CHUYỆN NGÀY XƯA



- Chào Bột Nếp.

Tôi ngớ người trước một gã đàn ông có dáng dấp khá dềnh dàng, xương bả vai như gồ cao hơn bởi hai cánh tay đang khuỳnh ra chống nạnh. Gương mặt đang nghênh nghênh với cặp kính nâu to sù choán mất đa phần diện mạo, đôi môi dày đang nhếch một nụ cười láu lỉnh, tươi tắn giữa hàng ria và lấm tấm râu cằm. Có đến mấy giây đã trôi qua mà tôi vẫn chưa nhận ra được người đã gọi đúng một “tiểu danh” rất đặc biệt, mà ngay chính tôi cũng không còn nhớ nữa. Đôi môi vẫn giữ nguyên nụ cười, nhưng một cánh tay thì rời khung xương hông đưa lên mắt gỡ cặp kính xuống. Một gương mặt cứng cáp, đầy vẻ phong trần hiện ra trước mắt tôi, vừa như rất lạ, lại vừa như rất quen. Linh giác tôi động đậy, một cái gì đó đang nhắc nhớ, nhắc nhớ về một thuở rất xa. Tôi vẫn không rời ánh mắt khỏi gương mặt ấy từ khi giật mình nghe câu chào. Đôi mắt kia đang nhấp nháy, cái nhấp nháy của sự thúc giục “nào nhận ra nhau đi chứ”. Một ánh mắt quen, rất quen. Tôi bỗng bật ra một tiếng gọi từ vô thức :

- Guốc Rách.

Một tràng cười bật ra ha hả, bật ra như vỡ oà một niềm mong đợi. Gã đàn ông có cái “tục danh” mà tôi vừa thốt ra ấy đang rất vui sướng. Gã vẫn cười, cái cười hết sức sảng khoái ấy đã làm vợi bớt nét phong trần, từng trải. Tôi cũng cười, cuời không thua gì tiếng cười kia, cùng với tiếng cười là bốn bàn tay chụp vào nhau lắc giật, lắc giật, nếu không vì sự tế nhị của giới tính thì chắc đã là một động thái đầy cảm xúc hơn nữa rồi. Quả tình, nếu không có hai biệt danh độc nhất vô nhị nhưng lại đong đầy kỷ niệm ấy thì chắc chúng tôi đã không nhận ra nhau. Thoắt một cái, cả hai chúng tôi vụt quay nguợc về hơn hai mươi năm :

- Ê Bột Nếp, còn bánh ế không ?

- Hết rồi. Trả tiền hôm qua đi chứ, Guốc Rách.

Không bảo nhau mà ký ức vừa sống lại ấy khiến tôi đỏ hoe rân rấn mi mắt, và gương mặt trung niên đầy đặn kia cũng mần lên nỗi xúc động. Chúng tôi lặng đi trong hơi ấm của bốn bàn tay siết chặt, trong nôn nao ký ức của một thời niên thiếu nhọc nhằn.

Cả hai chúng tôi đều là những đứa trẻ thiếu may mắn, những đứa trẻ chưa có cơ hội được ngửi mùi giấy mực, thì đã phải lăn lóc trên những vỉa hè xó chợ, đã phải dấn thân vào những lấm láp để kiếm miếng ăn khi tuổi đời còn quá hồn nhiên trong trẻo. Cho dù sự trong trẻo ấy đã sớm nhuốm bụi bặm tháng ngày thì nó vẫn có một cái gì thật đáng yêu và đáng nhớ. Nguyên nhân thứ nhất của sự nghèo đói là cảnh nhà đông con mà lại thiếu điều kiện để sinh sống. Tôi sinh ra trong một gia đình như thế. Cha mẹ tôi gần như suốt đời cúi mặt làm thuê, bởi ngoài một xép nhà lụp xụp làm chỗ chui ra chui vào thì chẳng có thêm một tấc đất nào trong tay, và cũng không có một cái thứ nghề nghiệp gì khả dĩ cho ngày hai bữa. Cha mẹ tôi cứ lụi hụi được tí tiền nào là trút cả vào cái ăn cái mặc cho một bầy lau nhau. Thế nên cứ sáng ra là dúm một nắm đi đến tối sẫm mới về. Ở nhà lóc nhóc đứa lớn trông đứa bé. Đứa nào có chút sức vóc thì phải có nhiệm vụ tìm cho được thứ gì để góp vào bữa ăn gia đình. Thôi thì đủ các loại việc, chăn trâu chăn bò, bắt cua mò tép, mót lúa đào măng…nữa thì đi nhặt nhạnh những phế phẩm của người ta bỏ đi đem về dùng. Như một bầy ếch nhái sáng toé ra, tối cụm vào. Thế rồi cũng đến lượt tôi bước vào cái quy trình đời sống đó. Tô còn nhớ rất rõ việc đầu tiên trong công cuộc mưu sinh của tôi là …đào trộm khoai.

