Καπετάν Μιχάλης - Kapitan Mikhalis



TỪ VŨ
phóng dịch

để kính tặng những người
còn thực sự nhớ đến những chữ :
Đoàn Kết - Độc Lập - Hoà Bình - Hạnh Phúc - Tự Do cho dân tộc Việt Nam
Và cũng để ước mơ một ngày ,
một nhà văn Việt Nam nào đó có đủ khả năng
viết lên được một tác phẩm văn chương lớn như
Καπετάν Μιχάλης - Kapitan Mikhalis - Tự Do hay Chết

TỪ VŨ
Troyes, ngày 04.02.2010

LƯỢC TRUYỆN :

Nối tiếp nhau, từ đời cha cho tới đời con, người dân đảo Crète (Hy Lạp) truyền lại cho nhau nỗi căm hận quân xâm lược Thổ , những kẻ đã chiếm đóng , đàn áp các sắc dân không theo Hồi giáo tại khắp các quốc gia trong vùng Balkan kể từ ngày thành phố Constantinople (Istanbule hiện tại) bị người Thổ đánh chiếm : gần bốn thế kỷ thù hận, nguồn gốc của những cuộc kháng chiến và đàn áp, tàn sát không ngừng lặp đi lặp lại.
Năm 1821 đánh dấu bởi sự vùng dạy dành độc lập của các nước láng giềng. Tại Hy Lạp nói chung , tại Crète nói riêng, những người dân đảo Crète tự hỏi : Bao giờ mới tới lượt mình?
Mỗi mùa xuân, mùa của sự đổi mới, câu hỏi làm tâm trí mọi người Hy Lạp ở Crète chao đao hơn bao giờ hết và chỉ cần một sự kiện thật nhỏ nhặt cũng đủ là một nguyên cớ cho toàn đảo Crete phải bùng cháy. Tại các thị trấn và tại dinh thống đốc, người thống đốc Thổ và người lãnh đạo dân Thiên chúa giáo địa phương phải có trách nhiệm ngăn ngừa trận "hỏa hoạn" này.
Đó là lý do vì sao, không bao lâu trước mùa Phục Sinh năm 1889, Nouri Bey có bổn phận triệu tập Kapitan Mikhalis và bảo ông ta phải quở trách em ông, Manousakas, về việc đã dẫn một con lừa vào nhà thờ hồi giáo như cố tình ngạo báng. Và nhân dịp này, cũng muốn xoa dịu người khách được mời, Nouri Bey gọi người đẹp của ông ta , Emine Hanoun , đến hát mừng chào đón một cách danh dự người khách được mời : Chính đấy lại là tia lửa châm ngòi cho thùng thuốc nổ và tạo nên một trong những thời kỳ bạo lực dữ dội nhất trong cuộc chiến dành độc lập chống lại quân xâm lược Thổ do các nhân vật của tiểu thuyết sử thi này cầm đầu .

Καπετάν Μιχάλης - Kapitan Mikhalis - Tự Do hay Chết - La Liberté ou La Mort - Freedom or Dead , là một trong những kiệt tác của văn học Hy Lạp và đã được chuyển dịch sang hầu hết các thứ tiếng trên thế giới.

Newvietart hân hạnh giới thiệu tiểu thuyết Καπετάν Μιχάλης, lần đầu tiên, được chuyển dịch sang Việt ngữ của Từ Vũ .

KỲ THỨ 12

CHƯƠNG XIV


Cây đèn lồng trên tay, người lão bộc Haridimos soi tìm lối mòn của bầy dê thường đi lên núi . Ông lão chưa thật tỉnh táo vì men rượu nên chập choạng vấp, trợt, ngã sóng xoài. Lão tỏ vẻ bối rối vì thẹn, chống tay đứng dạy , đi tiếp:

- Rượu gì mà qủy quái thế - lão lẩm bẩm.

