ÔNG LÃO MÙ



Khí trời đang chuyển tiết, thoang thoáng cái lạnh se se tuồn về. Lại một mùa đông như bao mùa đã qua. Khái niệm thời gian trong ông lão mù bây giờ là những cơn ho khù khụ, nhích nhắc rồi dai dẳng, quen thuộc đến nỗi ông không còn nghĩ đến chuyện tặng cho cái cổ họng tội nghiệp đó vài viên thuốc Nhưng dẫu sao thì trong cái túi áo quăn queo ấy vẫn còn một lọ dầu, bôi một tí vào cổ, vào mũi xong, ông lão nghểnh tai nghe ngóng. Tiếng xôn xao xếp hàng dọn quán như hồi chuông đồng hồ của ông. Quờ tay vào chiếc mũ để trước mặt, ông lão nhặt mấy tờ tiền lẻ nhàu nát, khẽ vuốt từng tờ và rờ rẫm dọc ngang tờ bạc xong ông xếp tờ nọ lên tờ kia. Hết những tờ tiền ở cái mũ, ông cho tay vào lần áo trong, lôi ra những tờ tiền khác cũng nhàu nhĩ không kém, và cũng vuốt xếp cẩn thận từng tờ như thế. Xếp xong mớ tiền, ông quơ tay ra sau lưng láy cây gậy đặt nép dưới chân hè, lọng khọng chống dạy, ông đi thẳng dến chỗ bà hàng cháo. Mùi thơm của một tô cháo nóng rắc nhiều tiêu hành bốc hơi nghi ngút khiến ông thấy cồn cào trong ruột.

_ Ông cứ ngồi xuống đấy đi, chỗ này khách đang ăn đông lắm.

Vẻ nhẫn nhục ông dọn chân ngồi xuống cách gánh cháo một đoạn. Một người khách đang ngồi chờ đến lượt, thấy vậy nói :

_ Bác cứ múc cho ông lão trước đi, cháu chờ thêm một tí nữa cũng được.

Ông nhướng tai về phía ấy, giọng nói của một cô gái trẻ, ai mà tử tế thế nhỉ ? Những lời tử tế như thế, ông không mấy khi được nghe. Tiếng bà hàng cháo lóe xóe :

_ Dào ôi, ông ấy được ngồi đợi còn mừng nữa ấy chứ.

_ Sao thế ạ ?

_ Vãn khách thì tôi bán rẻ cho chứ sao.

_ Chẳng đáng bao nhiêu, sớm muộn gì bác cũng cứ bán re rẻ cho ông lão tí bác ạ. Khổ, đã già cả còn mù lòa thế kia, không biết có vợ con gì không bác nhỉ ?

Giọng bà hàng cháo hạ thấp xuống, nghe không rõ nhưng ông cũng đoán biết người ta đang nói chuyện về mình. Ông cố nuốt tiếng thở dài vào ngực, bật ra vài tiếng ho húng hắng. Ông ngồi bó gối, đầu hơi cúi xuống, điệu bộ trông thật thiểu não. Ít phút sau, ông nghe bước chân đến gần, và giọng nói lóe xóe của bà hàng cháo :

_ Cháo đây, ông ăn đi, hôm nay dược bao nhiêu ? Đưa tôi đổi cho nào.

Ông đưa một tay đón tô cháo, tay kia cho vào túi lấy ra nắm tiền đã xếp cẩn thận đưa cho bà, bà nhẩm đếm rồi kêu lên :

_ Hôm nay được nhiều nhỉ ! Những tám nghìn, trừ một nghìn tiền cháo, tổi dổi cho ông bảy nghìn đây nhá.

_ Vâng, cảm ơn bà.

Cầm những tờ tiền bà hàng vừa đổi, ông bỏ luôn vào túi không cần kiểm lại. Vì ông tin người đàn bà ấy mồm miệng nhưng tốt bụng. Hơn nữa, ông cũng áng chừng được số tìền của mình qua sự nhận biết bằng tay. Chủ yếu là kích thước của những tờ bạc giúp ông nhận biết dược mệnh giá của chúng. Nhỏ nhất là tờ hai trăm, nhỉnh hơn một chút là tờ năm trăm, tờ một ngàn thì cứng hơn, độ dài của nó cũng chỉ nhích hơn tờ năm trăm độ vài li. Tờ hai ngàn ít khi có, nếu có thì ông có thể nhận ra bằng một điểm nổi trên tờ bạc, điểm nổi này phải linh tay lắm mới nhận ra được, đôi khi bằng trục giác. Những tờ có mệnh giá lớn hơn, thì hầu như ông không có cơ hội cầm vào tay, ngay cả tiền mà bà hàng cháo đổi cho ông cũng không quá tờ hai ngàn, bà bảo nhỡ có tiêu nhầm cũng không bị mất nhiều. Ông coi mình còn may mắn khi được nhận một lòng tốt như vậy.

