TÁC GIẢ
TÁC PHẨM



MAI THÌN



Tên thật là Mai Văn Thìn

Sinh năm 1965 tại thôn Vĩnh Phú, xã Nhơn Thành, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định.

Hội viên Hội văn nghệ dân gian Việt nam.
Hội viên Hội nhà báo Việt Nam.
Ủy viên Ban chấp hành Hội văn học nghệ thuật tỉnh Bình Định.
Hiện đang công tác tại Đài phát thanh truyền hình tỉnh Bình Định.

TÁC PHẨM ĐÃ XUẤT BẢN :

. Cổ tích tình yêu - tập thơ - 1991.
. Hai mảnh yêu thương - tập thơ 2 tác giả - 1992.
. Đồng quê - tập thơ - 1999.
. Văn hóa dân gian xã Nhơn Thành - nghiên cứu - 2004.
Giải thưởng: Giải 1 thơ trẻ Bình Định 1990.
Giải thưởng văn học nghệ thuật Xuân Diệu - Đào Tấn lần thứ 1 và lần 2.











CHUYỆN BUỒN CỦA NỘI



Ba ngày sau khi bà nội qua đời, tôi nằm mơ thấy ba tôi về. Ông đứng lặng bên bàn thờ nội, xuống bên chiếc giường có má và tôi đang ngủ, rồi như muốn cúi xuống để hôn tôi. Một khuôn mặt hao hao giống nội mà nhợt nhạt, không còn nguyên vẹn. Tôi khóc ré lên, nhưng má tôi gần như không còn sức để ngồi dậy khi nghe tôi gọi. Bà chỉ xoay người ôm gọn lấy tôi như ngày tôi còn bé, lúc ấy tôi mới biết má tôi còn chưa ngủ, nước mắt ướt đẫm một bên tai, và rồi cả đêm hai mẹ con không ngủ nữa.
Má tôi gượng dậy, khêu to ngọn đèn, thắp thêm ba nén hương trên bàn thờ nội đặt ở phía chái nhà. Bàn thờ ông nội, ba tôi và chú Bốn đặt ở chính giữa, quay ra cửa chính. Ảnh ba tôi được phủ tấm vải đỏ, còn ảnh ông nội và chú Bốn thì không có. Ngày còn sống, bà nội đã đặt vào đấy hai tấm bằng Tổ quốc ghi công.
Đêm ấy hai má con trằn trọc mãi. Ngoài trời mưa như trút. Nước đang lên. Tôi nằm ôm má, nước mắt chảy đầm, thương nội tôi giờ nằm sâu dưới đất, lại đúng vào mùa lụt. Ban chiều nước đã mấp mé đến chân gò…



