồi bên ông, cũng lim dim như ngủ, nhưng trong lòng xao động biết bao ý nghĩ. Tôi ngửa lòng bàn tay, hứng hạt sương khuya từ tán lá rơi xuống. Giọt sương lăn qua, lăn lại trong lòng bàn tay như viên ngọc, trong suốt. Tôi thấy ở đó một điều: vẻ đẹp của sự sống. Giọt sương lăn qua, lăn lại, trong suốt, lọt qua kẽ ngón tay, thấm vào lòng đất, lại thêm một điều: cái chết. Giữa sự sống và cái chết là khoảng khắc mong manh, rất đẹp, như giọt sương lăn qua, lăn lại trong lòng bàn tay, trong suốt, cái đẹp ngắn ngủi giữa hai đầu hư vô.

    Mặt trời nhô lên từ vùng biển xa, đỏ ối. Phía dưới kia là biển khơi, từng lớp sóng đua nhau tìm đường vào bờ, như lũ rắn bạc đang bò, đang đùa. Tôi muốn bơi thuyền ra vùng biển xa một mình, một mình ngồi trên phiến đá rong rêu nghìn năm, chiêm nghiệm khoảng khắc sáu mươi năm tuổi đời, để tìm lại mình, và tìm ra ý nghĩa đích thực của cuộc sống giữa muôn vàn mong manh. Tôi muốn một mình trở về vùng cát trắng, như người lữ hành cô độc đi tìm tuổi trẻ, tuổi hẹn hò, với những ước mơ hoang đường. Cuối cùng tôi đứng dậy, theo đoàn người về làng.

    Suốt ba ngày, tôi cùng đám thanh niên vào rừng bẫy thú, hoặc vác cuốc ra đồng. Ở họ, tôi không hề thấy sự tất bật, toan tính, âu lo. Ở họ, công việc là bổn phận, mà cũng là niềm vui bình dị. Có lần tôi chợt hỏi:

    -Các cậu có biết tội ác là gì không?

    -Tội ác ư? Là gì vậy? Chúng tôi mới nghe lần đầu.

    -Tội ác là hành vi xâm phạm quyền lợi, tài sản, hay sinh mạng kẻ khác, thường để thu lợi cho bản thân, hoặc thoả mãn một chút sở thích riêng tư.

    Họ cười xoà:

    -Quái thật! Làm hại người khác để thu lợi cho mình. Có việc ấy sao?

    Chiều ngày thứ ba, đám đông lại vượt qua cầu đá tới chân núi Bạch Vân Thê. Cánh cửa gỗ mở rộng, đôi vợ chồng trẻ xuất hiện, phía sau là hai bà mụ. theo tục lệ, mọi người đều im lặng. Trưởng làng khum hai bàn tay vốc một bụm nước từ hồ Tẩy Tâm, rồi rẩy lên đầu chàng trai trẻ, sau đó là niềm hân hoan vỡ ra thành tiếng reo hò.

    Tôi tiến lại nắm chặt đôi tay chàng thanh niên:

    -Cụ đó ư?

    -Vâng tôi đây.

    Làm sao hình dung nổi sự kỳ diệu của cuộc lột xác. Tôi lùi xa một bước, nghiêng đầu ngắm nghía:

    -Cụ đó ư?

    Chàng trai nở nụ cười đắc thắng:

    -Vâng tôi đây. Ông không thể ngờ chứ gì?

    Trước mặt tôi là chàng thanh niên, mái tóc bạc lưa thưa đã có sắc đen, còn đôi mắt đục như ruột nhãn giờ trong suốt, sáng ngời sức sống. Lớp da nhăn nheo khô cằn, đầy vết chân chim, giờ đã căng mịn sắc hồng, duy chỉ có đôi chân liêu xiêu, giống như con nai mới chào đời, bốn vó còn lóng ngóng. Quả thật họ đẹp đôi, hai vợ chồng đó. Tôi nhớ lại hình ảnh người vợ trẻ dìu chồng bên bờ suối hôm nào, thời gian chờ đợi đã được đền bù.

    Buổi tối dân làng lại mở hội. Trưởng làng ngồi bên vợ, cả hai đều già. Tôi thoáng thấy nét mệt mỏi in trên khuôn mặt bà cụ, dấu hiệu ấy tôi đã gặp nhiều lần. Trưởng làng nhìn tôi cười:

    -Nay mai cũng đến phiên bà ấy.