Hôm ấy, sau câu lệnh ngắn ngủi của cha “Đi đi, chiều phải mang được một thứ gì về.” Mấy củ khoai luộc mà mẹ tôi dúm cho là tất cả gia tài tôi có. Lớn lên, tôi nghe người ta nói nhiều đến câu “trời sinh voi sinh cỏ”, thì hiểu rằng đó là khả năng tồn tại mà mỗi con người phải có khi đã được sinh ra. Chứ nếu hiểu theo nghĩa đơn thuần là cuộc sống sắp đặt sẵn cho sự tồn tại thì ắt sẽ trách móc rằng “trời sinh quá nhiều voi, nhưng thật ít cỏ”. Và ngay cái ngày đầu tiên tôi bước chân vào đời đã phải chạm trán ngay với lẽ nhiều voi ít cỏ này. Quý vị thử tưởng tượng xem, môt con bé tám tuổi, lơ ngơ lác ngác bên vệ đường với nỗi sợ hãi giữa bao điều lạ lẫm, với sự ngờ nghệch của một tâm hồn non nớt lần đầu tiên trong đời học cách lo toan miếng sống. Không dám mở miệng xin ăn, không dám thò tay lấy cắp, không đủ tự tin để hỏi xin một việc làm vừa với sức mình. Sức vóc nhỏn nhoi bằng cái nắm tay, ai mà thuê mướn cho dù với một công việc nhẹ nhàng nhất. Mấy củ khoai lang không chờ nổi đến trưa, chúng nhanh chóng tan biến trong cái dạ dày vốn không có đáy. Nỗi sợ hãi, ngại ngùng đã không chế tôi cho đến tận chiều sẫm, càng lo sợ hơn khi trong tay không có một thứ gì gọi là kiếm được. Mà lệ nhà tôi rất ngặt, đứa nào mà ngày đầu tiên đã đem về được một thứ gì thì khẩu phần ăn sẽ được tăng thêm, nếu không thì phải chịu nhịn đói. Có lẽ đó là cách mà cha mẹ tôi đẩy các con vào đời, xem ra cũng khá hiệu quả, vì đói thì ai mà chả sợ. Khi không còn một tí hy vọng gì, tôi thẫn thờ lê bước về nhà, với cái bụng lép kẹp mà khả năng sẽ kéo dài đến sáng hôm sau. Ngang qua một vạt khoai, tôi ứa nước miếng khi hình dung đến miếng khoai sống giòn ngọt ấc nước, lại thêm cái đói thôi thúc, tôi nảy ra ý định táo bạo. Nhìn nhanh sau trước, con đường vắng vẻ trong bầu không gian tối sẫm, nếu có bóng người, thì họ cũng vội vã những bước chân. Tôi lủi nhanh xuống vạt khoai, hai bàn tay nhỏ bé lập bập bươi móc, được một củ be bé, tôi chùi nhanh đất rồi cho vào mồm ngấu nghiến. Rau ráu…rau ráu, ngon, phải nói là rất ngon (bây giờ nhớ lại, tôi vẫn còn cảm giác được cái ngon ấy), đỡ đói và cũng bớt sợ, tuy đôi mắt vẫn láo liên nhìn lên con đường, hai tay tôi bới nhan hơn, được thêm mấy củ nhinh nhỉnh nữa, thì tôi gật thót mình khi một chú chó nhép từ đâu nhảy xổ ra sủa ong óng. Tôi hết hồn bụm vội mấy củ khoai rồi ù té chạy, không biết lúc ấy sức lực ở đâu ra mà tôi chạy được nhanh thế, chỉ biết khi vè gần đến nhà, biết mình đã thoát, tôi ngồi sụp xuống gốc chuối, nghỉ cho đỡ mệt rồi mới bước vào với một cơ thể rã rời và gương mặt tái xanh. Nhìn qua thấn sắc và hai bàn tay nhấm nhem đất với mấy củ khoai, cha mẹ tôi đã hiểu rõ nguồn cơn. Cha tôi không nói gì, chỉ lặng lẽ thở ra khói thuốc, mẹ tôi đưa cho tôi một bát nước rau luộc, tôi uống một hơi rồi ra rửa chân tay. Bữa tối ấy, khẩu phần ăn của tôi vẫn như mọi ngày. Ăn xong, tôi lăn ra ngủ ngay lập tức, cái cơ thể bé bỏng của tôi chỉ chờ có thế. Cho đến tận sáng hôm sau mẹ tôi lay gọi mãi tôi mới dậy nổi. Lũ ếch nhái nhà tôi đang chuẩn bị túa ra, mẹ tôi lại gói cho tôi mấy của khoai, thêm một quả chuối. Ánh mắt mẹ buồn buồn nghiêm nghị:

- Con không được ăn cắp của ai cái gì nhé.

Một chút nhận thức giúp tôi hiểu ăn cắp là xấu. Con người ta thường dễ trưởng thành trong nghịch cảnh và thử thách. Ngày thứ hai đã khác hẳn, mọi sự trở nên tốt hơn nhiều, tôi tìm ngay được một việc phù hợp, tìm nhặt những mẩu rau củ thừa ở một cái chợ không xa nhà là mấy. Tuy không nhiều nhặn gì, nhưng cũng đã góp được công sức của mình vào bữa ăn gia đình một cách chính đáng. Nếu hỏi rằng “Bạn sẽ có những bước đi thế nào trên hành trình cuộc sống ?” Tôi dám chắc một trăm phần trăm không ai có thể trả lời một cách chính xác. Bởi mỗi một con người khi hé mắt vào đời, dường như đã có sẵn một lối đi cho riêng mình. Những lối đi ấy cũng năm cua bảy quẹo, cũng lắm sông sâu, lắm nẻo gập ghềnh. Và cứ mỗi khúc đoạn thì lại có một mũi tên chỉ đường. Và người ta cứ thế mà đi tới đi tới. Vào một ngày, tôi đang cắm cúi nhặt những mẩu khoai tây, su hào, cà rốt dưới gầm một sạp hàng thì thấy có một tờ tiền rơi xuống bên cạnh. Nhìn lên, tôi thấy một chị bán bánh nếp đang móc tiền ra trả lại tiền thừa cho khách đánh rơi. Tôi nhặt lên và gọi :

- Chị ơi ! Tiền của chị rơi này.

Chị ấy cầm lại tiền và rối rít khen tôi. Trò chuyện làm quen, thế rồi chị dắt tôi đến nơi làm bánh, bảo lãnh cho tôi lấy bánh đi bán. Tôi bắt đầu kiếm ra tiền nhờ vào công việc này, và cũng từ những chiêc bánh bột nếp mà tôi gặp “hắn”. Một chiều muộn, trên khay bánh của tôi còn ế một ít, tôi đang cố chào mời để bán cho hết thì một gã trai xuất hiện :

- Bao nhiêu một cái ? Miệng gã hỏi thì tay gã bốc, bóc lá cho luôn vào miệng. Tôi hốt hoảng :

- Sao chưa trả tiền đã ăn rồi ? Trả tiền đây.

- Không có tiền, bán thiếu được không ?

Cũng như lần trước, gã lại bốc cái nữa, bóc lá cho vào miệng. Tôi vừa tức vừa sợ, thấy gã lớn hơn mình, không làm sao được nên ngồi phịch xuống đất oà ra khóc. Gã trai nuốt xong cái bánh thứ hai, thấy tôi khóc thì tần ngần:

- Đừng khóc nữa, mai trả thật mà. Ngày nào ấy cũng bán ở đây chứ?