Hồi tôi được sáu tháng tuổi thì ba tôi bị bắt lính. Hôm ấy ba ở chùa thầy Năm về là để được nhìn thấy mặt tôi, nói với bà nội vài điều rồi lên núi theo ông nội và chú Bốn. Ba tôi nói với má là ông không thể tiếp tục chịu cảnh sống chui nhủi ở chùa thầy Năm nữa, mặc dù đây là nơi bà nội đã bán hai mẫu ruộng để cúng giường, lo cho ba tôi đến ở trốn lính. Sáng ngày, khi ngoài trời còn đầy sương, trong bếp, bà nội và má đang lúi húi sửa sọan hành lý cho ba tôi lên đường thì có tiếng chó sủa rang ở đầu xóm. Nội vừa kịp lay ba tôi dậy, khóac vội lên người ông chiếc ruột nghé và xách đồ thì lính nghĩa quân và cảnh sát ập đến. Thằng ấp trưởng Thà đập bàn, thúc lính trói ba tôi lại. Nó chỉ vào mặt nội quát:
- Nể tình làng xóm, không tôi cho giải bà xuống hội đồng xã vì cái tội chứa chấp trốn quân dịch. Bà muốn cho nó theo cộng sản như thằng Bốn với chồng bà hả? Muốn tuyệt tự hết hả!
Ba tôi bị bắt đi trong tiếng gào của bà nội và của má, còn tôi thì vẫn nằm ngủ bên con búp bê mà ba tôi đem về đêm qua. Bốn tháng sau, má tôi nhận thư của cậu Bảy ở An Khê gởi về báo tin ba tôi bị đưa lên An Khê, có tìm gặp cậu Bảy một lần rồi sau đó không thấy nữa. Bà nội hết nước mắt vì ba tôi, đêm đêm bà tụng kinh gõ mõ, cầu nguyện cho ba tôi, chú Bốn tôi, ông nội tôi được bình yên chốn tên bay đạn lạc. Rồi cái điều mà bà nội nơm nớp lo sợ đã đến. Hôm tôi tròn thôi nôi thì ông nội bị Đại Hàn phục kích bắn chết ở Núi Bà. Bà nội với má tôi cùng mấy người trong xóm ra xin xác về chôn, nhưng bọn nghĩa quân không cho. Chúng bêu xác ông nội tôi ngay cổng trụ sở hội đồng xã; chỉ còn gương mặt và mái tóc là cái để nhận ra ông tôi, còn từ ngực trở xuống thì te tướp bùn đất do bị xe kéo từ núi Bà về. Nội tôi kêu khóc, bà nhào vô lăn lộn bên ông, mặc cho bọn lính dương súng cản ngăn. Sau nhiều giờ đấu tranh quyết liệt, chúng mới cho mang xác ông nội về chôn.Kể từ hôm ấy, nội tôi ăn chay trường và ngày nào cũng tụng kinh, niệm phật. Bà lặng lẽ làm vườn, dệt chiếu, nuôi heo… quẩn quanh trong nhà chứ ít khi ra khỏi ngõ. Thỉnh thoảng ban đêm có người của ông nội và chú Bốn ghé đến chia buồn, động viên, nhưng nội tôi vẫn không nói gì. Bà không muốn cho má tôi tham gia các hoạt động đoàn thể cách mạng vì sợ nhỡ ra có chuyện gì sẽ không có ai nuôi tôi.
Sau đợt làng Tân Thành kế bên bị lính Đại Hàn giết 170 gia đình, nội tôi bỏ hết tất cả. Bà nói với má: “ - Mạng người là quí nhất , còn người thì còn của”. Gia đình tôi tản cư xuống nhà ông Hai Nhân ở Qui Nhơn. Má tôi mở một sạp hàng khô bán đủ thứ cho dân quanh vùng. Nhờ tính nhanh nhạy giỏi dang, cần cù của má mà cuộc sống gia đình tôi cũng tạm ổn ở nơi đất khách quê người. Năm tôi lên hai tuổi thì ba tôi mất tích. Má tôi hay tin từ một người bạn của ông thoát trận trở về. Nghe nói ba tôi bị đẩy lên chiến trường Buôn Mê, rồi đưa ra Đắc Tô, Tân Cảnh, có viết thư về nhà nhiều lần nhưng không thấy hồi âm.
Qua đận ấy, nội tôi già sụm xuống. Chiều chiều bà thường cõng tôi dạo quanh xóm rồi có lúc ngồi ôm tôi khóc. Hồi ấy, tôi chưa biết, cứ kêu: “ - Nội khóc nhè, khóc nhè... Hư nhắm! ”.
Má tôi thì như cái bóng. Bà sửa soạn cho ba tôi một bàn thờ nhỏ bên cạnh bàn thờ ông nội, nhưng nội không cho. Nội không nghĩ ba tôi đã chết mà hi vọng ông còn thất lạc, hoặc bị phía bên chú Bốn bắt làm tù binh. Gặp ai khuyên răng, an ủi, bà cũng đều nói chắc mẩm: “ - Đến ngày hòa bình, thằng Bốn tôi sẽ xin cho anh Hai nó trở về. Nó bị bắt lính, chớ có phải ác ôn, chỉ điểm đâu mà nhốt nó….”.