    Phải rồi, thể xác đã quá già cỗi không chở nổi nguồn sống, lúc nào cũng như ngọn lửa bùng lên. Nhìn lại thân mình, tôi cũng nhận ra sự mỏi mòn, cằn cỗi, đó là lúc cuộc sống đang bước dần tới điểm kết thúc. Tôi muốn có một chiếc gương để soi, để nhìn thật kỹ khuôn mặt mình. Tôi xoa nhẹ từng vết nhăn trên trán, dấu tích những lo lắng, nhọc nhằn chập chùng của tháng năm.

    Buổi tiệc kéo dài đến khuya, một số lục tục ra về, số khác ở lại tiếp tục một đêm vui còn dở.

    Tôi ngồi giữa đám đông, cố hoà mình vào cuộc vui của họ, nhưng giữa những tiếng ca hát cười đùa, tôi chợt thấy mình hụt hẫng trong trạng thái tột cùng cô đơn.

    Tôi dự tính ở lại thêm một thời gian nữa. Tối tối, tôi với ông bà trưởng làng thường ngồi dưới mái hiên uống rượu ngắm trăng. Ngôi nhà quay ra biển. Trên mặt sóng nhấp nhô, lấp lánh muôn vàn đóm lân tinh. Trưởng làng chỉ:

    -Ông xem mấy con thuyền kia, như chiếc lá tre bồng bềnh. Vào mùa trăng, bọn trẻ thường cưỡi thuyền ra biển câu mực.

    -Ngồi ở đây thích thật, quên hết mọi ưu phiền.

    Bà trưởng làng rót cho mỗi người một chén rượu đầy.

    -Rượu cất bằng gì vậy?

    -Bằng nho ướp với mật ong.

    -Không có men à?

    -Men là gì?

    -Là chất giúp cho rượu thêm nồng gắt, có tác dụng kích thích mạnh, uống mau say.

    Bà trưởng làng thỉnh thoảng góp chuyện:

    -Ông là người duy nhất đến từ thế giới hữu tử. Quê ông có gì khác với ở đây?

    -Khác từ căn bản. “Hữu tử” và “Bất tử” là hai khởi điểm, từ đó chúng ta đi theo hai con đường ngược chiều. Nền văn minh của chúng tôi trước hết nhằm phục vụ tối đa cho nhu cầu hưởng thụ cuộc sống qua mau. Chính tâm thức hữu hạn đẩy con người tối tội ác, vì tội ác là con đường tắt để thực hiện ước muốn của cuộc sống hữu hạn, hữu hạn về mặt khả năng cũng như thời gian. Chúng tôi cần tới những cái quý vị không bao giờ hình dung nổi,

    -Ông có thể nói cụ thể hơn không?

    Suy nghĩ một chút tôi trả lời:

    -Chẳng hạn chúng tôi cần say, quý vị thì không.

    Cả ba cùng cười.

    -Khi cuộc sống càng lúc càng phức tạp và băng hoại, chúng tôi cần đến những quyền lực chế tài. Về mặt xã hội, chúng tôi cần chính quyền để duy trì trật tự. Về mặt tinh thần, chúng tôi cần đến tôn giáo. Tôn giáo giúp con người có cái nhìn tích cực hơn về cuộc sống.

    Bà trưởng làng có vẻ đắn đo:

    -Tôi chỉ hiểu lơ mơ, nhưng hỏi thật. Ông thích cuộc sống ở đâu hơn?

    -Tôi thích sự nhẹ nhàng, đơn giản. Tôi đã quá chán những căng thẳng phi lý trong cuộc sống phức tạp, ở đó con người tự đóng đủ thứ cũi, rồi lại tự nhốt mình vào. Nhưng bước tiến của văn minh là con đường một chiều, không thể lùi lại.

    Bà nhìn chồng rồi nhìn tôi:

    -Ông có thể đến đây bất cứ lúc nào, và muốn ở tới bao giờ cũng được.

    Trưởng làng cười hóm hỉnh:

    -Ông sẽ là công dân danh dự trong làng.

    Tôi không trả lời, nhưng bồi hồi xúc động.

    Bà trưởng làng là một người độc đáo, có thể vào khoảng 80, nhưng ở đây không có thước đo thời gian. Tôi cố mường tượng qua lớp hình hài già cỗi đó, bóng dáng một cô gái trẻ, có thể rất đẹp. Nhưng điều khiến tôi chú ý lúc chuyện trò, là cá tính độc lập của bà. Người thiếu phụ luống tuổi ấy không bao giờ chịu đi theo lối mòn, bà như cành mẫu đơn giữa vườn vạn thọ. Có lần bà chợt hỏi:

    -Trong vườn nhà tôi có một giống hoa sớm nở tối tàn, cánh mỏng manh pha một chút phấn hồng rất nhẹ. Các ông có giống hoa ấy không?

