NGƯỜI MANG GÁNH KHỔ


Chiều nay gió heo may lại về, hơi nước chung quanh nhà đưa lên phả vào người làm chị gây gây lạnh, tư bề là sông rạch, vào mùa này nước có màu vàng đục, cây cầu khỉ bắc qua con lạch để vào nhà có vẻ yếu, mổi khi có ai đó muốn đi qua đi lại là phải dò dẫm từng bước và như chỉ chờ có vậy; nó lại nhún nhẩy đong đưa.

Chị vào nhà lấy cái gương soi rồi ra sau hè ngồi để nhìn mặt mình trong đó. Cái gương không biết nói nhưng nó biết phản chiếu lại từng nét trên khuôn mặt để người ta biết mình đẹp hay xấu. Mà chị đẹp thật; với một khuôn mặt hình trái soan, đôi lông mày lá liểu nằm trên hai con mắt bồ câu đen lay láy được che bởi hàng mi rậm dài cong vút, chỉ có cái miệng là không được đẹp cho lắm tuy rằng nó có màu hồng như thoa son; ấy là vì miệng chị hơi rộng và đôi môi hơi dày, nhưng đâu phải ai cũng có được một vẻ đẹp hoàn hảo kia chứ.

Tuần sau là chị đi lấy chồng, không biết cuộc đời làm vợ của chị nó sẽ ra sao? Sung sướng hạnh phúc hay đau buồn khổ cực? Thân gái mười hai bến nước, trong nhờ đục chịu. Người mà chị sẽ lấy làm chồng không phải là người đang ở trong lòng chị, mà do cha má chị đồng ý gã và chị phải vâng theo, còn trong trái tim chị thì đang ấp ủ hình bóng của thầy giáo lớp năm trường làng. Nhớ mùa khai trường năm ngoái chị đến xin cho đứa em út vào học lớp một, thấy chị đứng lớ ngớ trước phòng hiệu trưỡng, chính thầy đã sốt sắng nhận nộp đơn dùm chị, khi về; hai người nhìn nhau, ánh mắt giao nhau như có một luồng điện mạnh chạy qua người họ; nóng bừng và run rẩy. Thấy cho biết mình tên Nam, chị đáp lễ chị tên là Ải. Thầy nói:

- Tên nghe sao mà khổ quá.

Đúng là chị có cái tên nghe khổ thật, về nhà chị hỏi cha:

- Tía ơi, sao tía đặt tên con là Aỉ? nghe cực quá, phải chi tía đặt con tên Ái thì hay quá chừng.

Cha chị cười:

- Ừ, thì lúc làm khai sanh cho con, tía ghi là Ái, nghĩa là thương yêu, ngờ đâu cái thầy thư ký già đánh máy sao mà cái dấu “sắc” ông chọt qua dấu “hỏi”, chừng sau này coi lại tía mới ngã ngữa người…thôi, lỡ rồi…

Chị lo lắng, đêm không ngủ được vì cái tên của mình, nếu thầy giáo không nói, có lẽ chị sẽ không nghỉ tới.

Mổi ngày đi chợ chị đều đi dọc theo bên hông trường, và thầy giáo thì luôn như một sự tình cờ nhưng lại là cố ý; đứng bên cạnh cữa sổ lớp học để ngó mông ra ngoài, mổi khi chị đi qua, cã hai đều “Tình trong như đã, mặt ngoài còn e”.

Anh tên Khoa - con trai trưỡng trong gia đình nhưng sắp xếp theo cách của người miền Nam là thứ hai nên thường gọi là Hai Khoa - đang ngồi so lại từng sợi dây của cây đàn phím lỏm, cây đàn này anh mua tận trên Sài Gòn nhân một chuyến đi chơi cùng bạn bè, anh rất mê vọng cổ, thuở mới lớn anh từng ao ước mình sẽ trở thành kép độc của một gánh hát cải lương nào đó, vì thế anh say mê tập tành đàn ca hát xướng, đến nổi xao lãng chuyện sách đèn chử nghĩa, học hoài mấy năm mà không qua nổi lớp chín, nhưng anh lại thuộc nằm lòng bài ca “tình anh bán chiếu” và thêm một số bài khác nữa, duy chỉ có “tình anh bán chiếu” là anh ca hay nhất, đầy truyền cãm với tất cả sự lắng đọng của tâm hồn mình, anh cũng rất thành thạo khi uốn éo mười ngón tay dạo chơi cùng với những nốt nhạc vọng cổ luyến láy ngân nga trên cây đàn phím lỏm, tự tay anh vừa đàn vừa hát. Với tài nghệ của mình Hai Khoa đã chinh phục và làm cho trái tim của các cô gái trong làng phải thổn thức, thế nhưng chị thì vẩn dững dưng.

Cha anh nhờ đến người mai mối, lần đầu tiên đi với cha qua gặp mặt cha má chị, anh mang theo cây đàn phím lõm, chuẩn bị một giọng ca cho thật mùi – đó là hai thế mạnh của anh – với hy vọng là sẽ làm ngọt tai vừa ý cha má chị, anh mong có được chị bằng cách đi đường vòng.

Nhà anh ở phía bên này chợ nhưng phải đi qua một cây cầu gổ, gọi là cầu Chợ Mới, nhà chị nằm phía bên kia đường dưới chân cầu Trà Bông, lại còn phải đi vô sâu trong đồng; quanh co theo con rạch, qua thêm chiếc cầu khỉ mõng manh trên gò đất nổi, chung quanh có chừng mười mấy nóc nhà.

Khi Hai Khoa so dây đàn và lảy mấy nốt dạo đầu, cha của chị gật gù có vẻ thích ý, rồi bên khay trà với bánh ngọt, anh cất tiếng ca, vẩn là bài “ruột” của mình: “tình anh bán chiếu”…thì anh đã hoàn toàn chinh phục được cảm tình của cha má chị. Cha chị sai làm một mâm đồ nhậu khá linh đình dọn ra để mời “anh sui tương lai”, có nghĩa là chuyện lấy chồng của chị đã được định đoạt xong xuôi.

Thầy giáo Nam phải đưa cha thầy đang bị bịnh nặng lên Sài Gòn chửa trị, nhưng cuối cùng ông vẩn phải ra đi để lại người con trai lớn và cô con gái út trong căn nhà nhỏ. Thầy Nam nhờ người nhắn chị ra ngã ba con rạch để thầy được gặp mặt và nói đôi câu. Thầy không ngờ chị sắp đi lấy chồng và chị cũng không ngờ cha thầy vừa mới qua đời, trên ve áo của thầy giáo có một mảnh vải tang đen. Đứng bên nhau mấy phút mà lòng đầy ngậm ngùi cay đắng, thầy trao cho chị một gói quà nhỏ và chỉ nói được rằng:

- Lúc anh đưa tía lên Sài Gòn trị bịnh, anh có mua mấy cái này để dành tặng cho Ải. Thôi thì cứ xem như đây là quà mừng cưới của anh.