Bẵng đi một năm, mọi sinh hoạt lại đều đặn với gia đình tôi. Chỉ có điều má tôi luôn bị rầy rà vì bọn lính hay đến nhậu nhẹt, tán tỉnh. Bỡi khi ba tôi mất tích, má tôi mới ngoài 28 tuổi. Mỗi khi ra ngoài, bà luôn đội nón, trùm khăn che kín mái tóc đã bới cao, nhưng không thể che được cái duyên của người phụ nữ một con goá chồng. Nội tôi quyết định không bán hàng nữa. Bà sang sạp hàng lại cho người khác, lấy tiền làm vốn buôn bán rau xanh từ chợ Dinh xuống Qui Nhơn. Lâu lâu bà về quê hỏi thăm tin tức chú Bốn. Nghe nói phía bên Cách mạng cũng có nhiều trại giam giữ tù binh ở miền Bắc, niềm hi vọng của nội lại được củng cố. Bà mong đến ngày hòa bình để chú Bốn xin cho ba tôi được thả về với má con tôi. Năm 1972, Mỹ rút quân về nước, làng tôi mặc dù còn nằm trong thế dằng co nhưng đã đỡ ác liệt hơn. Nội sợ ba tôi trốn về được không biết đâu mà tìm, nên bà thường xuyên về quê hơn.
Cứ mỗi bận như vậy, nội già đi trông thấy. Đêm nào bà cũng tụng kinh cầu cho chú Bốn và ba tôi tránh được làn tên mũi đạn. Những ngày đầu giải phóng, cả nhà tôi như ngồi trên ổ kiến. Người bồn chồn nhất là nội. Bà hết chạy lên xã lại đôn đáo sang làng bên tìm những người cùng đi với ông nội, với chú Bốn để hỏi thăm tin tức. Má tôi cũng lo. Bà trông từng giờ từng phút tin tức chú Bốn, nhưng tính bà thường kín đáo, suốt ngày làm lụng. Lợp nhà, phát cỏ, lội vớt đồ đạc giấu dưới ao bùn… cũng chỉ một tay má tôi. Hồi ấy tôi mới 7 tuổi, lại là con gái nên chỉ giúp má nấu cơm và làm những việc phụ.
Một hôm, ông chủ tịch xã xuống thăm gia đình tôi. Lúc ấy bà nội làm đồng chưa về. Chỉ có má và tôi ở nhà. Sau một hồi thăm hỏi chuyện sửa nhà, cuốc ruộng, ông đứng dậy thắp ba nén hương lên bàn thờ ông nội rồi nói:
- Thím Hai à. Tôi… tôi có tin…
- Ba con hay chú Bốn về rồi hả ông Ba?… Tôi mừng rỡ reo lên. Má nạt tôi cái tội hớt hỏng rồi quay sang ông Ba:
- Không biết chú Bốn có tin tức gì hả chú Ba?
- Ừ… ừ… Chú Bốn đã…
- Sao? Chú Bốn làm sao hả chú Ba?
- Chú Bốn đã hi sinh ở mặt trận phía Bắc tỉnh…
Má tôi sững sờ, còn tôi thì òa lên khóc. Lúc ấy mặc dù còn nhỏ nhưng tôi đã biết được nỗi đau của nội, của má, và niềm hi vọng của gia đình tôi giờ tan nát hết.
Trước khi ra về, ông chủ tịch xã còn cho biết thêm, chú Bốn tôi đã được chi bộ xã làm lễ truy điệu trong ngày giải phóng. Mộ chú Bốn được đồng đội mai táng đâu đó ở Hoài Ân. Sau này có điều kiện, xã sẽ cử người ra lấy hài cốt đưa về.
Chiều ấy nội tôi đi làm đồng về. Mặc dù má tôi đã dặn không được nói chuyện chú Bốn hi sinh cho nội biết, nhưng nhìn dáng nội liêu xiêu quảy bó củ mì qua sân, tôi không cầm được nước mắt. Tôi lao đến ôm chầm lấy bà mà khóc.
Nội tưởng tôi ở nhà bị má rầy nên ngồi xuống bồng tôi lên, vén áo chùi nước mắt trên má tôi. Tôi càng gào to hơn, hai tay ôm chặt lấy cổ nội. Má tôi trong nhà cũng khóc lên thành tiếng. Nội tôi lửng xửng. Bà lập cập thả tôi xuống rồi chạy vô nhà lay gọi má tôi đang ngồi úp mặt giữa hai đầu gối:
- Hai! Hai! Bộ có tin gì của ba con Hồng hay thằng Bốn. Sao bay giấu tao?
- Nội ơi! Chú Bốn chết rồi… Tôi chạy vô nhà, gào to lên.
Má tôi vẫn ngồi đó. Mặt úp lên hai đầu gối. Nồi cơm trên bếp sôi sùng sục, bọt trào xuống tro cháy lép xép. Còn nội tôi. Bà bỗng vụt đứng dậy, chạy lên bàn thờ ông nội. Bà không khóc mà lầm rầm như trò chuyện cùng người chết. Đêm ấy nội tôi như cái bóng. Bà đứng yên bên bàn thờ ông nội, tóc xổ dài, miệng rì rầm thườn thược.