    -Có, chúng tôi gọi là hoa phù dung.

    Bà nói trong mơ màng:

    -Nhiều lúc tôi đã cố làm mọi cách cho hoa nở lâu hơn, nhưng vô hiệu.

    -Cũng vì vậy, ở quê tôi người ta thường ví nhan sắc thiếu nữ với cánh phù dung, “Phù dung như diện, liễu như mi”. Chúng tôi chỉ có “một thời để yêu và một thời để chết.”

    -Ông này, chính trong lúc thất bại, không thể kéo dài cuộc sống của loài hoa, tôi chợt nhận ra một điều: có lẽ vì sớm nở, tối tàn, mà hoa thêm đẹp, thêm đáng yêu, cái đẹp ẩn chứa sự héo tàn ngay từ lúc bán khai. Ông này, theo tôi, cuộc sống hữu hạn cũng có vẻ đẹp riêng của nó, cần trân trọng. Ông có nghĩ vậy không?

    Một hôm, tôi thấy bà đứng bất động hàng giờ, tay chống vào lan can, đôi mắt ngưng đọng ở điểm sâu thẳm của hư vô. Chợt bà quay lại nhìn tôi, giọng nhẹ như gió thoảng:

    -Tôi thích ngằm vẻ đẹp của chiều tà, đẹp nhất là lúc ánh nắng vàng vọt chỉ còn thoi thóp trên ngọn phi lao già cỗi.

    Nói rồi bà lặng lẽ quay vào.

    Mấy hôm sau, có tin bà trưởng làng chuẩn bị lột xác. Buổi chiều ngày trọng đại, bà mặc chiếc áo lụa mầu nâu non, lưng như còng xuống, đầy mệt mỏi, riêng đôi mắt chợt long lanh. Trưởng làng hân hoan ra mặt. Ông lão quắc thước hết ra lại vào, chuẩn bị mọi vật dụng cần thiết. Ông không quên kiểm soát hũ dầu, trước khi trao cho một cô gái trẻ. Đoàn người lên đường giữa lúc trăng hạ huyền chưa mọc. Một rừng đuốc thông soi sáng con đường đã quen đi lại nghìn lần. Theo thường lệ, hồ Tẩy Tâm là địa điểm dừng chân. Đứng trên cầu đá, tôi ngước nhìn bầu trời xanh dịu, lớt phớt vài chấm sao thưa. Đêm thanh khiết và sâu, khí đêm mát lạnh, không gian như ướp thứ hương thơm rất nhẹ.

    Ông lão đi cạnh tôi lên tiếng:

    -Mấy nụ anh đào đầu tiên đã nở, chắc mõ Trời sắp đến nay mai.

    Người khác góp ý:

    -Chả biết có gì mới không?

    Một bà lão chép miệng:

    -Ối dào! Trước sau cũng toàn chuyện mưa nắng.

    Tôi cười:

    -Ai bảo bà vậy, lâu lâu cũng cần có chuyện động trời, cho đời bớt tẻ.

    Bà lão nhìn tôi nguýt dài.

    Cả đoàn tới chân dãy Bạch Vân Thê thì trăng hạ huyền bắt đầu mọc, trăng như lá lúa non, len lỏi qua lớp mây mỏng, mơ màng nhô lên đầu hẻm núi.

    Trưởng làng dìu vợ, cùng hai bà mụ tiến sâu vào thạch động. Lần này tôi ở lại bên ngoài. Trước khi khép cửa, ông còn quay ra nhìn tôi vẫy tay chào. Tôi bắt gặp khuôn mặt vừa háo hức, vừa bồn chồn của ông. Ông sẽ gặp lại người con gái ngày nào còn trẻ, có lẽ trên bãi biển vắng, có lẽ trong một đêm hội làng.