Tôi không trả lời, cứ ngồi khóc, vì biết thế là mất toi hai cái bánh. Người người qua lại, chả ai để ý đến chuyện hai dứa trẻ. Dỗ dành tôi một lúc không được, gã bỏ đi. Bất lực, tôi nhếch nhải gom chỗ bánh ế đem về trả cho chủ bánh. Hôm ấy tôi thút thít đến đêm, vì không có tiền lời mang về, vì tức và cả vì sợ. Hôm sau đi bán, tôi cứ ngó ngược ngó xuôi, mặt la mày lét, nửa mong gã đến trả tiền, nửa sợ gã đến lấy mất bánh nữa. Rồi cũng vào lúc chiều muộn, gã xuất hiện. Tôi vội vàng ôm khay bánh vào lòng, miệng thét :

- Trả tiền đây.

Gã cười và giơ ra mấy tờ tiền.

- Trả tiền hôm qua nè, bán cho mấy cái nữa luôn đi.

Tôi ngơ ngẩn, cầm tiền vào tay, chìa khay bánh cho hắn lấy mà vẫn còn run, nhưng miệng thì đã nhoẻn cười. Từ đó, gã trở thành khách hàng quen thuộc của tôi, cứ mỗi chiều có bánh ế, tôi lại mong gã đến. Bánh bột nếp có nhân đậu xanh hoặc xác dừa, dễ ăn lại rẻ nên gã mặc nhiên coi như bữa tối. Ngày ấy tôi độ mười hai mười ba tuổi, gã nhỉnh hơn tôi vài tuổi, lứa tuổi thuần là trẻ con. Một thời gian mua mua bán bán trôi qua, một hôm gã hỏi :

- Ấy tên gì vậy ? Cứ gọi ấy ấy hoài, kỳ quá.

Tôi lém lỉnh :

- Tên là Bột Nếp.

- Sao lại tên là Bột Nếp ?

- Thì bán bánh Bột Nếp, người ta cứ gọi Bột Nếp ơi, quen rồi.

- Còn tên ấy là gì ?

Nghe tôi hỏi, gã gãi đầu gãi tai, tôi đưa mắt nhìn từ đầu đến chân gã, nhìn thấy đôi guốc gã đang mang bị rách tưa lớp da. Tôi buộc miệng :

- Guốc rách kìa.

Gã cùng nhìn xuống chân, rồi bỗng bật cười ngặt nghẽo :

- Thôi, gọi tên mình là Guốc Rách cũng được. Nghe hay không ?

Tôi cũng bật cười. Thế là thành tên. Hai cái tên vừa ngộ nghĩnh, khôi hài, vừa mang dáng dấp của một đoạn đời.

Khác tôi, Guốc Rách không có cha mẹ, hay nói đúng hơn, không biết cha mẹ mình là ai. Mới được vài ngày tuổi đã bị đem bỏ ở một cổng chùa. Sư ông chùa ây đã lớn tuổi, lại là người đức độ bấy lâu, nên không mắc nỗi hàm oan Thị Kính. Nhờ cháo sữa của bà con quanh đó, đứa trẻ lạc loài cũng lớn dần lên. Không chịu đựng sự trầm mặc, khuôn khổ tu tịnh của chùa, Guốc Rách thường trốn chùa ra ngoài đi xin ăn. Biết đứa trẻ không có căn duyên, nên Sư ông cũng không ép buộc chuyện kinh kệ, chỉ ân cần dạy bảo những gì có thể. Năm lên mười thì Guốc Rách phải chịu tang Sư ông, một Sư thầy trẻ khác về thay, thế là Guốc Rách lặng lẽ bỏ đi. Lang thang với đủ cách thức để tồn tại, nhưng tuyệt nhiên không ăn cắp bất kỳ thứ gì của ai. Đó là nhờ sự giáo dục của Sư ông. Hôm ăn giật bánh của tôi, là Guốc Rách đang phụ bán hủ tiếu mì, ngày ngày bưng bê và thu dọn tô chén, cùng với hai thanh tre gõ lóc cóc thay tiếng rao. khi bê hủ tiếu cho người ta, nóng quá làm đổ, bị phạt không được ăn, đói quá, thấy tôi bé hơn thì làm liều, bắt nạt. Sau đó một thời gian thì Guốc Rách cũng thôi phụ bán, mà quay ra làm bốc vác ở khu chợ. Được cái có chút sức vóc hơn tuổi, lại chẳng nề hà nên có việc gì lớn nhỏ người ta cũng kêu. Ban ngày lặt vặt cũng đủ lo cho cái dạ dày, tối đến thì quay lơ đại trên một sạp quán nào đó đánh một giấc. Vẫn thường xuyên là khách hàng bánh ế cho tôi, hôm nào có tiền trả ngay, hôm nào không có thì cho thiếu. Lật bật, tôi nhấp nhỉnh thành cô thiếu nữ, gã cũng tập tò thành một chàng trai. Bỗng một ngày, gã biến mất, mang theo một món tiền không lớn mà cũng không nhỏ của tôi.