Chị cầm gói quà mà nước mắt rưng rưng, nghẹn ngào không nói với anh được một câu.

Đó là một cái gương soi và chiếc lượt đồi mồi rất đẹp có khắc chử Pháp, chị không hiểu nghĩa của nó là gì, và chỉ đọc được như thế này:- so-u-ve-ni-erờ. Gương soi mặt và lượt chải tóc là hai thứ mà người con gái nào cũng cần phải có. Chị cất giử bên mình như vật bất ly thân…

…Và chiều hôm nay chị đem nó ra, kín đáo ngồi sau hiên vắng để soi mặt mình, chị đã nhìn thấy trong đó có đôi mắt đẹp, đen lay láy mang một nổi buồn sâu thăm thẳm, long lanh hai giọt nước trong veo chảy dài trên hai má.

Thầy giáo Nam không kịp gởi cho chị một lời hẹn thề đính ước vì thầy còn phải để tang cha đến ba năm trời. Cha má chị thì không muốn đứa con gái lớn ế chồng dù chị có nhan sắc, chị phải lấy chồng trước để cho năm đứa em gái còn có cơ hội nữa chứ.

Đám cưới của chị cũng bình thường như bao đám cưới ở miền quê, trước ngày cưới cha chị đã làm lại chiếc cầu khỉ cho cứng cáp chắc chắn để con gái không bị té ngã - khi đi qua cầu mà về nhà chồng.

Sáng sớm lúc trời vừa hừng đông bên nhà trai đi qua rước dâu, cũng không nhiều người cho lắm, vỏn vẹn ngồi vừa đủ một chiếc xe lam, thêm bốn mâm quả với những lể vật cần phải có. Chị mặc bộ áo dài trắng; tượng trưng cho sự trong trắng của người con gái, trên đầu đội chiếc khăn voan mõng phủ xuống che hờ khuôn mặt cô dâu, dấu chỉ cho sự vâng chịu phục tùng, chân chị đi đôi guốc mộc, còn anh cũng chỉnh tề trong bộ đồ tây với áo sơ mi, quần ka ki màu xám đậm, mang giày săng đan. Anh đeo cho chị một đôi bông tai vàng hột gáo, mang lên cổ chị một cây kiềng và đôi xuyến đeo tay cũng bằng vàng. Hai người làm lễ gia tiên, má chị khóc tiễn con về nhà chồng, chị sụt sùi khóc theo, lòng chị chơi vơi buồn, ngậm ngùi khi thấy thấp thoáng bóng thầy giáo đứng bên kia con đường đất nhỏ nhìn vào trong nhà chị - qua một cây cầu khỉ - đừng ai nghỉ rằng chị đã “ khóc như thiếu nữ vu qui nhật” vì chị khóc rất thật tình với tất cã nổi lòng mình.

Anh đi ra trước, chỉ cần vịn một tay vào thành cầu làm bằng cây tre dài, nhảy chân sáo vài bước là anh đã qua đến bên kia cầu, rồi anh đứng ngoài ngó mông vô trong chờ chị - người mà bây giờ đã là vợ của anh- Chị run run bước những bước chân ngắn theo sau lưng anh trên chiếc cầu khỉ chênh vênh, lòng mong mỏi anh quay lại đưa tay cho chị nắm để dìu chị bước qua cầu, nhưng anh thật vô tình.

Chị ngập ngừng quay đầu nhìn lại ngôi nhà nhỏ mà chân đi không đành, chiếc cầu khỉ nằm yên trong nắng sáng, má và các em chị nhìn theo cho tới khi chị đi khuất.

Chồng chị là con trai trưỡng, là anh của ba cô em gái. Nhà chồng có mấy mẩu ruộng trồng lúa, một ao cá, một đìa tôm, nói chung được xếp vào hàng khá giã. Có lẽ vì là con trai duy nhất trong gia đình nên anh được mọi người trong nhà dành cho nhiều thứ ưu tiên ngay từ lúc còn nhỏ, điều đó nó đã hình thành nên tính cách của anh; vừa độc tôn vừa độc đoán. Bây giờ thì anh đã là người đàn ông có vợ, sự độc tôn độc đoán trong anh đã biến anh thành một người đàn ông có tính gia trưỡng.

Đêm đầu tiên sau đám cưới, anh nói với chị trống không:

- Ngủ trước đi nghen, tui còn tiếp mấy người bạn.

Một đêm đàn ca tài tử cho đến khi gà gáy sáng, chị thức dậy dọn dẹp tàn tích mà anh đã tiếp bạn bè đêm tân hôn. Sau đó thì lo cơm sáng cho gia đình nhà chồng, rồi ra chợ bán lúa, rồi lo cơm trưa và giặc giũ cho cả nhà chồng, mấy cô em gái của anh thấy mình đã có chị dâu, như là nhà bỗng nhiên có một con ở nên dồn hết mọi công việc để chị làm lấy một mình, các cô trở thành quí tiểu thư đỏng đãnh. Anh dững dưng khi thấy chị phải ôm đồm hết mọi việc nhà và cho đó là điều tất nhiên.

Sáng nay cha chồng kêu anh chị vào và nói:

- Hai Khoa này, con đã có vợ rồi, không rong chơi đờn ca tài tử nữa mà phải lo làm ăn. Má bây mất lâu rồi, còn lại mình tía, mai này mấy đứa em gái của bây cũng phải lấy chồng rồi theo chồng, vợ thằng hai ráng sanh cho tía đứa cháu nội trai rồi tía giao hết gia tài điền sãn cho hai vợ chồng bây trông coi.

Anh cười:

- Một mình vợ con lo đủ rồi mà…tía.

Cha anh trợn mắt:

- Mày…không nên thân, tao nói rồi đó nghen, phải lo tập làm ăn, dẹp bớt mấy cái chuyện đờn ca tài tử lại cho vợ mày nó nhờ.

Thật tình là chị không biết anh có tập tành làm ăn như lời cha dặn hay không, vì có bao giờ anh bàn bạc chuyện gì với chị, còn chuyện dẹp bớt đờn ca tài tử thì chị thấy rỏ là không. Có những đêm anh đi tới sáng mới về, chị vò vỏ nằm chờ chồng, gối lạnh chăn đơn.

Lâu lắm rồi mà không được về thăm cha má và các em, chị nhớ lắm, về nhà chồng được năm tháng, đúng năm tháng chị làm con ở với trăm công nghìn việc. Chiều nay chị đánh bạo xin với cha chồng:

- Thưa tía, con đã làm xong mọi việc, tía cho phép con được về thăm cha má và các em con.

Ông gật đầu nói:

- Con kêu thằng Hai Khoa nó đưa con đi, đừng đi một mình về nhà.