    Gió đêm se se lạnh, sương xuống mau hơn. Ánh trăng mờ đục đọng thành những giọt lóng lánh trên cành cây. Đám thanh niên gom củi khô thành một đống lớn, rồi mồi lửa, ngọn lửa bập bùng, hắt thứ ánh sáng chập chờn, ma quái lên vách đá dựng đứng. Những bát rượu chuyền tay nhau hâm nóng câu chuyện lúc về khuya. Dựa lưng vào vách đá thiu thiu ngủ, tôi mơ thấy mình ngồi khoanh chân trên bàn đá, hai lòng bàn tay lật ngửa trong tư thế thiền sư nhập định. Tôi chờ những gáo nước thơm mùi lá sả và hoa bưởi, chờ đôi tay khéo léo của bà mụ lột từng miếng da già cỗi. Tôi chờ mãi, chờ mãi, cuối cùng lại thấy mình lênh đênh trên biển cả, cưỡi con sóng vô định, bềnh bồng trong dòng thời gian. Giấc mơ bị ngắt ngang bởi những tiếng khua lóc cóc, lóc cóc, như tiếng mõ cá, tiếng đoạn tre già đanh gõ nhịp nhàng trên khúc gỗ rỗng ruột. một vài tia nắng yếu cố len lỏi trong màn sương. Tiếng lóc cóc từ lưng chừng núi đi dần xuống, âm hưởng khô khốc, ngắn và đanh. Một bóng áo đen chập chờn xuất hiện, nắng sớm chiếu chênh chếch vào khuôn mặt gã, khuôn mặt nhợt nhạt, chai cứng như xác chết. Chen lẫn với tiếng mõ, một giọng lạnh lẽo, vô cảm vang lên, âm thanh lùng bùng như phát ra từ trong bụng:

    -Nghe đây! Nghe đây! Ngọc Hoàng có chỉ: kể từ nay rắn già rắn lột, người già người cột vào săng. Nghe đây! Nghe đây!

    Giữa không gian âm u, chập chờn sương nắng, tiếng rao và tiếng mõ khô khốc hòa lẫn vào nhau, tạo thành âm hưởng ma quái. Đám người quanh tôi chợt đông cứng như hóa đá.

    Tiếng rao xa dần, ai nấy mới bàng hoàng chợt tỉnh, những ánh mắt thất thần ngơ ngác nhìn nhau.

    -Gì vậy? Mõ rao gì vậy?

    Có tiếng hét thất thanh:

    -Nó rao láo, bắt nó lại.

    Mấy cậu thanh niên ùa đuổi theo, hoảng loạn, những cục đá cuội bằng nắm tay, thi nhau nép tới tấp vào bóng áo đen.

    -Bắt nó lại, hỏi cho ra lẽ.

    Máu đã chảy, máu túa trên khuôn mặt vô cảm, chai cứng như thây ma. Bóng đen ôm đầu, loạng choạng, rồi đổ gục. Chiếc mõ văng ra, rơi lăn lóc xuống triền núi.

    Lần đầu tiên sự cuồng nộ và bạo lực xuất hiện trong một thế giới chưa hề biết thế nào là tội ác. Tôi nhìn quanh, cố tìm một hình ảnh nào đó khả dĩ lấp đầy khoảng trống mênh mông trong tâm hồn. Tôi bàng hoàng ngồi dựa lưng vào cửa động, thở dốc. Bầu không khí hoảng loạn từ từ chùng xuống, thay vào đó là sự yên lăng nặng nề đến nghẹt thở. Bóng người chung quanh vật vờ trong một không gian thiếu chiều sâu. Tôi nghe rõ tiếng tim đập đứt quãng, tiếng rì rào của côn trùng vừa thức giấc với bình minh. Và đột nhiên tôi chú ý tới những tiếng vo ve không dứt. Trong hốc đá sát bên cạnh, một con ruồi trâu to bằng đầu đũa mắc vào lưới nhện, nó vùng vẫy đập cánh liên hồi, cố thoát khỏi tấm lưới nhện lùng nhùng. Sau hồi vùng vẫy tới kiệt lực, con vật khốn khổ cam phận đứng yên. Tôi nhìn thật kỹ đôi mắt nó, đôi mắt lồi, tròn xoe như hạt đậu với nhiều chấm nhỏ, tôi chợt ý thức thế nào là sự hoảng loạn và tuyệt vọng.

    Có tiếng bước chân lê lẹt xẹt trên nền đá khô, rồi tiếng cánh cửa nặng nề rít lên, tiếng rít ken két cứa vào lỗ tai. Một mái đầu bạc thò ra, hình ảnh đầu tiên gợi chú ý là đôi mắt của con ruồi trâu thảng thốt, thất thần, mặc dầu đôi mắt đó không tròn xoe, mà ngập sâu vào khuôn mặt tái nhợt. Giọng nói thiếu âm sắc như cất lên từ lòng đất:

    -Gì vậy? Mõ rao gì vậy? Lập lại thử coi.