Ông lão dẫn đường muốn được chuyện trò với Kosmas nhưng chưa biết bằng cách nào vì anh chàng trẻ có vẻ trầm tư và im lặng từ lúc lên đường tới giờ. Sau cùng , đột nhiên dừng lại, người ướt sũng , lão lên tiếng :

- Ông chủ ơi, sao ông không nói gì cả vậy ? Tôi thấy thật là khó chiụ qúa ... . Vì vậy mà tôi cứ bị vấp ngã hoài ...

- Bỏ chuyện tán gẫu qua một bên, Haridimos ạ. Ông có thấy là trời mưa như thác đổ hay không chứ? Mình phải đi thật nhanh.

Kosmas cần phải đi càng nhanh càng tốt đến chỗ đóng quân của Capétan Michelis trước khi trời sáng để bọn lính Thổ không khám phá ra được. Kosmas vượt qua chỗ Haridimos đang đứng. Mưa rơi, mưa tầm tã rơi như trút nước, quất tới tấp vào mặt anh. Thỉnh thoảng một luồng sét xanh rạch xé bầu trời , tiếng sấm rền rĩ dội âm giữă hai sườn núi. Nước sối sả tuôn như thác đổ từ các ngõ ngách trên núi đá ào ạt chảy xuống đồng bằng.

- Ông chủ ơi, ông kể chuyện một chút cho tôi nghe đi, tôi năn nỉ ông mà!. Lão già dẫn đường vừa cất bước vừa nói . Nói cho tôi nghe những sự việc nào đã xảy ra ở đó, ở cái thế giới mà ông đã đi tới đó? Ở đó, họ cũng là người như chúng ta phải không ? Bọn người Pháp thế nào hay bọn đó cũng chỉ là những con qủy dữ ?

Nhưng Kosmas không thích nói chuyện vãn gì trong lúc này. Anh vẫn cắm cúi bước , im lặng, trong bóng tối và mưa. Anh từ chối chuyện vãn để khỏi phải phá vỡ giây phút thanh thản mà anh đang có. Một sự hoan hỉ, lạ lùng , dịu mát, như tràn ngập tâm hồn và thân thể anh . Anh cứ để những giọt mưa quất tới tấp vào mặt anh một cách tự nhiên, trầm tĩnh hệt như một tảng đá, tảng đá của đảo Crète này. Người anh càng sũng nước anh càng cảm thấy từ trong xương tủy anh một niềm sung sướng, sung sướng như đá và đất lúc được tưới đẫm nước.

Bấy giờ là mùa Đông .

Crète đang nằm duỗi dài tắm mình trong mưa . Mưa đầy tình thương. Mưa phủ trên tất cả những thôn xóm, những chủng viện Hy Lạp đã bị bọn lính Thổ thiêu đốt. Mưa cũng rơi trên những thôn làng của người Thổ đã bị những người Thiên Chúa đốt phá. Người Thổ, người Hy Lạp đã quay trở lại những đống tro tàn đó, nơi không còn một chỗ để trú nắng và với từng hòn đá một, họ lại xây dựng lại những mái nhà của họ.

Rung chuyển vì giận dữ, vì thương tổn, đảo Crète thêm một lần nữa lại rơi vào ách đô hộ. Trong lúc đó, những vị Kapitan lại tụ họp bí mật với nhau trong các hang núi , trong những chủng viện để tìm ra một quyết định chung. Họ cùng nhau đọc đi đọc lại, bàn thảo, suy luận về thông điệp của vị Tổng Giám Mục - để cố gắng hiểu, họ cố gắng lắng nghe tiếng nói của Hy Lạp. Họ tức giận, họ nguyền rủa, ngẩng mặt lên trời, cặp mắt toé lửa đe dọa, hai nắm tay họ siết thật chặt ... để sau cùng... họ cũng lại phải xuôi tay. Họ đút trở lại vào bao những chiếc dao găm của họ , họ lại chôn dấu súng đạn thêm một lần nữa rồi quay lại với những công việc đời sống thường nhật của họ.

Mặt mày cau có, câm lặng, những người thương gia ở đảo Crète lại mở cửa các cửa hàng, những nông dân lại còng người trên những thửa đất, cầy bừa, reo hạt. Chiếc bánh xe trĩu nặng về sinh kế hàng ngày lại quay.

