Dáng Núi Khoả Thân







Thuở Trời Đất hỗn mang. Các vị Thần khổng lồ xuất hiện. Thần Nam Thần Nữ lượn từng đôi. Ông Tứ Tượng bà Nữ Oa. Ông Đực bà Cái. Ông Đùng bà Đà. Ông Lộc Cộc bà Tồ Cô...

Ông bà Lộc Cộc Tồ Cô mình cao lớn. Đầu đội Trời, chân đạp Mây. Đứng đâu thủng đất lún đá. Mỗi bước đi, đỉnh núi này sang đỉnh khác. Để lại đồng ruộng sườn đồi ngõ xóm. Những dấu chân khổng lồ in dấu địa danh: Sơn, Chè Dọc, Lim, Kẻ Đổng, Tiên Lát, Phật Tích...

Hai ông bà khi đi thành đôi. Lúc một mình ông. Khi một mình bà. Hai người khổng lồ, tính khí rất hồn nhiên. Thoắt buồn, thoắt vui như trẻ ham chơi. Lúc giận, ông bà chớp mắt sáng lòe. Tiếng nói ầm ầm như trống dội. Hắt hơi thành giông tố. Thở mạnh thành bão táp.

Khi vui, họ làm mưa tưới cây hoa cỏ tốt tươi. Đàn ca ru người vui muôn vật. Nguồn ân cứu rỗi những tâm hồn bơ vơ. Ông bà có sức khỏe dị thường. Đua nhau đắp núi, đào sông, lấp biển. Một sọt đất bỏ quên cũng thành gò. Một vết chân duỗi ra, thành con suối. Đắp suốt đêm, được một quả đồi. Đào suốt ngày, được một con sông. Nhờ ông bà, nước dồn ra biển. Tát khô đầm lầy, đất đồng hiện ra. Thành nơi cư trú dân lành làm ăn. Người quá đông, ồn ào, ầm ĩ. Ông trổ sấm, đổ giông, vung chớp bão...

Bà tung hươu, chim thú đến giúp người. Nhìn núi sông, đồng ruộng, cỏ cây hoa lá bốn mùa xanh. Bà Tồ Cô hân hoan trong lòng. Và thanh thản thụ thai.

Bà nằm dài bãi cỏ sông Đuống nhìn Trời. Ngắm mặt sông mênh mang gió thổi. Thở hương lúa đồng mùa gặt mới. Quặn mình linh thiêng sinh ra một bọc. Nở mười hai người con gái đẹp tươi. Thay Mẹ đi bốn phương dạy dân trồng lúa.

Mỗi cô thành vua Bà một vùng. Chăm dân gieo hạt mùa vàng. Dệt lụa những đêm trăng ca hát. Dối mẹ dối bà, trao yếm sang sông. Bốn mùa trông Thần Nông vào vụ. Bốn mùa khơi mạch sống tình tang.

Bà Tồ Cô viên mãn ngời Hạnh phúc. Trút áo xiêm, khỏa thân giữa Đất Trời. Gió lộng xôn xao ru Tình Mẹ. Mãi mãi phô sắc đẹp nõn nường. Trong dáng núi Nguyệt Hằng Đất Tiên Du*

Dáng núi thanh thanh. Khuôn trăng đẹp. Mượt mà màn mây mái tóc buông. Đôi bầu vú sữa muôn dòng tuôn. Đêm ru bóng nguyệt hoa huyền hoặc. Thân ngọc ngàn vàng thả nụ xuân. Gió ngàn xao động tiếng tình nhân. Trăng gió đắm rung khoe nhuỵ thắm. Thiên Thai gối trải mây nhung đệm. Ngọc thốt hoa cười cây lá che. Chim thú ca vang, nhạc dập dìu. Trăng vàng nhuộm đầy trời ân ái. Én múa cành thơm lướt chao. Ong bướm bay rập rờn. Hương nồng nàn lả lơi. Hạnh phúc đến bất ngờ. Tình yêu dìu lời ca vút xanh. Hoan ca mùa theo mùa chuyển rung. Muôn vật cựa mình sinh nở. Mẹ gieo mầm sống. Tạc vào dáng núi khoả thân.

Đạo Mẫu Việt tộc là dáng núi thiêng hình Mẹ. Mãi nõn nà đẹp xinh. Đẫm phong tình chồng vợ. Nồng nàn lửa yêu thương. Linh khí Âm- Dương hợp. Đất và người tốt tươi.