    Tôi cố bắt chước âm thanh lùng bùng:

    -Nghe đây! Nghe đây! Ngọc Hoàng có chỉ: kể từ nay rắn già rắn lột, người già người cột vào săng. Nghe đây! Nghe đây!

    Mái tóc bạc thụt vội vào trong hang. Tôi hỏi với theo:

    -Bà ấy sao rồi? Xong cả chưa?

    Không nghe tiếng trả lời, có lẽ không có câu trả lời. Tôi chợt mường tượng thấy con đường trải đầy cỏ non, hai bên viền tóc tiên, trên đó một cô gái trẻ dìu ông chồng già khô kiệt. Phía trước con đường có hai ngã rẽ, một ngả dẫn ra biển xanh và một ngã dẫn vào khu rừng nguyên sinh âm u. Tới ngã rẽ, hai người dừng lại, nhìn nhau.

    Đám thanh niên tản đi hết. Tôi chậm chạp đứng dậy, làm vài động tác thư giãn, rồi lặng lẽ tiến về phía hồ Tẩy Tâm. Dưới kia biển đông bắt đầu rực nắng, vẫn những con rắn bạc nhởn nhơ vui đùa. Tôi không thể một mình trở về vùng biển khơi, tìm lại hương thơm của ngày đầu hò hẹn. Tôi uể oải ngồi xuống bậc đá rong rêu bên hồ. Gió sớm se se lạnh, một vài cánh hoa anh đào trôi lềnh bềnh trên mặt nước se se lạnh. Tôi nhắm mắt thật lâu, cố chìm vào hư vô, nhưng hư vô đầy ắp tiếng thủy tinh vỡ nhọn hoắt, và lần này nước hồ Tẩy Tâm đành bất lực, không gột nổi nỗi buồn càng lúc càng mênh mông. Nước trong suốt, không một gợn sóng nhỏ. Tôi thấy dưới đáy nước chợt hiện ra một khuôn mặt nhàu nát, nhăn nhíu nếp gấp, với đôi mắt thất thần của con ruồi trâu. Tôi dùng hai ngón tay cái kéo dãn làn da, cố xóa vết hằn thời gian, ngón tay buông ra, nếp nhăn lại in sâu như cũ. Có tiếng tắc kè tặc lưỡi vụng về, con tắc kè màu xanh lục, giờ đã biến thành màu vỏ cây. Tôi cũng muốn biến thành màu vỏ cây, màu đất, để trốn mọi cái nhìn.

    Tôi đứng lên, trạng thái trống rỗng, và người khách danh dự đã không chào mà bỏ đi. Vùng đất lúc này nhắc tôi nhớ tới sự hữu hạn, một thuộc tính mà suốt đời con người không cam tâm chấp nhận. Trước mắt tôi, đồi cát trải dài như sa mạc, sa mạc dẫn đôi chân mỏi nhừ, cháy rát tới vùng biển khơi. Cuối cùng tôi cũng về được với biển khơi ngày nào. Cuộc hành trình về nguồn đầy nhọc nhằn. Tôi ngồi bệt trên bãi cát sâm sấp nước, lơ đãng nhìn mấy con còng thập thò trong hang, tròn mắt nhìn đời. Bên cạnh tôi là một lâu đài cát không biết ai xây, có lẽ còn dở, không phải, xây xong rồi, nhưng bị nước tràn vào xói mòn, nước rút từng lượng cát nhỏ, từng lượng rất nhỏ. Trước mắt tôi thoáng hiện tà áo trắng của một cô gái tóc thề rực lửa. Tà áo trắng như chiếc bóng của quá khứ, mỗi lúc một bay xa, bay xa.

    Ông này, giấc mơ tới đó bị gián đoạn một thời gian dài, đó là lúc tôi phải vật lộn với cuộc sống cơ cực, không có gì cay đắng cho bằng cái nợ áo cơm, sự cơ cực khiến cả tâm hồn lẫn thể xác cằn đi, trống rỗng như chiếc vỏ ốc.

    Hắn uống thêm một hớp rượu.

    -Câu chuyện vừa rồi gợi cho ông suy nghĩ gì?

    -Rất nhiều, nhưng suy nghĩ mỗi người mỗi khác nhau, không thể có thước đo để định rõ đúng sai.

    -Đúng rồi, tôi sợ nhất những tên đầu nậu chân lý. Để tôi kể tiếp cho ông nghe phần cuối.