Kapitan Polyxinguis đã xuống núi, ông ta cũng ở trong trường hợp này. Chiếc mũ ông đội được phủ bằng một tấm màn đen mỏng. Ông, dừng lại một lúc để thắp một cây đèn cầy rồi thở than trước hình tượng thánh Minas, vị thánh đỡ đầu của thành phố, sau đó đi về cửa hàng của ông để mở cửa. Ông bước vào trong tiệm, ở lại trong bóng tối để không ai nhìn thấy ông và ông cũng không muốn nhìn thấy ai, đốt điếu thuốc, đôi mắt lạc lõng. Đôi mắt ông hướng ra ngoài đường phố nhưng hình như ông không trông thấy ai đi qua đi lại, hay nói đúng hơn là ông không muốn trông thấy ai , ngay cả những người nông dân đang đi vào cổng La Canée, họ đang chuyên chở chanh, cam, quả thanh yên, rượu và dầu mà họ đã dấu diếm cứu vớt được trong cơn càn phá của bọn lính Thổ. Ông không nhìn thấy gì. Miệng ông thật đắng và nụ cười đã biến mất không còn như ngày trước nữa. Ông đang hối tiếc vì đã bỏ xuống núi, hành động này của ông đã làm cho ông tự cảm thấy mình cũng chỉ là một người tầm thường.

" Lẽ ra mình không được nghe theo lời của Tổng Giám mục, của đám Trung Ương, Kapitan Polyxinguis ngẫm nghĩ. Kapitan Mikhalis quyết định rất đúng. Lẽ ra mình cũng phải ở lại trên núi và dù có chết cũng chấp nhận. Cuộc sống như thế này qủa thật là vô vị ! "

Xoay xoay chiếc tẩu trong tay, ông đứng lại trên ngưỡng cửa, thở dài. Cũng vào lúc đó, trưởng giáo Manolis vưà đi chờ tới. Chiếc áo dòng của ông ta dính đầy mỡ phồng lên phập phùng trong gió. Giáo trưởng Manolis đã thản nhiên ở lại Candie không nhúc nhích gì suốt trong thời kỳ biến động. Ông vẫn làm phép cho các đám ma, vẫn làm phép rửa tội, vẫn ban phép lành và vẫn tiền bỏ cho đầy túi . Người ông ta càng ngày càng trở thành phì nộn . Bữa đó, ông ta đang cầm trong tay một chiếc bình rượu lễ; đi đằng trước là Mortzouflos, mặt mũi nhợt nhạt, nức nở khóc, tay xách một chiếc đèn lồng thắp sáng giữa ban ngày ban mặt. Kapitan Polyxinguis làm dấu thánh giá. Ông biết tin không hay vừa xảy ra. Giáo trưởng Manolis vừa đi làm lễ xức dầu thánh lần cuối cùng cho Kapitan Stéphanis, người vừa được đưa bằng chính chiếc tầu của vị Kapitan này trở về Candice vì ông vừa bị cụt mất cả hai bắp đùi và tử thương trong trận hải chiến với các chiến thuyền của bọn Thổ.

- "Xin ơn trên cửu rỗi linh hồn ông ta, Kapitan Polyxinguis lẩm bẩm. Ông đã sống, hành xử thật xứng đáng là một bậc trượng phu."

Vừa sắp sửa quay lại bóng tối trong cửa hàng thì Kapitan Polyxinguis chợt nhận ra Ventouros từ đàng xa đi lại. Anh ta đang như quấn mình trong một chiếc mền, run lẩy bẩy, lẩm bẩm một mình với những cử chỉ như một người điên. Từ hai hôm nay, người chơi đàn lyra này lếch thếch lang thang trên các đường phố như một kẻ không hồn. Anh chàng ta không biết phải quyết định ra sao : hoặc là mở cửa quán rượu của mình, gọi vợ và hai đứa con gái đang lánh nạn tại làng của Georgearos, bạn anh ta, để trở lại cuộc sống quen thuộc hay là liệng bỏ tất cả rồi lại quay trở lên núi với Kapitan Mikhalis để chứng tỏ với vị Kapitan này rằng anh ta thực sự cũng là một người đàn ông dũng cảm, đừng nên coi thường anh ta như câu nói mà Capétan Michelis đã nói với anh lần mà ông trao phó thông điệp của ông cho anh mang về đưa Métroplolis : " Chúc anh an lành, Ventouros, Vĩnh biệt anh, anh sẽ không quay trở lại đây nữa. Ta không có một chút ảo vọng nào với anh vì giản dị anh là Ventouros nên anh sẽ xử sự như Ventouros ".