Tôi nằm trên chiếc phản gõ còn chua mùi bùn đặt trước bàn thờ, thiếp đi lúc nào không biết. Tôi mơ thấy chú Bốn về, đội mũ tai bèo, mặc đồ bộ đội màu xanh, súng đeo bên hông. Chú Bốn xoa đầu tôi rồi đến bên nội. Tôi nghe tiếng bà hỏi: “ – Sao mày không xin cho anh Hai mày về luôn thể, nó bị bắt lính chớ có ác ôn, chỉ điểm đâu mà cách mạng giam nó lâu dữ… tội nghiệp nó con à! ” Chú Bốn tôi không nói được, chỉ lắc đầu. Nước mắt chảy thành dòng mà sao lại ngược lên như khói hương trên bàn thờ ông nội. Tôi giật mình thức dậy mà không khóc. Má tôi ngồi gục bên chân phản. Còn nội thì quì mọp dưới chân bàn thờ. Tôi lòm còm bò đến bên nội, quì xuống ôm lấy lưng bà mà khóc. Lúc ấy nội tôi như tỉnh hẳn. Bà gọi má đi ngủ rồi bồng tôi đặt lên phản. Tôi mơ màng nghe tiếng nội lầm rầm như đang nói chuyện với ai đó: “ - Mấy năm nay tui không ngày nào mà không cầu ông về phù hộ cho gia đình mình… Ông không còn thương tui thì ông cũng thương lấy sắp nhỏ... Ông dẫn thằng Bốn đi rồi thì ai lo xin dùm thằng Hai về với tui?… Sao ông không dẫn nó về để cho tui ngó mặt lần cuối?… Ông sống khôn thác thiêng... xin ông hãy chỉ dùm tui chỗ thằng Hai đang sống để tui tới thăm nó... Ừ mà thằng Hai nó bị bắt lính chớ có ác ôn, chỉ điểm đâu mà cách mạng giam nó lâu dữ vậy. Nhứt định tui phải đi tìm nó… Tui phải đi tìm nó… “
Sau đêm hôm ấy nội tôi như người mất hồn. Bà thường trầm ngâm nhai trầu, không thiết gì đến ăn uống. Má tôi mắt lúc nào cũng đỏ chạch. Những ngày đầu, cả xóm đến chia buồn. Người dựng lại liếp rào, người đẽo cây thay mấy cột nhà bị mối mọt, người cho giạ lúa giống, cân gạo, chai nước mắm…
Má tôi tính ít khi chịu ngồi yên. Suốt ngày bà lo ruộng vườn nhà cửa, chỉ tối về khi nằm ôm tôi là lại rấm rức khóc. Cứ mỗi lần như vậy, tôi khóc theo má rồi ngủ thiếp, mặt đầy nước mắt. Ngày giải phóng với nhiều gia đình là niềm vui. Nhà ông Hai Hữu, nhà bà Sáu, nhà bác Năm… người có con nhảy núi về, người có chồng đi lính sống sót trở về nguyên vẹn. Vậy mà ba tôi vẫn bặc vô âm tín.
Hôm khai giảng lớp học đầu tiên của xã, trong lớp, tôi là nhỏ nhất. Hồi ở Qui Nhơn tôi đang học lớp một, giờ má tôi xin cho tôi học lớp hai. Cùng học với tôi có anh Bảy con bác Năm Hưng cùng bị bắt lính như ba tôi. Anh Bảy hơn tôi 6 tuổi. Giờ ra chơi, tôi đang ngồi đếm đàn cò dang cánh bay ngang đồng làng thì anh Bảy đến vỗ vai tôi nói:
- Ê Hồng! Ngồi nhớ ba hay sao mà buồn vậy? Ba tao nói ba mày chết rồi. Bữa trước có bạn ổng ở Phú Phong xuống, nói cùng ở đơn vị với ba mày. Ổng dặn má tao đừng cho nội mày biết. Sợ nội mày chịu hông nổi.
- Ai nói ba tui chết? Ba tui mất tích làm sao ba anh biết được?
Tôi cãi lại anh Bảy mà nước mắt cứ chực trào ra. Chiều ấy về nhà, tôi đem chuyện nói với má. Bà khóc, ôm tôi vô lòng rồi nói:
- Ba con chết thiệt rồi Hồng ơi!... Chỉ sợ nội con buồn… Năm nào má cũng giấu nội làm giỗ ba con.
-Không. Hu hu… Ba con không chết! Không chết mà. Tôi gào lên đau đớn. Từ giờ phút ấy tôi ý thức được trọn vẹn nỗi đau mất cha. Trước đó tôi chỉ nghĩ ba tôi bị giam giữ ở miền Bắc như nội tôi từng nói. Giờ thì niềm hi vọng trong tôi không còn nữa.
Đêm ấy, tôi đem chuyện anh Bảy nói với nội tôi rồi ngồi khóc. Nội không tỏ ra đau đớn như má tôi tưởng. Bà lặng yên ngồi nhai trầu rồi thở dài thườn thược. Suốt đêm bà tụng kinh gõ mõ, rồi lại lầm rầm trách ông nội sao không cho chú Bốn về gặp bà trước khi đi.
Sáng hôm sau nội tôi dậy sớm. Cơm nước xong bà ngồi nhai trầu, trầm ngâm rồi nói với tôi mà như nói với cả nhà:
- Sáng mai nội lên thị trấn đón xe ra miền Bắc tìm ba con. Con Hai ở nhà trông coi nhà cửa. Mấy đám ruộng tát nước nói thằng Tám xuống phụ, đừng bắt con Hồng làm nhiều. Đồng ruộng còn bom mìn nhiều lắm… Có gì tội nghiệp con nhỏ!
… Má tôi đang ngồi rửa chén ngoài hiên, nghe nội nói vội chạy vô nhà khóc. Má tôi chưa bao giờ dám cãi lời nội. Chuyện gì không chịu thì chỉ khóc chứ không phản đối. Vậy mà hôm nay, bà đã khuyên can nội.