Chị năn nỉ:

- Nhà Tía má con ở gần đây, con đi một mình cũng được tía à.

Ông nghiêm sắc mặt:

- Tía đã nói là kêu chồng con đưa con về thăm.

Chị ứa nước mắt, chị chỉ muốn đi về thăm nhà một mình vì chị rất cần được thổ lộ tâm tư của mình cho các em gái nghe, chị muốn được khóc thỏa thuê trên vai một đứa em nào đó của mình. Chị thôi không xin về thăm nhà nữa mặc dù lòng cứ mong ngóng nhớ nhung.

Tối nay Hai Khoa lại đưa mấy người bạn về nhà, họ hè hụi khiêng chiếc giường ở sau chái ra kê ngoài sân dưới gốc cây vú sữa. Đêm nay rằm nên trăng sáng vằng vặc, anh sai chị làm mấy món nhậu ngon ngon để anh và các bạn cùng nhau đàn ca tài tử cho vui. Trong nhóm bạn đờn ca tài tử của Hai Khoa có thêm một người tên là Cường, anh chàng này mới được anh Khoa nhận vào làm công, lo canh chừng mấy cái đáy trên sông, Cường xấu trai, ở đâu tận bên Tân Châu, anh ta biết chơi đàn kìm, tuần trước khi đến xin việc, anh ta được Hai Khoa nhận ngay nhờ cây đàn kìm xách theo chung với cái túi áo quần.

Chị lui cui nướng mấy con khô cá sặc rồi gọt vỏ trái xoài tượng, sau đó chị băm nhỏ thành từng sợi, chị xé con khô cá sặc ra rồi trộn đều với xoài, thêm vào một ít đường, nước mắm, vài trái ớt xắc nhuyển và một nắm rau răm hái trong vườn. Món nhậu này anh thích nhất. Chị vào trong nhà nằm ngã lưng ra giường nghỉ mệt. Thêm một người bạn ở xóm trên đến chơi, mang theo con cá lóc lớn chừng một ký đang quảy đuôi vùng vẩy, anh biểu chị nướng trui để cho chiếu nhậu thêm phần phong phú. Chị biết đêm nay anh sẽ đàn ca cho đến hừng đông.

Cá lóc nướng trui muốn cho ngon và chín đều thì phải nướng bằng rơm, thế là chị ra đằng sau nhà hốt một nắm rơm lớn, lum khum cúi người sát đất, phồng má thổi cho rơm cháy bùng, nước mắt chị trào ra ướt má làm mặt chị lem luốt, không biết chị đang khóc hay vì khói rơm bay vào mắt, có lẽ là cả hai. Chị lấy một que tre dài có đầu nhọn xỏ vào miệng con cá cho xuyên suốt ra sau đuôi rồi đưa nó lên ngọn lữa rơm mà nướng, con cá bị lữa đốt nóng, cố uốn mình nhưng bị thanh tre kềm chặt, nó đau đớn giẩy đuôi vài cái rồi rướn lên và cuối cùng là nằm im…chị trăn qua trở lại con cá như trăn trở nổi lòng mình, cuối cùng khi ngọn lữa tàn chị vùi con cá xuống đống tro rơm, ủ nóng một hồi lâu, độ chừng nó đã chín, chị chặt nữa tàu lá chuối rồi để nó nằm lên trên, lấy đủa gạt sạch bụi tro, chị đưa ra cho anh, kèm thêm một chén nước mắm chanh ớt

Lúc này anh đang say sưa thả hết tâm hồn mình để ca bài “tình anh bán chiếu”, còn các bạn anh thì đang lia lịa gắp mồi và uống rượu. Chị nghỉ thầm trong bụng “ cái đầu óc… ca hoài một bài mà không biết chán”. Mổi lần muốn được người ta khen ngợi anh đàn hay ca giỏi là anh lại hành tội chị khổ sở lo món nhậu để tiếp đãi bạn, đó cũng là một cách trao đổi: anh được lời khen tặng, bạn được mồi ngon và rượu cay, chỉ có mình chị là chịu phần thua thiệt mà thôi.

Những sợi dây đàn vang lên từng âm thanh với những cung bật khác nhau nhưng khi cùng hòa chung, nhập vào nhau thì tất cả đã tạo nên một giòng chảy trơn tru bên những nốt luyến láy, giọng ca của anh ngân nga lên xuống trong ánh trăng rằm đã lôi kéo nhiều người chung quanh bu đến xem khá đông, bây giờ thì “chiếu nhạc” phải dời xuống đất mới có đủ chổ để họ cùng ngồi xúm xít mà nghe ngón đàn của anh và các bạn thì thay nhau ca những bài vọng cổ, chị phải tất bật lo thêm món nhậu, mua thêm rượu.

Hai người tài tử với hai cây đàn; đàn kìm và cây guitar phím lõm đã kết hợp với nhau tạo thành những giòng nhạc lung linh huyền ảo dưới ánh trăng rằm, bên bầu rượu và mấy món nhậu.

Đêm còn dài khi trăng vẫn rất sáng, đang nằm treo lơ lững trên những ngọn tre, và chị thì chưa được phép đi ngủ, dù biết rằng ngày mai có rất nhiều việc phải làm.

Nữa năm rồi chị về làm vợ của anh, nữa năm nay chị chưa hề được nghe anh gọi một tiếng “em ơi” và xưng anh với chị, anh vẫn nói trống không. Sáng nay cha chồng hỏi:

- Vợ thằng Hai Khôi à, sao lâu quá mà tía không nghe con báo tin vui gì hết vậy?

Chị ngạc nhiên không hiểu ẩn ý của câu hỏi đó:

- Dạ, tía nói gì con không hiểu…

- À, là tía muốn hỏi bây đã có bầu chưa?

Chị ngập ngừng:

- Dạ, con chưa có gì hết tía à.

Ông hớp một ngụm trà, chắc lưỡi:

- Nói chồng bây cố làm sao nhanh nhanh lên cho tía có cháu đó nghen.

Chị lí nhí “dạ” thật nhỏ rồi đi ra sau bếp, gió từ ruộng phía sau nhà thổi vào mát rượi nhưng lòng chị thì nóng như lửa đốt. Chị cũng đang mong mình có thai, một đứa con vào lúc này là nguồn an ủi lớn của chị, nó có thể lấp đầy nổi cô đơn trong tâm hồn và xoa dịu nổi buồn trong lòng chị, nhưng…chuyện kín đáo bí mật riêng tư của vợ chống nào ai thấu hiểu, anh chưa bao giờ cho chị có được cái cảm xúc mà một người chồng cần phải đem lại cho vợ mình; với một lòng yêu thương và sự tôn trọng, anh thiếu hẳn hai thứ tình cảm đó. Chị tủi thân mổi khi có ai đó hỏi rằng “có bầu chưa?”.