Càng nhớ tới câu nói của Kapitan Mikhalis thì Ventouros lại càng quay qủa, bứt rứt , tức tối, như trong người anh đang có mấy trăm con qủy nghiền xé anh. Nhiều lúc quá đỗi tức tối, Ventouros đã định tức tốc quay trở lên núi để chứng tỏ rằng "Con Lợn Rừng Mikhalis" lần này ông ta đã sai lầm khi đáng giá người khác nhưng chỉ một tích tắc sau, đầu óc Ventouros lại hướng về người vợ, hai đứa con gái , cái quán rượu của anh, và anh lại thay đổi ngay thái độ.

Khi nhận ra Kapitan Polyxinguis đang đứng trên ngưỡng cửa cửa hàng của ông ta, lập tức Ventouros dừng lại. " Đó, anh tự nhủ, một trong những vị Kapitan lừng danh nhất, ấy thế mà ông ta cũng còn chiụ bó tay quay trở về mở cửa hàng. Ông ta đã phải nhẫn nhục, vì lý do gì? Phải chăng là vì quyền lợi của Crète. Thế còn mình, chính mình, Ventouros con gà nuốt dây thung ơi , mi lại muốn làm anh hùng hả ?. Bỏ đi tám! đừng nên nghĩ là nhục nhã, đừng nghĩ là mình hèn. Cầm súng chiến đấu đã là một chuyện khó nhưng khó hơn nữa là phải buông súng xuống lúc vị chỉ huy của mình ra lệnh!" . Ventouros rất hài lòng khi trông thấy Kapitan Polyxinguis đứng ở cửa hàng của ông ta. " Mình tới tán gẫu vài câu với ông ấy, Ventouros nghĩ, có thể nhờ vậy mà mình sẽ có can đảm hơn để quyết định. Mình có con có cái, mình không thể buông xuôi nhắm mắt chết được.". Nghĩ vậy, Ventouros tiến lại gần.

- Chào ông, Kapitan , Ventouros lên tiếng chào. Tôi từ trên núi xuống. Ông có lời chào của ...

- Cút đi! Kapitan Polyxinguis vừa gầm gừ vừa dơ tay lên như hăm dọa. Cái nhìn của Ventouros đã làm ông ta nhột và tự cảm thấy xấu hổ.

Khi vừa nghe câu nói của Kapitan Polyxinguis , Ventouros nổi nóng. Như vậy là cái ông Kapitan đẹp trai này cũng coi thường mình à ! Đã thế mình phải cho ông ấy biết tay mới được :

- Tôi sẽ trở lên núi, tôi không thể bỏ rơi hàng ngũ anh em được. Nếu ông có gì muốn nhắn ...

Thực ra thì Ventouros chưa quyết định gì mà anh chỉ muốn chọc tức người đối diện anh để trả thù thôi.

- Mày trở lên núi , mày, Ventouros? Kapitan Polyxinguis vừa đáp lại vừa sặc sụa cười khinh rẻ. Muốn trở lên núi mày cần phải có thêm một tý can đảm nữa mới được.

- Lẽ tất nhiên, can đảm, Kapitan, tôi biết điều đó mà, sự tự ái thường thường làm cho người ta trở nên quái dị đấy ông ạ,. Dứt câu nói móc, không đợi cho Kapitan Polyxinguis kịp phản ứng lại, Ventouros đã chuồn thật nhanh.