Người Việt có một niềm tin sâu sắc với cộng đồng, với cội nguồn dân tộc. Niềm tin ấy từ thuở hồng hoang đã được hình dung qua những đấng siêu nhân (Lạc Long Quân - Âu Cơ). Nhưng Mẹ biểu trưng quan hệ huyết thống gia đình, dòng họ, để khẳng định dân tộc ta là một dòng giống, cùng một bọc do một mẹ sinh ra. Và thế mạnh của chúng ta là Mẫu. Thuở xa đã có điện mẫu gọi là tam phủ, thờ ba bà tổ mẫu của ba thị tộc mẹ ban đầu: Mẫu Thượng Ngàn (cai quản núi rừng), Mẫu Thoải (quản lý sông nước), miền đồng bằng do bà Quỳnh Hoa cai quản,

Đạo Mẫu (đạo Mẹ) đã sống trong tâm thức folklor bằng nhiều hình ảnh nghệ thuật: Mẹ Đất, mẹ Xứ Sở, mẹ Lúa, mẹ Núi, mẹ Rừng, mẹ Chim ... Trong bao nhiêu bà mẹ ở nhiều cấp độ ấy, đạo tứ phủ đã quy vào các mẫu lớn nhất: Mẹ trên trời ( mẫu cứu thiên huyền nữ), mẹ Núi rừng (Mẫu thượng ngàn), mẹ sông biển (Mẫu Thoải) và chốn trần gian có một Mẫu nữa là Mẫu Liễu Hạnh.

Đáng buồn thay đời sau. Vô minh không hề biết. Núi hoá thân hình Mẹ. Tấm thân chuyển hoá thành phong thuỷ. Mênh mang phù thế nhân. Đáng thương thay lửa giận bốc. Đốt cháy hết rừng xanh. Còn đâu dáng Mẹ yêu kiều. Dưỡng sinh khí nước non.

Đã đến lúc Tam toà Thánh Mẫu, thương đàn con láu nháu, phải giáng lâm. Bỏ gác tía xuống chốn bụi hồng.

Dạy chữ “Đạo”.

Dựng cột cương thường cho đứng lại:

Chữ “Đạo” là bản chất của vũ trụ. Cân bằng Âm- Dương. Sinh sôi nảy nở, tái tạo và hủy diệt. Là con đường gọi lòng người hướng thiện. Chữ “Đạo” tượng hình thiếu nữ khoả thân múa lụa.

Nhân loại sơ khai đều hiểu nghĩa chữ “Đạo”. Vũ trụ xoay quanh chữ “Đạo”. Thiên nhiên và con người, vạn vật đều sống cùng chữ “Đạo”. “Đất là mẹ”- tiền đề triết học sản sinh ra phong thủy. Người dùng hình tượng nữ âm để tìm huyệt phong thủy. Huyệt phong thủy là những nơi Âm- Dương tương hợp, sinh khí lành, cỏ cây kết trái nở hoa.

Đất là Mẹ giao hoan tình chồng vợ. Tiền đề triết học sản sinh ra phong thủy- “Đất là mẹ”. Khí luận trở thành cột trụ lý luận của sự hình thành phong thủy “Thiên địa hợp khí… vạn vật tính trí”. Đất phong thủy là nơi “Tập trung của tinh, tích tụ của khí”. Là những khu đất có hình thế “tàng phong”, “tụ khí”, cảnh quan núi cao phát mạch, nhấp nhô uốn lượn, lớp lớp điệp trùng, rừng núi đẹp, núi ôm nước bọc… Tạo ra “Linh khí của trời đất”, “Cảm ứng linh quang của nhật nguyệt”, “Nảy sinh nội khí, ngoại khí hình thành”, “Địa linh nhân kiệt”, “Thành được sơn thủy thì linh”…

Mẹ Đất thương thay! Muôn thần ái ngại. Xót thương giống da vàng chung hòn máu đỏ. Lúc xây nên non nước. Tốn nhường bao công đức Tổ Tông. Đạo chân tông xưa đã thất truyền. Không keo sơn kết nối sợi tơ mành. Sáu chỉ phép thần thông chẳng nổi. Tác đánh tộ. Những câu giả dối. Giấc đại mộng man muội rủ trẻ xuống sông mê. Người khôn không biết chốn nương thân. Thánh Mẫu dạy cùng nhau sám hối:

“Trần gian nhẫn nhục bấy lâu/ Núi cao chất tội, sông sâu chứa nhầm/ Biết luật Dương, luật Âm chưa rõ/ Xin cùng nhau giải toả ngu si/ Khêu mối tinh thần/ Giữ sinh khí muôn loài/ Giữ Đạo Trời nghĩa Đất/ Lòng người lấy Thiện nhân làm lõi/ Thua keo này bày keo khác/ Lọc dần ngọc đá để riêng ra/ Ai người chứng Đạo chân tu/ Dạy Thiện Nhân biết đường Chính Đạo/ Quyết ra tay buồm lái vững vàng/ Dẫu gặp cơn phong vũ bất kỳ/ Phải dốc bụng đá vàng cứng cỏi/ Cầu Mẫu Phật Thánh Tiên Thần/ Ức triệu sinh linh đều thoả nguyện/ Nghìn năm đất nước vẫn yên ngôi/ Mây lành sao phúc soi năm cõi.”



* Huyện Tiên Du nay là vùng Quan họ- Thuộc tỉnh Bắc Ninh.
Nơi hằng năm diễn ra Hội Lim tháng Giêng Âm lịch.

_________________________________

Thành Xương Giang- Hồ Gươm
Tháng 11- 2011.
© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng tải theo nguyên bản của tác giả từ Hà Nội ngày 09.12.2011.
Trích đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com