Mùa mưa đến sớm hơn mọi năm, nước lũ trên sông Mêkong sắp sữa tràn về mang theo nhiều phù sa và các loại tôm cá, chị nhớ mổi năm đến mùa nước lũ tràn về, chị và các em có được một trò chơi đầy hấp dẩn mà chỉ những nhà miền thôn quê sông nước như nhà chị mới có mà thôi; đó là chỉ cần ngồi trên căn nhà sàn thả dây câu với lưỡi câu gắn chút mồi xuống nước là thế nào cũng giựt lên được một con cá lóc hay cá rô, ngồi một buổi cũng kiếm được một mớ cá tươi, đem kho lạt với hành, tiêu, cho thêm trái ớt là có một món ăn ngon lành. Miền quê hương Nam bộ giàu có với đồng lúa bao la bát ngát, sông rạch chằng chịt chứa đầy đầy con tôm con cá vì vậy đã sản sinh ra những người…không cần làm lụng mà cũng có cái để ăn, có gì đâu; cứ đi giăng câu, đặt lờ là đủ…

Chị miên man suy nghỉ, lòng nhớ nhung về bên phía nhà mình, sau lần xin phép một mình về thăm nhà mà không được, chị không nhắc lại nữa, lúc này chị không còn được đi chợ, việc này cô em thứ tư của anh dành lấy, hình như sợ chị có ăn bớt ăn xén tiền chợ hay sao ấy. Nữ trang ngày cưới cô em thứ ba của chồng cũng “mượn khéo” rồi cố tình quên luôn, không trã lại, chị hiền lành không dám hỏi tới.

Túi không tiền, người không tình, lắm lúc chị không biết mình là gì trong gia đình này? chị cảm thấy cuộc đời mình sao mà buồn khổ cô đơn quá, phải chăng vì cái tên Ải của chị nó vận vào người chị? chợt nhớ lời thầy giáo Nam nói: “- Tên nghe sao mà khổ quá”…chị buồn muốn khóc.

Thật bất ngờ như một món quà dành cho chị. Sáng nay cha má chị đi ăn cưới của người bà con trong chợ, đã ghé vào thăm nhà chồng của chị, cha chồng có ở nhà, tay bắt mặt mừng và hỏi thăm nhau những lời xã giao thông thường. Chị bưng khay trà lên, thật tình lúc ấy chỉ muốn òa khóc, má chị nhìn con gái mà ngở ngàng, bà vờ ra ngoài sân nhìn lên cây xoài, khen có nhiều trái quá, chị ra theo, má chị quay qua nhìn con gái mà nghẹn ngào:

- Con ơi, sao con gầy ốm xanh xao quá vậy?. Con làm dâu cực lắm phải không? Chồng con có đánh đập hành hạ con không?...

Chị cười nhưng nước mắt sắp tràn xuống má:

- Chồng con không đánh đập gì con hết má à, cũng không có ai hành hạ con đâu, con chỉ buồn nhớ tía má với mấy em mà thôi.

Má chị vuốt mái tóc dài ngày xưa chị thường xõa trên vai, nay thì búi lại sau gáy:

- Sao con không xin phép tía chồng con mà về thăm nhà?

Lúc này thì chị khóc thật:

-Má ơi, con có xin mà không được, tía chồng con không cho về một mình mà phải có chồng con đi theo.

Má chị cười:

- Thì đúng rồi, gái đã có chồng thì ai cho về một mình.

Thì ra má không hiểu chị.

Trời mưa lai rai, bóng bóng nước bập bùng, mưa bong bóng không to nhưng lâu tạnh, cứ lâm thâm rỉ rà rỉ rã, những cơn mưa cuối mùa không mấy lớn. Sáng nay chị lấy cớ cần phải ra chợ mua tí đồ dùng riêng cho mình để được thoát ra khỏi bầu không khí ngột ngạt trong nhà chồng. Không hiểu sao chỉ mới tới rìa chợ, vừa nhìn hàng thịt cá, mùi tanh của mấy thứ đó xộc vào mủi chị, chị bổng cảm thấy chóng mặt và buồn nôn, chị không sao đi tiếp được nữa đành quay về, lật đật vào trong chái bên hông nhà rồi nằm vật xuống, người mệt mỏi khó chịu và chị lơ mơ ngủ thiếp đi.

Buổi trưa anh về, ngạc nhiên khi thấy chị nằm dã dượi trên giường, vừa mới lay lay vai chị thì chị nhoài người ra ngoài nôn thốc nôn tháo. Anh kêu cô em thứ ba đang tán chuyện bên nhà hàng xóm về để nấu cháo cho chị, vừa lúc cha chồng cầm dù che mưa từ đâu không rỏ đang về tới, ông mùng rở:

- Không khéo vợ hai Khoa có bầu.

Đúng là chị có bầu, chỉ cần hửi mùi cơm sôi là chị ói ra mật xanh mật vàng, nói chi đến mùi cá thịt, triệu chứng hôi cơm tanh cá báo cho chị biết mình sắp được làm mẹ. Điều này thật hạnh phúc và kỳ diệu vô cùng, nó cuốn trôi đi tất cã mọi nổi niềm u sầu buồn tủi lẫn cô đơn đang chất chứa dày đặc trong tâm hồn chị.

Tuy chỉ mới cấn thai nhưng chị có cảm giác cục máu trong người chị hình như lớn lắm, hình như nó hiểu chị và hình như nó nghe được lời chị thủ thỉ với nó hằng đêm. Riêng với chị thì cả thế giới này đang nằm trong bụng chị, có nó; chị không còn những suy nghỉ lung tung. Anh Hai Khoa cũng chú ý đến vợ đôi chút tuy thế anh vẫn không bỏ những đêm vui chơi đờn ca tài tử, nhưng anh không thường xuyên bắt chị phải vô bếp làm món nhậu cho anh và các bạn, chị cảm động khi anh nói với họ:

- Vợ tui đang mang bầu nên mệt, mấy ông đến nhà tui để đờn ca tài tử thì mổi ông mang theo một thứ mồi, tui mua rượu…

Cha và chồng đều mong chị sanh con trai, nhìn bụng chị; hàng xóm ưa “ bắt mạch”:

- Chà, cái bụng nhọn nhọn là con trai rồi.

Cha chồng tuyên bố với mọi người trong niềm hứng khởi:

- Tui chờ con dâu sanh cho tôi đưa cháu nội trai là tui giao hết gia tài điền sãn cho vợ chồng nó.

Ông nói với anh:

- Tía đã nói với con rồi đó nghen, bớt đờn ca mà lo chí thú mần ăn, lớn đầu rồi, có con rồi mà cứ vui chơi miết, tía rầu mày quá…

Anh trã lời tưng tửng:

- Tía thấy con vợ con nó đảm đang quá chừng mà tía còn cằn nhằn con chi nữa.