Đột nhiên Ventouros quyết định, Ventouros đâu có đầu hàng lúc nào đâu , anh đâu có làm gì để làm các vị Kapitan Mikhalis, Polyxinguis phải xấu hổ ! Nếu thượng đế thực sự hiện hữu thì xin ngài hãy phù trợ để anh lo liệu cho gia đình anh , cưới gả cho hai đứa con gái ...

Thật nhẹ nhõm, Ventouros không đi mà anh ta đang bay. Bước thật nhanh vào nhà thờ thánh Minas, Ventouros thắp một ngọn đèn cầy. Nơi chính điện thật vắng vẻ, nóng ấm, đầy hương thơm. Thánh Minas trong bộ trang phục mạ vàng từ đầu tới chân, khuôn mặt héo nắng,, ngồi trên lưng ngựa, như cười với anh . Ventouros có cảm tưởng là vị thánh đang ban phép lành cho anh." Chúc anh may mắn,Ventouros, hình như câu nói của Thánh Minas nói với anh, anh đã chọn đúng con đường cần phải đi, hãy an tâm, ta sẽ phù trợ cho vợ, con anh, ta sẽ tìm được hai anh chàng rể tốt cho hai đứa con gái anh. Chúc anh nhiều may mắn, Kapitan Ventouros!"

Ventouros làm dấu thánh, hài lòng rời khỏi nhà thờ. Nhưng hình như văng vẳng đâu đây có tiếng người nói; Ventouros ngẩng đầu lên và trông thấy ở phía bên trong cửa sổ toà nhà Tổng Giám mục cư ngụ một khuôn mặt phì nộn lông lá lởm chởm: mặt của thằng lùn Harilaos. Ventouros tự hỏi : Thằng lùn, thằng cho vay cắt cổ, thằng lợi dụng thừa nước đục thả câu này đang giở trò trống gì trong nhà giám mục nhỉ ? Nhưng Ventouros làm sao hiểu cho được ý đồ của vị Tổng Giám Mục !

Vị Tổng Giám mục đã mời tên lùn này tới ăn trưa . Hai người đã ăn xong và bây giờ thì cả hai đang uống cà phê. Người chủ nhà có hậu ý khi mời Harilaos đến ăn với ông : Những tín đồ Thiên Chúa giáo chạy tỵ nạn chiến tranh ở Athènes và ở vùng Pirée đang quay trở về Candie nhưng nhà cửa của họ đã bị hủy hoại nặng nề. Bọn Thổ phá bàn ghế, tủ ỷ ... đốt trụi hết. Nhiều ngôi nhà chỉ còn lại chỏng chơ bốn bức tường nám đen . Tổng Giám Mục mời Harilaos, chủ ngân hàng, tới ăn cơm trưa với dụng ý sẽ được hắn chấp nhận cho những tín đồ của ông được mượn tiền, với mức lời thấp, để họ tạo dựng lại cơ ngơi. Tên lùn này đã làm giầu nhờ vào những cuộc đao binh xẩy ra trước đây. Hắn thông đồng với các viên tổng trấn Thổ và đã mua lại được rất nhiều vòng vàng, nhẫn bạc, đá qúy, tiền cổ của những người Thiên Chúa trong cơn khó khăn túng thiếu phải bán lại .

Vừa uống cà phê, Tổng Giám mục vừa đề cập vấn đề một cách gián tiếp, trước hết là xa rồi sau đó mới nói tới chuyện chính, Tổng Giám mục nói về Thượng Đế : Người ta dễ dàng để đánh mất linh hồn khi muốn dành hết tất cả phần lợi cho mình ... Tiếp đó ông đề cập một cách thật tế nhị tới chuyện thời sự : Tổ Quốc , Đất Nước. Một số công dân đã trở nên bất tử, thế giới đã vinh danh họ vì họ đã hiến thân vì Tổ Quốc. Nhưng cũng chớ quên rằng không chỉ là hiến dâng thân xác mình mà cần phải nói tới việc trợ giúp quê hương tùy theo phương tiện của mình ... tiền bạc là một ví dụ. Phương cách cống hiến này cũng mang lại cho người thực hiện trở thành bất tử với lịch sử. Về phần Thượng đế thì ngài cũng mở sổ để ghi tên bằng chữ vàng cho những người làm nghĩa cử đó, bên cạnh ngài cũng ghi chú số tiền đã được đóng góp cho người Thiên Chúa giáo.