- Con biết má thương ba con Hồng nhiều… Nhưng mà má tuổi già sức yếu làm sao đi một mình được… Nội tôi từ trong buồng bước ra, tay cầm chiếc túi vải nhỏ có dây rút sẫm màu cổ trầu, ngồi xuống chiếc giường cạnh cửa rồi nói:
- Má đã tính hết rồi. Má bọc theo 3 chỉ vàng để đi đường. Còn lại cố dành dụm mà làm vốn cho con Hồng sau này.
- Má đã quyết thì con phải đi với má. Con không để má đi một mình được. Con Hồng cũng đã lớn rồi. Nó ở nhà vài hôm cũng được. Với lại còn bà con chòm xóm…
- Má tôi năng nỉ.
- Nội, nội cho má con đi với nội. Con cũng đã lớn rồi, tự lo liệu nhà cửa được mà. Thấy tôi nắm cánh tay lắc lắc năn nỉ, còn má tôi thì tỏ vẻ cương quyết, nên nội cũng xiêu lòng. Bà nói mà nước mắt lưng rưng:
-Ừ ừ… nội cũng biết tìm được ba con là khó lắm. Nhưng may ra… nó còn sống... Nội tôi khóc, khóc rưng rức. Còn tôi dụi cả gương mặt lẫn nước mắt nước mũi vào ngực nội.
Hai ngày sau, nội với má tôi lên đường đi tìm ba. Ông chủ tịch xã nhiều lần khuyên can, giải thích nhưng cuối cùng cũng phải cấp cho nội tôi giấy giới thiệu, giấy đi đường để mua vé tàu xe.
Sau lần ấy nội với má tôi còn đi mấy chuyến nữa. Niềm hi vọng tìm lại ba tôi cứ bạc dần theo từng sợi tóc trên đầu nội. Năm tôi học cấp ba, trường ở cách xa làng 15 cây số, đường lầy lội khó đi, má tôi lên thị trấn tìm nhà trọ rồi bắt tôi ở lại, mỗi tuần chỉ về một lần vào ngày chủ nhật. Hồi ấy nhà tôi kinh tế đã dần ổn định. Hai suất trợ cấp gia đình liệt sĩ của ông nội và chú Bốn, bà nội dành phụ thêm cho tôi ăn học. Ngoài làm ruộng, rãnh rỗi má tôi còn mua chiếu lên Gia Lai bỏ sỉ kiếm đồng lời. Nghe nói có ông bán chiếu ở xã bên để bụng thương má, nhưng bà không chịu vì sợ không lo cho tôi ăn học đến nơi đến chốn. Còn nội tôi thì nhiều lần khuyên bảo: - Con Hồng giờ cũng lớn rồi. Bay coi có đám nào… đẻ thêm vài đứa cho vui cửa vui nhà. Nhưng mỗi lần như vậy, má tôi thường lắc đầu rồi lảng đi chuyện khác.
Mấy tuần đầu xa nhà, tôi thương nội, nhớ má nên cứ hai ba ngày lại đạp xe về thăm. Mỗi lần như vậy, nội tôi vừa la vừa mừng rối rít. Còn má thì chuẩn bị đủ thứ để hôm sau tôi mang lên khao bạn bè.
Năm cuối cấp ba, mắt nội mờ dần. Sau đợt tôi thi đậu đại học y Huế mà không được địa phương cắt hộ khẩu cho đi học với lí do ba tôi là lính ngụy mất tích, nội tôi khóc nhiều nên mắt mù hẳn. Tôi ở nhà một năm giúp má làm ruộng. Năm ấy tôi với má có lên xã mấy lần nhờ liên hệ đưa hài cốt chú Bốn về địa phương để nội được an lòng. Ông chủ tịch xã mới lên, hẹn đi hẹn lại nhiều lần. Đến khi người của đơn vị chú Bốn tôi tìm về địa điểm cũ thì không tìm được mộ nữa. Nơi ấy nghe nói giờ đã thành một nông trường gì đó.
Bà nội tôi đã bắt đầu lẫn lộn nhiều thứ. Nhiều đêm đang ngủ, bà thức dậy lần mò ra cổng. Tôi và má cứ phải canh chừng kéo nội vô, bà bảo: - Để nội thắp hương chờ chú Bốn với ba con về. Tụi nó đi lâu ngày, xóm làng thay đổi, sợ tìm không ra nhà. Không biết tụi nó lạc ở đâu mà giờ vẫn chưa thấy về.
Tôi thương nội, thương má nên quyết định không đi đâu xa nữa. Nhân đợt xã mới mở trạm y tế cần y tá nên tôi nộp đơn xin vào làm. Làng có ít người học hết cấp ba nên ông chủ tịch xã ưu tiên nhận tôi rồi cho đi học lớp ngắn hạng ba tháng ở Qui Nhơn.
Nhập học được năm hôm thì má tôi nhắn tin nội bệnh nặng. Tôi kịp đáp xe về nhà thì nội đã mất. Nghe nói mấy ngày trước đó, nội cứ bắt má tôi phải thắp hương ngoài ngõ để đón chú Bốn và ba tôi về. Bà nói chú Bốn và ba tôi còn lưu lạc đâu đó. Vài bữa nữa bà với ông nội đi tìm họ về. Má tôi còn nói lúc bà nội tắt hơi, có hai con bướm bay ngang qua bàn thờ ông nội làm chao ngọn đèn rồi bay thẳng ra vườn. Ngoài trời mưa như trút, nước đang lên...