    Tôi dừng chân trước ngõ vào nhà trưởng làng. Khung cảnh vẫn như xưa, nhưng tâm trạng lần này rất khác, nặng nề. Tôi thấy mình có lỗi khi không chào mà bỏ đi. Hai cây anh đào lác đác vài nụ hoa cuối mùa, hơi thơm thoảng vị ngọt như hơi thở người con gái mới lớn. Mấy dây tầm xuân quấn quanh hàng dậu dâm bụt, cánh mỏng manh, trắng muốt. Trưởng làng ra đón tôi, nét mặt nhăn nhó.

    -Ông sao vậy? Không khỏe à?

    -Tôi sửa lại hàng dậu, vô ý bị gai tầm xuân đâm chảy máu.

    Tôi cầm bàn tay ông, làn da lạnh ngắt, khô ráp, nhăn nheo như da rắn. Một giọt máu nhỏ rớm trên đầu ngón cái.

    -Ăn thua gì. À, độ trước tôi có việc gấp phải đi, không kịp chào, xin lỗi.

    Ông cười xòa:

    -Ôi dào, vơ vẩn.

    -Bà ấy đâu sao không thấy?

    Ông lão hướng mắt ra bãi biển. Giữa vùng xanh thẳm nối liền trời và nước, bóng một thiếu phụ áo lụa bạch hiện ra xa xăm, đơn độc, mái tóc dài tung bay bềnh bồng. Đầu thiếu phụ cúi thấp, dáng trầm tư, những giọt nước lăn tăn theo sóng ập vào, mơn man đôi chân trần.

    -Sao ông không ra với bà ấy?

    Ông nhìn sững tôi, không trả lời rồi lặng lẽ quay vào. Trong không khí tĩnh lặng của ngôi nhà cổ, tôi thoáng đọc được nhiều ý nghĩ trong đôi mắt đục lờ đờ. Ông thở dài:

    -Nhiều sáng tôi như thức giấc giữa một thế giới xa lạ, bên những con người hoàn toàn xa lạ.

    Ông ngừng lại một lát rồi tiếp:

    -Đây là nhà tôi, đúng không?

    -Đúng rồi, nhà ông.

    -Không phải, tôi như khách trọ, và nhà này là quán trọ. Tất cả đều có vẻ tạm bợ, chóng qua. Lúc này tôi mới hiểu thế nào là kiếp người chợt đến, chợt đi.

    Giọng nói âm u, thoát ra từ tâm thức lưu đày.

    Tôi chậm rãi:

    -Đây là khởi điểm của một thế giới bắt đầu chao đảo.

    Trưởng làng chợt hỏi:

    -À, ông có uống rượu không? Lâu nay tôi đâm đổ đốn, không có rượu như người không xương.

    -Quên khuấy đi mất, lần này tôi mang biếu ông ít quà, hai chai rượu với chiếc đồng hồ.

    -Rượu có nặng không? Khui thử nhá.

    -Bây giờ ông cũng muốn say à?

    Ông cười hì hì:

    -Có lẽ, uống mãi rượu nhạt chán phèo.

    -Rượu này có ủ men, uống lần đầu dễ say lắm, ông có li nhỏ không? Uống bát chịu không thấu đâu.

    Trưởng làng ra tủ, lục hai chiếc li con. Rượu khui ra trong vắt, xủi tăm. Ông đưa lên mũi ngửi, rồi ực một hơi cạn. Ông vuốt cổ, vuốt ngực, cố nén cơn ho.

    -Chà nóng quá, nóng cháy cổ, xuýt sặc.

    -Uống vậy không được đâu, từ từ thôi. Còn đây là chiếc đồng hồ, một thứ máy đo thời gian. Ở chỗ chúng tôi thời gian bị cắt vụn, một ngày có 24 giờ, một giờ 60 phút, một phút 60 giây, một ngày có 84.600 giây. Trong cuộc sống hối hả, chúng tôi phải tranh thủ từng giờ, từng phút để đuổi kịp thời gian.

    -Chán thật, cuộc sống như vậy chán thật, mà có lẽ rồi cũng tới phiên chúng tôi.

    -Chúng tôi còn chia thời gian thành năm, tháng, tuần và ngày. Khoảng thời gian từ trăng khuyết, tròn, rồi lại khuyết gọi là tháng, theo âm lịch.

    -Như vậy ông vắng mặt đã ba tháng rồi đó. Mà mỗi tháng hình như khoảng 30 ngày.

    -Đúng rồi

    Tôi cố rút trong câu nói của ông một ý nghĩa.

    -Ông này, vậy là ông đã bắt đầu chú ý tới sự chuyển dịch của thời gian rồi đấy.