Tên lùn qủy quyệt vừa nghe vừa bình thản nhấm nháp ly cà phê vừa hút điếu thuốc xì gà nhỏ, dõi mắt nhìn qua cửa sổ những ngôi nhà đang trong tình trạng sụp nát, xa hơn nữa, vượt trên những mái nhà, bọt sóng biển trắng xóa. Bài diễn văn của Tổng Giám mục lọt vào lỗ tai bên này của tên lùn thì chui tọt ngay ra ngoài ở lỗ tai bên kia. "Ông ta đang cố rù quyến mình đây, lão thầy tu già, vừa nghĩ Harilaos vừa thở khói thuốc ra từ hai lỗ mũi hắn, ông ta định lừa cả mình nữa, ông ta toan tính làm cạn mấy chiếc rương chứa tiền bạc của mình bằng cách gợi lòng tự ái của mình đây!. Khổ thay cho ông, ông đâu có biết là ta đã hiểu ngay từ đầu ông muốn gì khi rù quyến ta tới ăn chung với ông ấy!

Khi Tổng Giám mục dứt lời thuyết giáo, Harilaos dụi điếu thuốc vào chiếc gạt tàn bằng đồng , quay lại phiá Tổng Giám mục, đầy vẻ tôn kính. Giọng trầm trọng, giọng nói đầy nỗi thống khổ:

- Thưa Đức Cha, ngài đã nói thật thánh thiện, thất đúng ; vừa nói Harilaos vừa thở dài. Con cũng đã nghĩ tới việc đó rất nhiều lần, mỗi lần, tim con triũ nặng, con tự nhủ : "A, nếu như mình cũng là một người đàn ông giống như những người đàn ông khác ... nếu mình có thể cầm được súng để hy sinh cho Tổ Quốc hay là, nếu như Thượng Đế đã tạo ra mình một nửa như thế này, nếu như mình còn lại được tiền bạc để có thể hiến tặng tất cả và làm dịu đi được một phần nào nỗi khổ đau của những anh em đồng chủng!" Xin Thượng đế hãy thương xót con trong ngày Tận Thế! Nhưng con đã bị phá sản, con cũng như vậy, thưa Đức Cha, con đã bị mất hết, đã từ cả gần hai năm nay công việc làm ăn của con chẳng còn ra gì nữa dù rằng mọi người vẫn cứ nghĩ rằng con là người giầu có sãn tiền sẵn của để cho vay cho mượn ... Cha hãy tin con đi!. Khi một người đàn bà goá chồng hay một trẻ mồ côi mang tới cho con một chiếc nhẫn bé tý xíu, con cũng biết giá trị của nó chưa hơn được một medjidi (đồng tiền bằng bạc của người Thổ xử dụng trong những năm 1854) nhưng con vẫn cứ trao cho họ hai medjidi vì con không nỡ lòng nào mà không giúp đỡ họ cơn hoạn nạn mà họ đăng gặp phải ... Con đưa hai đồng, con đã đưa gấp hai lần số tiền cần phải đưa, con biết như vậy, nhưng con là một người đàn ông, con cũng biết đau đớn, biết thương hại kẻ khác chứ!. Con có một vườn nho, con cũng đã phải bán; con có một vườn ô - liu, con cũng phải bán đi một phần. Căn nhà con đang ở con cũng phải đi cầm... Thưa Đức Cha, có Thượng Đế trên cao chứng giám, nhiều khi con nghĩ : rồi đây con sẽ ra sao ? Những việc từ thiện con đã làm cũng làm cho con sạt nghiệp... Lúc mà Cha mời con tới ăn với Cha, trái tim con như muốn nhẩy ra khỏi lồng ngực. Con tự nhủ "Thượng đế đoái lòng thương, Thượng đế thật là công bằng, ngài tưởng thưởng cho những ai đã làm điều thiện. Đức Tổng Giám mục đã hiểu được tình thế nguy cập của con hiện nay vì Thượng đế đã tiết lộ cho Đức Giám mục biết để giúp đỡ con..." Con biết được rằng ngân quỹ của toà thị chính ta cũng đang đầy tiền, thật là may mắn biết bao !