Cô em thứ tư lườm chị một cái rất khó chịu. Chị không giận, thôi kệ, bề nào thì sau này cô ấy cũng lấy chồng, cũng phải theo chồng về làm dâu, “nữ sanh ngoại tộc” mà, có khó chịu, có nguýt ngắn nguýt dài với chị mấy đi nữa thì cũng là phận đàn bà con gái với nhau, nào đâu biết trước được rằng ai sướng hơn ai?.

Đứa con trong bụng chị ngày một lớn, vị thế của chị trong nhà ngày một cao, nghỉ cũng thật lạ kỳ khi một sinh linh rất yếu ớt bé nhỏ dù chưa cất tiếng chào đời nhưng lại có một quyền lực vô hình hết sức to lớn, nó còn mang đến cho chị niềm hạnh phúc không gì sánh bằng, bây giờ thì cuộc sống của chị có đầy đủ ý nghĩa với nhiều niềm vui.

Anh Hai Khoa cao hứng nói:

- Tui sẽ dạy cho thằng nhỏ biết đờn ca vọng cổ như tui.

Chị choáng váng, một “hai Khoa chồng” mê theo đờn ca tài tử như anh cũng đủ làm cho chị phiền nảo lắm rồi, bây giờ mà thêm một “hai Khoa con” cũng mê đắm như cha nó thì không biết chị sẽ phải phiền nảo tới đâu.

“ Con so về nhà má, con rạ về nhà chồng”.

Gần tới ngày sinh nở, má chị đã dọn sẵn chổ để đón chị về sau khi chị xuất viện, mọi thứ cần thiết đã được chị chuẩn bị sẵn từ trước, mấy hôm nay anh Hai Khoa ở nhà chờ đưa vợ đi sanh, anh cứ đi ra đi vào hình như rất bồn chồn nôn nóng, không biết vì chị sắp sanh hay vì anh nhớ bạn ca tài tử? Hoặc là anh đang mong thấy mặt đứa con trai của mình? Có lẽ lòng anh có đủ cả ba thứ tình cãm ấy.

Chị trỡ dạ vào buổi tối, những cơn đau xoắn như muốn bẻ gẩy thắt lưng dồn dập đến, chị gập người lại rên xiết rồi chị lại rướn người lên để thở, anh Hai Khoa cuống cuồng dìu chị ra xe lam để đến nhà bảo sanh, anh nhờ người qua nhắn với má chị, mồ hôi chị tuôn ra đầm đìa ít hoặc nhiều theo từng cơn đau, chị bấu vào người anh, chị ghịt anh xuống sát vào người mình rồi chị lại đẩy anh ra xa, sự đau đớn quằn quại của chị làm anh cũng toát mồ hôi hột, má chị đã đến, anh nhường lại cho bà phần khủng hoãng mà từ chạng vạng tối đến giờ anh phải gánh chịu, hai Khoa không có can đãm để nhìn vợ đau đớn lâu hơn, anh đứng lấp ló phía bên ngoài và chờ đợi.

Con trai hay con gái cũng là con, chị đều yêu quí như nhau vì nó chính là máu thịt của chị mà chị đã phải mang nặng chín tháng bốn ngày, là đứa con mà chị đã cắn nát môi chịu đựng những cơn đau đớn quằn quại khi banh da xẽ thịt mình để sinh nó ra. Chị ôm đứa con gái vào lòng, hôn thật dài, thật sâu vào tóc, vào trán của nó. Hai Khoa hơi buồn khi bà đở ra báo là chị sanh con gái, nhưng nhìn khuôn mặt đẹp như thiên thần của con bé, lòng anh cũng rưng rưng một cảm xúc mới mẽ, cái cảm xúc là anh thực sự đã làm cha, tuy nhiên anh cũng có phần nào tiếc rẻ.

Cha chồng chị thở dài, cứ ngở nó sẽ là đứa cháu nội trai đích tôn, ai ngờ lại là con gái, nhưng dù sao cũng là máu mủ của mình, ông cũng có đôi chút vui vui trong lòng: “mình đã làm ông nội rồi”.

Không cần biết cảm xúc của những ai mong chờ trong vui mừng nay thất vọng, chị vẫn sung sướng khi mình đã làm mẹ, đối với chị bây giờ thì đứa con là tất cả. Con so phải ở cữ đến ba tháng mười ngày, khoãng thời gian ở cử này sao mà sung sướng quá, chị được sống trong sự chăm sóc chu đáo của má và các em, chị không phải động tay động chân tới bất cứ việc gì, nhìn con lim dim mắt bú giòng sữa đang chảy xuống như giòng nước suối trong nguồn, lòng chị miên man một niềm hạnh phúc tràn trề cũng đang tuôn chảy. Chồng chị vẫn thường qua thăm vợ con, lúc nào qua thăm nhà vợ anh cũng ôm cây đàn phím lõm theo, cha chị rất vui, tiếp đãi anh con rễ một cách ân cần và say sưa nghe anh vừa đàn vừa ca mấy bài vọng cổ. Ông hài lòng lắm, nghỉ rằng mình đã đúng khi gã con gái cho anh chàng đàn giỏi ca hay này, bởi vì ông cũng là người thích “ngao du sơn thủy”, mọi việc nhà, việc ruộng đồng đã có vợ lo rồi…

Không phải chị mong sanh con trai để được cha chồng giao cho “gia tài điền sãn” như ông hứa, đối với chị, nếu sanh con trai, chị sẽ không phải cố sanh thêm nữa, nhưng bây giờ là con gái, chị sẽ phải làm sao cho có một đứa con trai để nối dõi tông đường. Đó là đòi hỏi của nhà chồng.

Sáng nay, sau khi ở cử đúng ba tháng mười ngày, hai Khoa sang đón chị về, cây cầu khỉ đong đưa lắc lẻo, chị một tay bồng con, một tay vịn thanh tre lan can cầu, chị run rẩy từng bước, dò dẫm từng bước thật chậm để qua phía bên kia, anh chỉ xách giõ đồ cho chị, cũng như ngày chị về nhà chồng, một mình dò dẫm đi trên chiếc cầu này, mong sao anh quay lại đưa tay ra dìu chị, bây giờ chị đã có con, không còn một mình nữa, nhưng sao vẫn thấy lòng gợn buồn, vừa qua khỏi chiếc cầu khỉ con bé khóc oe oe, chị thoát khỏi nổi buồn vừa mới nhen nhúm, cất tiếng ru:

“ Ầu ơ…ví dầu cầu ván đóng đinh…

“ Cầu tre lắc lẻo gập gềnh khó đi…”

Con bé ngũ ngay lập tức, không chờ chị ru tiếp hai câu cuối, nhưng mà cũng chưa cần phải ru hai câu cuối đâu, để dành mai sau khi nó lớn, chị sẽ ru.