    -Trước kia thì không, tôi chỉ chú ý tới nó từ khi dòng chảy thời gian đưa bọn già tới gần cái chết.

    Giọng nói ngậm ngùi cay đắng. Ông thong thả uống thêm một hớp rượu.

    -Hình như càng uống càng mềm môi. À các ông thường nhắm rượu với gì.

    -Thú nhất là thịt chó, cày tơ.

    -Thịt chó ư? Chó đang nuôi đem giết có tàn nhẫn lắm không?

    -Ông biết không, có con chó lúc biết bị đem đi giết thịt, đã chảy nước mắt, nhưng “người hữu tử” chỉ tránh làm điều tàn nhẫn với chính mình.

    -Ra vậy.

    -Này ông, bữa nay sao ở đây vắng thế? Thiên hạ đi đâu hết rồi?

    -Từ đó tới nay, buổi tối mạnh ai nấy ở nhà. Thời gian qua, có nhiều việc xảy ra, ngoài sức tưởng tượng của tôi.

    -Để tôi đoán thử nhá: tự tử, giết người, ngoại tình, đánh lộn, còn gì nữa nào?

    -Sao ông biết?

    -Vì đó là kết quả tất yếu của sự hữu hạn.

    -Tôi hiểu rồi. Để tôi kể vắn tắt ông nghe. Khoảng non nửa tháng sau ngày mõ Trời đến, có một bà già tự tử bằng cách gieo mình xuống hồ Tẩy Tâm. Sau đó lần lượt xảy ra hai vụ giết người, một tên gian phu đã giết chết ông chồng già của cô nhân tình, bốn vụ trộm, ngoài ra có hai ông, một bà chết vì tuổi già. Còn thanh niên đánh nhau, ôi thôi, như cơm bữa, chỉ cần một chuyện không đâu là có thể trở mặt thành thù.

    Ông cầm ly, cạn một hơi:

    -Tôi thấy hơi lảo đảo.

    -Ông bắt đầu say rồi đấy.

    Có tiếng ngáy khò khò, rồi trưởng làng đổ gục xuống bàn.

    -Ông ấy sao vậy?

    Tôi quay về phía tiếng nói.

    -Té ra là bà. Sáng mai tỉnh thôi, bà đừng lo.

    -Say à? Ngộ nhỉ, rượu gì vậy?

    -Rượu tôi mới biếu, nặng lắm.

    -Vậy hả? Tôi cũng muốn uống một ly.

    Đêm ấy thao thức mãi, không sao ngủ được, tôi trỗi dậy, lần mò ra phía hồ Tẩy Tâm. Có lẽ giờ này chẳng có ma nào lảng vảng ở đây.

    Trăng lạnh ngắt, trải một thứ ánh sáng bạc nhược trên rừng anh đào. Những bông hoa cuối mùa còn sót lại chút hương thơm. Trong khoảng âm u chập chùng cây lá, tôi thấy vài bóng người vật vờ, mà thật ra có lẽ khá đông. Tôi tiến đến bên hồ, ngồi xuống cạnh một cô gái, cũng chẳng rõ con gái hay đàn bà, chỉ biết cô ta còn trẻ, khuôn mặt thanh tú váng vất nỗi buồn.

    Tôi nhìn cô ta:

    -Bữa nay sao đông vậy?

    -Kể từ hôm mõ Trời tới, ở đây đêm nào cũng đông.

    -Họ muốn mượn nước hồ gột rửa nỗi buồn à?

    -Có lẽ.

    -Vậy nước hồ có tẩy sạch phiền não không?

    -Cũng chẳng rõ nữa, hình như buồn càng thêm buồn. Người ta bảo nước hồ mỗi ngày một đục, vì thấm đẫm bao phiền muộn.

    -À, té ra vậy, mà nước hồ đục thật rồi.

    Đột nhiên cô ta chỉ:

    -Xác chết nổi lên ngay chỗ đó.

    -Xác ai?

    -Xác bà lão tự tử.

    -Sao biết tự tử?

    -Trước ngày chết, hàng xóm nghe thấy bà ấy nói với anh chồng trẻ, “được, để tôi chết cho ông vừa lòng”.