Vị Tổng Giám mục nín lặng. "Tên chết tiệt này, ông Cha già nghĩ, thằng nửa người nửa ngợm, thằng Do Thái biển lận keo kiệt, nó aqủy quyệt hết sức..." Tổng Giám mục không còn thể nào chịu đựng nổi sự hiện diện của tên lùn này tại đây được nữa , ngài uống một hơi cạn ly cà phê và khởi sự lần từng hạt sâu chuỗi màu hổ phách của ngài với một vẻ bực dọc. Harilaos, trong thế ngồi khoanh tròn chân, nhổm người đặt hai chân của hắn từ trên phản xuống sàn nhà.

- Trời lạnh thật, Harilaos nói, mùa Đông đã đến. Làm thế nào để chống choỉ được nếu không có than để sưởi, không áo quần ấm áp, không thức ăn đầy đủ, thưa Đức Cha ? Con đã phải bán tất cả đám gà con nuôi. Thế là con hết còn được ăn trứng buổi sáng nữa! Xin Thượng đế nhủ lòng thương chúng con!

Dứt lời hắn đứng hẳn người dạy rồi cúi đầu xuống hôn trên tay Tổng Giám mục :

- Cầu xin ơn trên ban phép lành cho chúng con, thưa Đức Cha, Harilaos nói. Xin Cha cho phép con được lui chân. Con cảm thấy không được khoẻ cho lắm, con phải trở về nhà nằm nghỉ.

Những đứa trẻ tan học, lẫn lộn vào nhau reo hò nhẩy nhót. Buổi chiều hôm đó, Pet-Luop đã giữ bọn chúng lại lâu hơn thường lệ. Thời kỳ nghỉ lễ Giáng Sinh sẽ khởi sự vào ngày mai và như muốn đánh dấu ngày cuối cùng này, ông ta có đôi lời đặc biệt muốn nói với bọn chúng. Ông thấy giáo đã trở nên to lớn và khoẻ mạnh hơn trước kia. Bà vợ ông, một người nông dân, đang chờ ngày sinh đẻ , biến cố này đã đem lại một niềm vui trong ông. Ngày trước, với đám đông học trò như bây giờ là một chuyện khó khăn nhưng với ông, ông đã biết tìm được cách thức để không một đứa học trò nào dám ngỗ nghịch được nữa.

Và ông đã giữ bọn chúng lại, vào buổi tối trang nghiêm này, để cắt nghĩa cho chúng biết Chuá Hài Đồng vì sao , như thế nào đã được chào đời và tội ác của Hérode, kẻ có nét khá giống viên Tổng Trấn Thổ ở Candie , đã mưa đồ sát hại Chúa Jésus. " Nhưng Thượng Đế là đấng không bao giờ cho phép sự bất công được chiến thắng, Ngài đã can thiệp để giải cứu con của Người." Pet-Luop kể lại với bọn học trò về lịch sử của Jésus. Thời ấu thơ đấng Cứu Thế cũng là một học trò ngoan ngoãn biết tôn kính thầy và cha mẹ của Người và không bao giờ biết nói những chuyện dối trá. Và Chúa Jéssus đã bị đóng đinh như thế nào, như vậy là Hérode cũng giống hệt như viên Tổng Trấn Thổ hiện tại, cũng một chòm râu nhỏ, một cái mũ nhỏ trên đầu và mụn cóc trên mũi, "nhưng chớ có nói lại với bất kỳ người nào về chuyện này nghe các con" người thầy giáo căn dặn lũ học trò của mình, Judas cũng giống như Souleïman, tên mọi , đen thủi đen thui như cục nhựa dính, với thanh mã tấu con vòng và chiếc khăn đội đầu của hắn , "nhưng nhớ là chớ có nói lại với bất kỳ người nào về chuyện này nghe các con" Người đã bị đau đớn vô cùng, đấng Cứu Thế, Người đã bị các kẻ dữ nguyền rủa, quất roi, xé nát áo quần của Người; rồi cuối cùng, bọn chúng đặt lên đầu Người một chiếc vòng bằng gai, và, tệ hại nhất, chúng đóng đinh Người trên cây thập giá. Đảo Crète của chúng ta cũng có một số mệnh y hệt như thế, nhưng cứ yên tâm các con à, ta hứa vời các con , sẽ có một ngày Crète hồi sinh như đấng Cứu Thế đã hồi sinh. Nếu bọn ta không thể nhìn được ngày Giải Phóng của Crète, bọn người già như thầy đây, các con, tất cả các con sẽ được trông thấy, nhất định là như vậy. Chỉ duy nhất một điều, phải lưu ý, các con nhớ đừng làm những điều ngu dại trong thời gian nghỉ lễ Giáng Sinh đó nghe, hãy đọc lại bài vở đã học và nhất là nhớ học thuộc lòng hai bài hát nhỏ : " Ở đó trên nuí... Lưỡi gươm mềm mại và sắc bén của tôi ! và bài Quốc Ca.