Cha chồng chị nựng nịu đứa cháu nội gái rồi “phán” ngay một câu:

- Thôi thì sang năm ráng sanh một đứa con trai.

Đàn ông họ không mang nặng, không bị thai hành, không ốm nghé vật vờ vật vưỡng, không đau đớn khi sanh nên lúc nào họ cũng vô tư đòi hỏi, tuyên bố như ra lịnh. Phải chi ông trời cho họ một lần bị thai nghén, một lần phải sanh con, thử xem họ có còn đòi hỏi theo ý họ muốn hay không cho biết…

Con gái chị được ông nội đặt cho một cái tên rất hay: Ngọc Ngà.

Gần cuối năm, những ngọn gió đông thổi vào hiên nhà gây gây lạnh, chị phải chuẩn bị những thứ cần thiết theo ý cha chồng để còn đón tết, chị không hiểu nổi tại sao lại phải chuẩn bị sớm đến như vậy. Cô em thứ ba sắp lấy chồng, cô không phải theo về nhà chồng bởi vì chồng cô là anh Cường, người làm công cho nhà anh hai Khoa, và cô nhất định không ra ở riêng. Cô Ba xấu gái, hai con mắt bên to bên nhỏ; “lưỡng tử bất đồng tâm bất chánh”, có lẽ đúng thế vì cô này khắc nghiệt với chị nhất, thường ưa săm soi người chị dâu của mình từng chút một để mà đay nghiến xỉa xói, dĩ nhiên là cô ta chờ lúc cha và anh trai không có nhà thì mới có thái độ. Chị mong mỏi cô ấy đi lấy chồng để chị được thoát khỏi cô em chồng khắc khe hơn cả má chồng (nếu có), nhưng chị không ngờ…anh Hai Khoa lại khoái người em rễ này lắm vì anh ta biết đàn kìm, mổi lần phối hợp với anh để cùng nhau đàn ca vọng cổ thì “hay nhất làng” luôn.

Có con rồi nhưng hai Khoa vẫn không thay đổi gì mấy, chị buồn lắm, không lẽ cứ sống mãi theo kiểu này? không lẽ phải sanh cho được một đứa cháu nội trai để nhận “gia tài điền sản” thì anh mới lo làm? Nếu như chị cứ sanh con gái thì sao?

Bây giờ con gái chị đã biết đi lẩm chẫm, biết gọi cha, má, nội, cô, dì…thời gian này chị phải làm sao cho có bầu để sanh con. Nhưng đâu phải hể muốn là được.

Mâm trái cây cúng đêm giao thừa và dành cho mấy ngày tết thật phong phú, đẹp mắt với những loại trái: cầu (mãng cầu), dừa (vừa) sung (trái sung), đủ (đu đủ), xài (xoài). Nồi thịt kho nước dừa thêm chục cái hột vịt nổi váng mỡ vàng ươm. Chiều ba mươi phải gói bánh tét, bánh ú, mấy hủ củ kiệu ngâm dấm trắng tinh điểm thêm mấy trái ớt đỏ…mứt dừa, mức bí, mức gừng nằm trong hộp có nắp đậy bằng nhựa trong, hủ hột dưa màu đỏ nằm đợi chờ, hai cây mai trước cổng nhà đang lác đác nở vài bông hoa vàng rực rỡ.

Chị làm đúng bổn phận của một người con dâu khéo tay và đảm đang, anh hai Khoa mấy hôm trước đã làm vệ sinh sạch sẽ từ trong nhà ra đến ngoài sân, anh cũng vừa học thuộc thêm được một bài ca vọng cổ “chuyện tình Lan và Điệp”, ngày trước anh không mấy thích bài này nên không thèm học, nhưng mùa đông năm nay tự dưng anh nghe trong radio được bài này, sao mà lâm ly bi đát quá, thế là anh “dùi mài kinh sử” suốt một tuần đã thuộc làu làu, chắc chắn với giọng ca mùi của anh, khối người khen hay, chị nghỉ thầm trong bụng “ muốn khen ho hen không được”.

Sáng nay cha chồng kêu hai người ra nói chuyện, có vẻ rất cương quyết và trọng đại, ông đằng hắng cho thông cổ sau khi uống một ngụm nước trà:

- Vợ chồng thằng Hai à, ra giêng rồi, mấy bữa nay tía đã suy nghĩ lung lắm rồi, đến lúc tía phải cho vợ chồng bây ra riêng để tính chuyện mần ăn cho thành người, bây giờ hai đứa muốn mần ăn gì, cho tía biết…

Anh Hai Khoa tròn mắt ngạc nhiên, không biết phải trả lời như thế nào? Không biết mình muốn “mần ăn cái gì”?, nhưng với chị, đây là một dịp may, một cơ hội hiếm có, chị nói ngay cài điều mà chị ấp ủ trong lòng mình từ lâu lắm:

- Dạ…tía cho vợ chồng con được đi buôn…

Anh giật mình:

- Hả? Đi buôn? Buôn gì?

Chị từ tốn nói:

- Néu tía cho phép, vợ chồng con xin được đi buôn trên sông.

Anh hai Khoa chưa kịp phản ứng thì cha chồng tỏ ra hài lòng với ý định của chị:

- Vợ hai Khoa nói phải đó, thôi…tía tính vậy nè, tía sẽ sắm cho hai vợ chồng một cái ghe nhỏ, cho thêm một ít vốn liếng để đi buôn, có đi đây đi đó, có buôn bán với người ta thì mới giỏi được. Lần sau sinh con trai thì về với tía, tía giao hết ruộng nương cho vợ chồng con cai quản.

Anh hai Khoa lôi vợ ra sau hè, nơi có ao cá to của nhà anh, anh hậm hực nói:

- Tại sao ấy nói ngang mà không chịu bàn bạc với tui? Bộ… muốn cầm quyền hả? nói cho biết, tui không đi buôn đi bán, đi ghe đi cộ gì hết ráo…ấy có muốn thì tự mà đi.

Chị năn nỉ:

- Ông à, con mình nó biết đi rồi, tui tính gởi nhờ ngoại với mấy dì trông coi, đi buôn mau có tiền, phi thương bất phú mà ông, chẵng lẻ ở không miết vậy sao? Vợ chồng mình cũng cần có của nã riêng tư chớ.

- Vậy chớ đồ cưới đâu mà không có của nã?

Chị ngập ngừng:

- Cô ba nó mượn chưa trã.

Anh bực bội:

- Sao không đòi, phải đòi lại đó. Phải chi ấy sinh con trai thì tía giao hết gia tài điền sản cho tui rồi…cũng tại mình.