Con nước thời gian xuôi dòng, bao chật vật lo toan, gian nan, mơ mộng trông chờ cũng xuôi theo. Từng trang ký ức gấp vào quên lãng, khi thực tế khắc nghiệt luôn buộc con người phải đương đầu với nó, và khi đã đặt chân lên trục chuyển động thì con người không được phép dừng lại. Dù vui buồn, thiếu đủ gi thì lũ ếch nhái nhà tôi cũng lục tục lớn lên, cũng lần lượt rời khỏi cái hốc mà kế tiếp vòng đời. Đến thuở đến thì, tôi cũng trở thành một phụ nữ trong vai trò làm vợ làm mẹ. Đã quá thấm thía cái cảnh nhôi nhai, lếch thếch bữa no bữa đói của chuyện đông con nhiều cháu, của ngược xuôi tất tả gánh gồng, không thể truyền lại cái ách đói nghèo cho con cháu, nên sau khi sinh được hai con, lại vừa hay một trai một gái, tôi triệt sản. Nhà cửa bắt đầu khấm khá dần, một tương lai tươi sáng cho con tôi khi việc học hành của chúng được chăm sóc chu đáo. Con gái tôi nhiều năm liền là học sinh giỏi. Những bất ngờ không bao giờ hẹn trước. Trong khi chờ đón con trước cổng trường thì tôi gặp lại cố nhân ngày nào.

Quán cà phê nho nhỏ vang nhè nhẹ một điệu nhạc trầm sâu lắng. Chúng tôi ngồi đối diện nhau, nhìn nhau mà vẫn chưa tin có một điều kỳ diệu đã xảy ra như thế. Theo tháng năm, những dáng nét tuổi thơ đã thay đổi đi nhiều, nhưng vẫn còn phảng phất những khuôn hình xưa cũ. Càng nhìn nhau, càng thấy rõ những gì từ năm tháng xa xưa hiện về. Chúng tôi chẳng khác một đôi tình nhân hội ngộ, cảm xúc cứ ngập tràn, mãi tôi mới hỏi được:

- Làm sao nhận ra được Bột Nếp ?

- Nốt ruồi dưới thuỳ châu tai trái, và ánh nhìn xôn xao trong mắt.

Tôi nhướng mày ngạc nhiên, Guốc Rách cười giải thích thêm :

- Lúc mới chạm phải ánh mắt, tôi đã linh cảm đúng là người mìn cần tìm, nhìn vào tai trái thì…đúng rồi.

Tôi bàng hoàng :

- Bấy nhiêu năm rồi còn nhớ kỹ vậy sao ?

Giọng người đàn ông trung niên bỗng trầm hẳn lại :

- Con người ta thường có những quãng đời không thể nào quên, và trong quãng đời ấy có hình ảnh nào khắc ghi thì nỗi nhớ lại càng sâu. Không hiểu sao mỗi khi nhớ về thời niên thiếu của mình, thì trong ký ức tôi luôn hiện lên hình ảnh một cô bé khóc một cách bất lực trước khay bánh. Khi đã trưởng thành, tôi hiểu đó là những giọt nước mắt cay cực của một lứa tuổi, của một cảnh đời.

Tôi xúc động :

- Thôi anh ạ, mọi chuyện cũng qua rồi, ta gợi lại cũng chẳng vui gì. Anh kể cho tôi nghe đi, vì sao ngày đó anh đột ngột mất tăm thế ?

- Với một món nợ nữa chứ.