Ventouros dừng lại để bọn học trò đi qua. Sau lưng bọn chúng, thầy giáo Pet-Luop đi tới. Ông thầy giáo không nhận ngay ra được Ventouros vì cả hai từ lâu đã không có dịp gặp nhau.

- Thầy giáo ơi, Ventouros lên tiếng, bộ ông ăn thịt cọp hay sao chớ? Bây giờ trông ông mập mạp , có da có thịt hơn ngày trước...! Tôi mới từ trên núi xuống, Ventouros hãnh diện nói tiếp. Ông có gì cần phải nhắn với anh của ông, Kapitan Mikhalis , không ?

Pet-Loup cảm động, đưa siết chặt tay Ventouros:

- Ventouros, anh là một người dũng cảm. Xin lỗi nhé, tôi không nhận được ra anh kể từ ...

- Trước kia không bao giờ tôi là một kẻ dũng cảm đâu Giáo sư ơi, nhưng như ông cũng biết đấy, tôi đã trở thành kẻ dũng cảm. Người ta bị lé mắt khi giao tiếp thường xuyên với những người mù. Tôi dũng cảm là nhờ Kapitan Mikhalis.

- Nói lại với ông ấy là tôi thực hiện nhiệm vụ của tôi, tôi cũng thế. Tôi có trách nhiệm về một đám nhi đồng , mầm non của Crète ta. Tôi cố gắng khơi dậy, nung nấu ngọn lửa Crète trong người chúng. Ngọn lửa càng bền bỉ, càng mạnh mẽ bao nhiêu càng tốt cho tương lai bấy nhiêu. Nói lại với ông ấy như thế. Và nếu tôi phải rời núi vì trong tôi đã có chắc một niềm tin, tôi tin chắc rằng Crète của chúng ta sẽ thắng. Nhắn lại với ông ấy là ông ấy cũng nên trở lại.

- Cứ yên tâm, tôi sẽ nói lại với Kapitan Mikhalis, nhưng chúng tôi vẫn sẽ ở trên cao đó. Thôi tạm biệt Giáo sư!.

- Thôi chúc anh nhiều may mắn, Ventouros! Pet-Loup đáp lại rồi đứng lặng nhìn Kapitan Ventouros đang quay gót, đường bệ tiến về hướng cổng Lazaret.


__________________________

... CÒN TIẾP ...


La Serénité - Troyes, 13 giờ 50 ngày 27.11.2011.
© Dịch giả giữ bản quyền.
. Lần đầu tiên đăng tải trên Newvietart.com ngày 05.12.2011.
. Tất cả các bản sao chép lại không ghi rõ nguồn Newvietart.com
là những bản xử dụng thiếu văn hóa, bất chính và bất hợp pháp.