Chị ứa nước mắt, tại sao anh không chịu hiểu là không do chị mà do ý trời, chị cũng muốn sanh con trai lắm chớ, nhưng khi nói như thế, lòng chị quặn đau và thương đứa con gái của mình nhiều hơn, vì nó ra đời không như sự mong đợi của mọi người trong gia đình. Anh lại cau có hỏi thêm:

- Sao không xin tía cho một sạp hàng gì đó ở ngoài chợ mà buôn bán, lại đòi đi ghe?

- Quê mình sông nước chằng chịt, mênh mông, hai bên bờ cây trái nặng sà cành, mình đi buôn trái cây, cứ lênh đênh trên ghe, mua đằng gốc, bán đằng ngọn mau có lời, mà lại lời to. Ông chịu khó nghe tui.

Anh ấm ức:

- Tui nói thiệt…ấy làm khó cho tui, ấy cũng biết là tui có bạn bè đờn ca tài tử, phải đi ghe là phải xa họ…

Đó là điều mà chị mong muốn, vì muốn anh xa bạn đờn ca tài tử, vì muốn anh lo chí thú làm ăn nên chị đành chọn nghề buôn trên sông nước, lấy ghe làm nhà…nhưng chị lại không nghỉ ra một điều: anh là đàn ông, anh có niềm đam mê lớn, bức anh ra khỏi nó là giống như chị đã bức đi một phần thân thể anh mà quẳng xuống sông.

Với áp lực của cha, với sự năn nỉ của vợ, và những lần cải nhau, cuối cùng anh hai Khoa đồng ý với cuộc sống mới. Sau đám cưới của cô Ba, chị bồng bé Ngọc Ngà qua gởi má. Nước mắt của chị rơi ước đẩm mái tóc mềm như nhung của con gái, chị đưa con cho má, quay về với một trái tim bị chia đôi.

Trước ngày lên ghe, má chị đưa qua cho chị những đồ dùng mà người nội trợ nào cũng phải có, đó là son nồi chén bát đũa muỗng ly tách…chị hỏi cô em chồng về món nử trang mà cô ấy mượn, nhưng cô ta nói một cách ngang ngược đầy tử tế:

- Chị đi ghe mang theo làm gì, để tui giử dùm cho, chừng con Ngọc Ngà lớn thì tui đưa lại.

Cầm bằng là mất trắng món nữ trang ngày cưới.

Anh Hai Khoa vẫn là người đàn ông gia trưỡng, anh quyết định hết mọi việc mua bán trên sông, tiền bạc anh nắm giử, một điều chị không ngờ đến là với chiếc ghe buôn hàng trên sông nước, anh lại có nhiều bạn đờn ca tài tử mới, còn nhiều hơn lúc anh ở trong ruộng.

Đúng là sông nước mênh mông, ghe thuyền tấp nập. Mới sáng sớm mà đã xôn xao người mua kẻ bán, thứ gì cũng có. Con sông như một cánh đồng mênh mông nhưng có lắm người ở, ghe thuyền là nhà, là chợ, là quán xá, một cái chợ nổi thật vui mắt. Anh hai Khoa có dịp trổ tài giữa chốn đông người trên sông nước chứ không liu hiu như lúc ở nhà mình. anh vui lắm còn chị thì chịu khổ cực nhiều hơn.

Chiều chiều sau môỉ chuyến hàng mua đi và bán lại, anh cho ghe đậu vào một bến nước của khúc sông nào đó, dưới bóng hàng tre xanh mượt mà, anh lội xuống sông tắm rữa sạch sẽ xong rồi ôm cây đàn phím lỏm ra ngồi trước mủi ghe so dây và ca bài “tình anh bán chiếu”, một lúc sau trên ghe anh chật cứng, có mấy người phải qua ngồi bên ghe bạn mà nghe anh ca; chị lúi húi sau mủi ghe làm đồ nhậu để anh thết đãi bạn bè. Phải chi chị biết nhiều chữ nghĩa, chị sẽ làm một bài vọng cổ có tựa là “tình anh thầy giáo” và chỉ để một mình chị ca, vì chị rất buồn và nhớ, ai cấm được lòng người ta đừng nhớ nhung khi mà…“ái ân hờ hững của chồng tôi” kia chứ…

Chị có bầu, không như lần ốm nghén đứa con đầu còn được nghỉ ngơi đôi chút, bây giờ lênh đênh trên sông nước, anh không có em gái để sai nhờ nên chị phải ôm đồm hết, luôn cả việc làm đồ nhậu để anh tiếp bạn, chị cũng cáng đáng. Có những đêm khuya gió sông thổi lên lồng lộng, chị ngồi sau mủi ghe, lòng buồn rười rượi, không một chút xúc động khi anh vừa đàn vừa ca rất nảo nuột bài “chuyện tình Lan và Điệp”.

Càng ngày người ta càng được tiếp cận với nền văn minh kỷ thuật mới, các hàng quán cà phê từ ngoài đường cho tới trong chợ cũng cố mua và gắn một cái tivi để cho khách vừa xem vừa uống cà phê, một ly cà phê đá chỉ có bốn ngàn, lại được xem tivi thoải mái, nhất là những khi có bóng đá thì quán chật cứng. Đàn ca tài tử của anh Hai Khoa bị “ế”, anh rất buồn, nhất là khi giọng ca của anh không còn được truyền cảm như xưa.

Lần này chị sanh con trai. Cha chồng mừng, chồng mừng, chị mừng, ai cũng rất mừng…nhưng…không có chuyện cha chồng giao lại gia tài điền sãn cho hai vợ chồng anh hai Khoa như hồi đó ông từng nói, lý do là hồi đầu năm nay ông đã giá nghĩa với một bà góa ở xóm trên, bà này có hai đứa con riêng với chồng cũ, bà đã khăn gói quả mướp theo về làm vợ ông. Cha chồng chị lờ đi, không đề cập đến chuyện kêu anh chị về nữa.

Nếu phải sống lênh đênh trên sông nước mãi thì chị phải gởi đứa con trai nhỏ nhờ má trông coi như chị đã gởi bé Ngọc Ngà. Lần này chị không thể, không nở và không muốn rời xa hai đứa con của mình, chị bàn với anh bán chiếc ghe đi, lên Sài Gòn mua một căn nhà nhỏ để ở, anh hỏi:

- Tại sao phải lên tận Sài Gòn mua nhà? rồi làm gì để sống? Nhà Sài Gòn mắc lắm đó.

- Tui nghỉ kỷ rồi, Sài Gòn là đất văn minh, sau này con mình lớn lên nó cũng được văn minh. Mấy lần mình đưa hàng lên đó bán, tui thấy người Sài Gòn đẹp quá…

Anh lườm chị một cái:

- Xì, mình là dân quê thì cứ sống ở quê cho yên phận, đèo bòng chi cái văn minh của người ta.