Vĩ thanh:
Đây là câu chuyện của người bạn gái mà bây giờ là mẹ của hai con tôi. Chú Bốn tôi ( giờ thì tôi được phép gọi như thế ), sau hai mươi năm, người ta đã tìm được hài cốt khi xây dựng một đập nước thuỷ lợi của nông trường. Xác định được ông là do tấm thẻ căn cước của ba tôi, không hiểu sao vẫn còn nguyên vẹn với đầy đủ địa chỉ quê quán và tấm hình của ba tôi vẫn còn rất rõ.
Hồi ấy, nội đã bỏ tiền làm cho ba tôi nhiều thẻ căn cước để trốn quân dịch. Ngày chú Bốn nhảy núi, nội nhét tấm thẻ căn cước của ba tôi vào túi áo rồi dặn: - Chiến tranh loạn lạc, anh em mỗi đứa mỗi nơi… Mày giữ cái này của anh Hai mày để còn tìm nhau, nhận ra nhau, chứ đừng bắn giết lẫn nhau nghen con!… Rồi nội tôi cũng đã làm như thế với ba tôi trước ngày ông bị bắt lính.
Tôi đã ghi lại câu chuyện này từ hơn mười năm trước nhưng mãi đến nay mới quyết định gửi cho báo, với một niềm hy vọng không nguôi là… con gái tôi sẽ tìm được ông ngọai, bàn thờ chú Bốn tôi sẽ có được chân dung của người đã khuất.



Nha Trang 1996- Qui Nhơn 2006




MAI THÌN


  
TRANG CHÍNH TRANG THƠ ĐOẢN THIÊN BIÊN DỊCH HỘI HỌA ÂM NHẠC