    Tôi hít một hơi thật sâu, rồi nhúng chân xuống nước, nước hồ đục lờ nhờ, không tạo cảm giác mát lạnh chạy khắp sống lưng. Tôi nhắm mắt lại, cố chìm vào cõi hư vô, cõi hư vô bị khua động bởi tiếng mõ cá lóc cóc, lóc cóc đều đều. Có tiếng hát văng vẳng đâu đây, giọng cao vút mênh mông buồn, không biết tiếng hát cất lên từ đâu, từ bên bờ thấp thoáng bóng người phiền muộn? Từ lưng chừng trời lẻ loi một vừng trăng non? Hay từ khoảng không gian lâng lâng khói sóng? Tiếng hát thể hiện nỗi đau, đóng đinh con người xuống trân gian lưu đầy. Nó giống tiếng hát mỹ nhân ngư gọi quá khứ từ cuối chân mây trở về, gọi kỷ niệm từ giữa trời xanh trở về, nhưng cuối cùng tất cả mất hút trong sự nghiệt ngã dưới đáy sâu thân phận.

    Tiếng hát dứt, tôi nhìn sang bên cạnh, và gặp ánh mắt thất thần của con ruồi trâu trong lưới nhện, ánh mắt làm tôi rùng mình.

    Sáng hôm sau, tôi gặp trưởng làng một mình ngoài bãi biển.

    -Bà ấy đâu? Sao không đi với ông?

    -Bà ấy còn ngủ, chắc đêm qua say quá chưa dậy nổi.

    Tôi bỗng thấy mình có lỗi. Trưởng làng nhìn tôi, ánh mắt hoang mang.

    -Có nhiều việc rất lạ, tôi chẳng hiểu sao cả.

    -Chi vậy?

    -Một ông lão thợ săn trên Bạch Vân Thê quả quyết, chính đêm hôm ấy, trong lúc đang đặt bẫy, lão bắt gặp đàn rắn hàng ngàn con đủ loại, giăng hàng ngang, đón đường mõ Trời, chúng chuốc cho gã uống thật say, rồi vừa nịnh hót, vừa hăm he, chúng bắt tên mõ phải đổi ngược lời rao.

    -“Người già người lột, rắn già rắn cột vào săng” thành “Rắn già rắn lột, người già người cột vào săng” à?

    -Đúng rồi. Ông thấy sao? Liệu có phải vậy không?

    -Cũng có thể.

    Thực ra tôi nghĩ, “hữu hạn” là biện pháp ông Trời dùng để khống chế con người.

    Trưởng làng ngồi trên phiến đá có vẻ suy nghĩ rất lung. Cuối cùng ông ngước lên:

    -Chắc tôi phải đi hỏi cho ra lẽ.

    -Đi đâu?

    -Lên Trời.

    -Bằng đường núi Bạch Vân Thê?

    -Ừ.

    -Ông có chắc tới được không?

    -Chẳng rõ nữa, nhưng cũng phải đi thôi.

    -Ông già rồi.

    -Ừ, già rồi, bởi vậy càng phải hỏi cho ra lẽ.

    -Tùy ông.

    -Còn vụ này nữa, ông giải thích thử xem.

    -Chi vậy?

    Ông trầm ngâm, chậm rãi:

    -Có gã thanh niên, con ông lão bị giết tháng trước, gã xưng là cậu bóng, nhờ ông bố nhập xác, có thể gọi hồn người chết trở về. Gã ba hoa, đoán quá khứ, vị lai, nói lăng nhăng vậy mà cũng khối người tin. Lại còn mang của cải tới cúng rất nhiều.

    -Đó là thói mê tín, dị đoan, đồng thời cũng là hình thức sơ khai của tôn giáo. Khi con người đánh mất sự tự tin, hắn thường chạy tới cầu viện sức mạnh của thần thánh, ma quỷ.

    -Chúng tôi rất cần kinh nghiệm của ông.

    Trưởng làng ngồi bất động, mái tóc bạc cố giấu kín trong đôi tay khô. Tôi để mặc ông ngồi đó, một mình đi lang thang trên bãi biển. Tôi vạch một vòng tròn lớn, rồi ngồi chính giữa, cố nặn óc tìm cách thoát khỏi vòng tròn mà không vượt qua đường ranh. Tôi loay hoay cố tìm lối ra, tất cả vòng tròn khép kín đều không có lối ra. Một cơn sóng tràn vào bờ, mọi dấu vết đều bị xóa sạch. Chung quanh tôi không có vòng tròn, chỉ có mấy con còng no nước, thò đầu ra khỏi hang, giương mắt ngạc nhiên nhìn đời. Tôi để cả quần áo lội xuống biển, tự do vùng vẫy giữa những cơn sóng bạc đầu.

    _________________________________________
    2009
© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả ngày 15.12.2011.
Xin Vui Lòng Ghi Rõ Nguồn Newvietart.com Khi Trích Đăng Lại .