- Ông à, đời tui với ông coi như xong, còn đời con của mình, phải cho con mình nó khác đi…

Anh xuôi lòng nghe theo chị; đúng là phải nghỉ đến tương lai của con cái, phải cho chúng nó văn minh, đời ông bà cha má ở ruộng thì đời con cháu phải được ở thành thị…

Chiếc ghe bán được cũng nhiều tiền, anh chị lên Sài Gòn, len lỏi đi tìm mua nhà, cũng may là có căn nhà nhỏ ở mặt tiền đường cũng nhỏ bán với giá hơi rẻ, anh chị mua ngay, còn dư chút đỉnh chị bày ra bán gạo. Chị quan niệm rằng bất cứ người nào dù thật giàu hay thật nghèo cũng cần phải ăn, mà gạo là thực phẩm chính để nuôi sống con người ta.

Chị đón bé Ngọc Ngà, bồng bé Anh Tuấn, dẩn theo đứa em gái thứ năm lên ở cùng để đở đần giúp chị. Lần này thì chị nhất quyết đòi lại số vàng cưới mà cô ba đã mượn, nhưng cô cũng nhất định không chịu trả. Chị nghỉ sẽ không bao giờ đòi được một khi người ta không muốn trả.

Chị lấy mặt tiền nhà bày bán gạo lẽ, nhờ sự khôn khéo và cần kiệm của chị dần dần nó trở thành một tiệm gạo khá lớn, phía ngoài hiên kê được một cái bàn nhỏ và hai cái ghế, anh hai Khoa làm thêm cái gác cho rộng, mọi người ngủ trên đó, nhà dưới chỉ để nấu ăn và bán gạo.

Anh mau chán, anh không thích cứ loanh quanh luẫn quẫn trong nhà với những bao gạo chất cao, thỉnh thoảng anh đem cây đàn phím lõm ra so dây, gảy vài nốt, nhưng chừng như không có hứng anh máng lại trên tường. Chị thấy anh có vẻ buồn buồn dù bây giờ anh chị có thêm một đứa gái con, bây giờ gái hay trai không còn quan trọng với anh chị nữa, con nào cũng là con.

Chị bận rộn với việc mua bán nên anh cũng không đòi chị làm đồ nhậu để đải bạn, thường thì khi đến bạn đều mang theo mồi, anh chỉ lo rượu mà thôi, người Sài Gòn thích nói chuyện thời sự, đối với anh thì nói chuyện thời sự không hấp dẫn như khi anh ngồi ôm cây đàn và ca một bài vọng cổ.

Anh bàn với chị:

- Má con Ngà này, tui giao hết hãng gạo cho bà lo, còn tui đi làm chuyện khác.

Chị ngạc nhiên hỏi:

- Vậy chớ ba thằng Tuấn tính đi làm chuyện gì?

- Có người bạn rủ tui đi mở đồn điền trồng cao su, mau khá lắm…

- Hãng gạo cũng dư sức cho mình giàu rồi, bay nhảy mà làm chi.

Anh cương quyết:

- Tui suy nghỉ kỷ lắm rồi, thì tui cũng chỉ đi đi về về, chủ yếu là mình bỏ tiền ra mướn nhân công, má con Ngà đừng ý kiến ý cò gì hết, tui nói là tui làm.

Chị phải gom tiền bạc đưa cho anh một số vốn lớn để anh đi khẩn đất trồng cao su, lúc này anh ưa chưng diện nên nhìn anh khá đẹp trai, với cặp kiếng trắng mang trên mắt nó làm cho anh thật trí thức, áo sơ mi phẵng phiu lúc nào cũng bỏ trong quần, một chiếc quần tây thẳng nếp, đôi giày da màu đen bóng lộn, tay anh xách một chiếc cặp loại dành cho thương gia, xức nước hoa thơm phức…anh không còn là hai Khoa của ruộng đồng, của “tình anh bán chiếu” nữa, mà là một “đại gia”.

Chị linh cảm có điều gì đó không vui sắp đến với gia đình chị, một điều tuy là đang còn mơ hồ nhưng ngày càng lớn dần làm chị ngộp thở, chị thường xuyên lo sợ cho điều gì đó sẽ xảy ra.

Hôm nay anh mời mấy người bạn đến nhà chơi, anh muốn đích thân chị phải làm vài món nhậu để đải “khách quý”, chị đi nhanh ra chợ mà lòng cứ miên man suy nghỉ, linh cảm về một “điều gì đó” của chị hình như đang đến trong nhà chị, đi chợ mà lòng chị không yên.

Trong men rượu ngà ngà say, anh nâng ly rượu lên và tuyên bố giữa bàn tiệc nhậu một rất hùng hồn:

- Là đàn ông thì phải có mê một món gì đó mới đúng là đàn ông, đàn ông mà không biết mê gì hết thì…không phải là đàn ông…ngày đó tôi mê đàn ca tài tử, bây giờ không còn mê nó nữa, tôi chuyển qua mê đàn bà…dô một ly nữa coi…

Có tiếng một ông nói hùa theo:

- Ha ha…đàn nào mà chẳng là đàn…hô…hô…

Tiếng của anh to nhất:

- Ừa, thì trước kia mê “đàn ca”, bây giờ mê “đàn bà”…đàn nào cũng…sướng…dô cái coi…

Mê đàn ca…chị khổ về thân xác, mê đàn bà…chị khổ cả hai thứ. Mê đàn bà…có nghĩa là anh đang đưa về nhà một quả bom tấn, nó sẽ làm nổ tung ngôi nhà của chị, nó sẽ cuốn trôi tất cả những gì chị đã gầy dựng được, hèn chi số vốn chị gom hết để đưa cho anh, nó đi lung tung không hẹn ngày trở lại.

Chị không sao nuốt nổi miếng cơm, mà chén cơm thì đong đầy nước mắt của chị, nhớ ngày xưa má thường hát ru các em chị rằng:

“ Gánh cực đem đổ lên non,

“ Cong lưng mà chạy, cực còn chạy theo”.

Chị khóc thầm:-“ tía ơi, tại sao tía đặt cho con cái tên gì mà khổ quá vậy tía?”. Tên của chị có từ lúc chị mới lọt lòng, nó đã vận vào người chị, nó đeo theo cuộc đời của chị như một cục thịt dư ở đâu đó mà không chịu nằm yên một chổ, nó cứ chạy lung tung.

Chị nhớ thầy giáo Nam, gương lược của thầy tặng chị vẩn giử kỷ trong vali, chiều nay chị lấy ra soi mặt, gương với lược còn mới mà nét mặt chị đã già đi quá nhiều, nhưng vẩn có những giột nước đang tràn ra ở hai khóe mắt; trong và mặn.




© Tác giả giữ bản quyền
Cập nhật theo nguyên bản của tác giả gởi từ SàiGòn ngày 21.11.2011.
. Đăng Tải Lại Xin Vui Lòng Ghi Rõ Nguồn Newvietart.com