Guốc Rách cười nhẹ khi nhắc lại, gương mặt anh chợt ánh lên một nét hồi tưởng :

- Hôm ấy tôi bị công an bắt, bắt lầm thôi. Có một tên móc túi chạy ngang tôi ném cái bóp để phi tang, tôi vừa nhặt lên mở ra xem thi mấy anh công an ập đến, chẳng thanh minh thế nào được, vả lại cái bộ dạng mình lúc ấy…Cũng may là tôi chưa đủ tuổi thành niên, nên được đưa vào trường giáo dưỡng. Không có tội mà bị bắt thì rất ức, nhưg khi vào đấy rồi, được sự chăm sóc, giáo dục của các cô chú, được học chữ, học nghề, tôi hiểu ra được nhiều điều. Trong đó, điều quan trọng nhất là tình thương. Nói thật, trong đời tôi, ngoài vị Sư Thầy đã cưu mang, thì tôi chỉ nhận được tình cảm từ những thấy cô trong trưòng giáo duỡng ấy. Sau một thời gian, thấy tôi chăm chỉ học và làm, không có biểu hiện hư hỏng gì, các cô chú đã rất quan tâm tạo điều kiện cho tôi trở lại cuộc sống tự do. Được sự giới thiệu của các cô chú, tôi về phụ việc trong một xưởng mộc. Tôi làm ở đó không lâu, vì bản tính hiếu động, không hợp với một công việc cần mẫn, cặm cụi. Có anh bạn rủ theo tàu đánh cá, tôi nhận lời ngay. Làm trai mà được thử sức, vẫy vùng nơi sóng to gió cả mới thấy mình thực sự trưởng thành.

Ngừng một chút, nhấp một ngụm cà phê, Guốc Rách chợt mỉm cười :

- Cuộc đời thật lạ, có những lúc không mơ mà được, không tưởng mà thành. Tôi đã có một điều như thế, bước ngoặt cuộc đời đến với tôi từ một giấc ngủ quên…

- Một giấc ngủ quên ?

Tôi ngạc nhiên gặp lại, anh gật đầu :

- Quả thật con người ta thật sự có cái gọi là số mạng, có những đẩy đưa không thuộc quyền chủ động của mình. Tôi gọi đó là bước chân của định mệnh. Hôm đó, tàu về bến, sau bao công việc và ăn uống no say, mệt nhoài, tôi về tàu để tìm chỗ đánh một giấc. Chẳng ngờ, tôi lại xuống nhầm tàu, và con tàu ấy đang chuẩn bị cho một cuộc vượt biên. Mãi đến khi tàu ra ngoài hải phận, người ta mới phát hiện ra tôi, không còn cách nào khác là cho tôi đi theo. Năm đó tôi hai mươi ba tuổi, tôi hiểu cơ hội tốt không dễ đến hai lần, nhưng trước mắt thì bao nhiêu là khó khăn. Từ ngôn ngữ giao tiếp, thói quen sinh hoạt, trong tay lại không có một thứ gì để làm vốn. Ngay từ phút đầu tiên ở trại tị nạn, tôi đã phải đối mặt với những thách thức, một cuộc sống hoàn toàn khác chỉ trông chờ vào chính bản thân mình. Và khi đã dấn thân, thì sớm muộn gì cũng tìm ra cách thích ứng cho sự tồn tại.

Ngừng một chút, Guốc Rách nhìn tôi, ánh nhin đầy cảm xúc :

- Thế mà đã hơn hai mươi năm rồi nhỉ ?

Tôi gật đầu xác nhận. Hơn hai mươi năm, một con số thời gian đáng kể, đủ để đổi thay cả một cuộc đời. Nếu không nghe chính anh kể, thật khó mà tưởng tượng ra được. Chẳng ai biết trước được ngày mai của mình. Hanh thông hoạn lộ hay rủi ro trúc trắc, phần lớn đều tuỳ thuộc vào cái gọi là vận mệnh, có thể sắp xếp định liệu, nhưng khó mà khớp với diễn biến của thực tế.

- Vậy từ đó giờ anh về Việt Nam mấy lần rồi ?

- Đây là lần đầu tiên. Tôi về đây để xây dựng một đề án.

- Một kế hoạch đầu tư kinh tế lâu dài à ?

- Lâu dài thì có nhưng kinh tế thì không hẳn. Tôi muốn xây dựng một ngôi truờng gọi là “Trường Gia Đình”.

- Trường Gia Đình. Nghe lạ quá.

- Những ngày ở trong trường giáo dưỡng, tôi thấy có rất nhiều cảnh ngộ đáng thương. Có nhiều em đang còn trong độ tuổi rất thơ ngây mà đã thành tội phạm. Các em phạm tội một cách hồn nhiên vì chưa thể phân biệt được thế nào là tốt xấu. Tất cả chỉ vì thiếu một điều quan trọng. Đó là “Tình thương”. Có quá nhiều lý do để bức các em ra khỏi vòng tay gia đình. Vì thế mà các em không được hưởng sự yêu thương và những giáo dục căn bản trong những bước đầu tiên học làm người. Tôi nghĩ mình còn may mắn vì đã đuợc sự nuôi dạy của Sư Thầy ngày ấy. Nhiều lúc, nhìn những người lớn tuổi xung quanh tôi, tôi tự hỏi “Có khi nào trong số đó là cha tôi, mẹ tôi không ? Và những người là cha mẹ tôi có biết tôi vẫn tồn tại trên cõi đời này, tự lớn lên như một loài cỏ dại ?” Tôi nghĩ. Trường Gia Đình sẽ có vài điểm giống như trường Giáo dưỡng, nhưng là một ngôi trường tập trung các trẻ em lang thang, giáo dục các em ngày từ đầu, đừng để các em phạm tội rồi mới dạy dỗ. Những người thầy người cô nơi ấy thực sự là những người cha người mẹ, cho các em tình thương, sự ấm áp và tin cậy. Bởi tình thương là nền tảng của đạo đức. Hãy chăm sóc và rèn giũa cho các em những điều cần thiết cho sự hình thành nhân cách. Nếu làm được thế, không những giảm thiểu cho xã hội phần nhiều những mầm tai họa, mà còn tạo nên một chữ “Người” đúng nghĩa.

Tôi ngây người nghe anh nói, những suy tư chỉ có thể nảy ra từ những đoạn trường.

- Không ngờ anh lại có một ý tưởng độc đáo và thiết thực đến thế.

- Có gì đâu, khi chính bản thân mình là một thực nghiệm. Những va đập ngược đãi chỉ đẩy con người vào trạng thái hằn học, thù địch. Họ sẽ mất dần niềm tin và lòng yêu thương với đồng loại, để rồi khi bị đồn ép, họ sẽ không còn giữ được lương tri, nhân tính nữa, khi đó là một hiểm họa, một hệ luỵ đáng buồn đáng tiếc biết bao. Tôi muốn góp phần để tránh bớt hậu quả, và cứu vãn những tuổi đời thơ ngây.

- Tôi chắc đề xuất của anh sẽ được nhiều người ủng hộ. Anh nên tiến hành ngay đi.

- Cũng chưa chắc, vì còn tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố nữa. Mà thôi, ta tạm gác chuyện đó qua một bên. Tôi muốn nói “Niềm vui lớn nhất của tôi là gặp lại Bột Nêp” Xin lỗi, cái tên ấy bây giờ…

- Không sao anh ạ. Tôi rất vui khi nghe anh gọi lại cái tên đó.

- Tôi cũng vậy, tôi rất xúc động khi nghe lại cái tên Guốc Rách.

- Con người ta xấu tốt không ở cái tên, huống nữa là cái tên đã ghi dấu một thời niên thiếu của chúng ta, đã lưu giữ những hình ảnh kỷ niệm không thể nào quên. Điều đó đáng trân trọng lắm chứ.

Guốc Rách gật đầu, anh định nói thì đột ngột tiếng trống trường vang lên. Tôi sực nhớ :

- Cháu nó tan trường rồi, tôi sang đón cháu đây. Anh ở khách sạn nào ?

- Tôi muốn đến thăm nhà Bột Nếp, nói thật, tôi thèm ăn bánh bột nếp ấy lắm.

- Được rồi, được rồi, tôi sẽ làm cho anh ăn. Bây giờ thì không phải ăn thiếu nữa rồi, phải không anh Guốc Rách ?

Một tràng cười ha hả theo hai chúng tôi bước ra đường trong cái nắng ban trưa.

© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả gởi từ Ban Mê Thuột ngày 23.11.2011.
. Trích đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com.