Không nhanh cũng không chậm, tô cháo dược trút vào dạ dày ông như một đồng xu rơi vào chiếc chum rỗng, vọng lên một tiếng kêu yếu ớt, nhưng chỉ bấy nhiêu cũng đủ cho ông một đêm ngủ không phải nằm quắp bụng. Trả cái tô cho bà hàng xong, chiếc gậy lại dẫn dường cho ông. Dáng liêu xiêu, ông khuất dần về phía cuối chợ. Lọm khọm chui vào cái “vòm” của mình, ông lão chợt giật nảy người khi nghe có tiếng thở, ông thốt giọng khàn khàn hỏi :

_ Ai đấy ?

Không có tiếng trả lời, hình như ai đó còn đang giấc. Định tiến lại gần để gọi, nhưng ông chợt khựng lại, biết đâu lại thằng xì ke nào muốn chiếm chỗ chui ra chui vào của ông. Trước cũng đã vài lần ông phải đeo xách chống gậy lần đi tìm chỗ ngủ giữa đêm khuya. Khi bị một tên bụi đời nào đó hung hãn, ngang tàng chiếm chỗ. Sức già lại mù lòa,chẳng làm gì được nó, thôi đành chịu thiệt cho yên thân. Từ ngày lần dược đến cái vòm này, ông được yên ổn trong một thời gian khá dài. Đó là một con hẻm nhỏ,trước là đường đi của nửa nhà sau, sau khi đã cắt bán một nửa phía trước, về sau họ bán nốt, chủ nhà phía trước mua luôn rồi phá thông, con hẻm thành thừa, thi thoảng làm chỗ để xe. Khi ông đạt dược vào đây, có lẽ nhìn bộ dạng hom hem, mấp mé của ông, người ta không nỡ đuổi, chỉ buông lời đe nẹt :

_ Đừng có mà bày bẩn ra đó nghe không ?

Giọng nói xách mé của một người mà ông đoán tuổi còn khá trẻ, cũng không làm ảnh hưởng đến niềm vui và sự an tâm của ông khi không còn phải đêm hôm vất vưởng. Thế mà giờ hình như ông có nguy cơ bị trôi dạt lần nữa.Ngẫm nghĩ một lúc, ông quyết định đến gần xem người đang ngủ đó là ai. Bàn tay ông vừa chạm vào làn da người ấy thì vội rụt lại, nhưng lập tức lại đặt lên vội vã, cuống quýt. Khi đôi tay báo cho ông biết đó là một đứa trẻ trai, thì trong ông thay thế nỗi lo lắng này bằng nỗi lo lắng khác. Đứa trẻ này là ai ? Sao lại nằm đây trong lúc sốt cao thế này ?Ông lão không có thời gian cho sự giải đáp, ông lần tay xuống đáy giỏ đeo bên mình lấy ra một củ gừng đã hơi héo. Ông cắn một miếng, nhai dập rồi vạch môi thằng bé mớm vào. Làm độ vài lần như thế, xong ông lấy cái khăn mặt thấm ướt bằng chai nước để trong góc vòm, ông lau khắp người thằng bé. Vừa làm ông vừa gọi chừng “Cháu ơi ! Tỉnh dậy đi cháu ơi!” Lau một lúc, ông ngừng tay, Ông nghĩ đến một viên thuốc hạ sốt, nhưng tiệm thuốc tây ở đâu thì ông chịu. Bây giờ mà đi hỏi thăm để mua cho được, thì không biết thằng bé này sẽ ra sao. Còn đang lúng túng chưa biết làm cách nào, thì ông nghe đứa trẻ ú ớ trở mình, ông vỗ về và gọi, một lúc thì nó tỉnh hẳn. Trong màn đêm tối sẫm, thấy có bóng người bên cạnh, thằng bé hốt hoảng chống tay định ngồi dậy, nhưng ông chận lại bảo :

_ Cháu cứ nằm yên đây cho khỏe, để ông đi mua thuốc cho cháu.

Thằng bé ngạc nhiên :

_ Ông là ai mà mua thuốc cho cháu ?

_ Rồi cháu sẽ biết. Cháu có đói không ? Ông mua cả bánh mì cho cháu nhá.

Đó là thứ thằng bé đang cần, nó ngoan ngoãn “Dạ”. Nhưng khi thấy ông qườ gậy dò đường, biết ông bị mù, nó nhổm dậy chạy theo :

_ Ông ơi ! Ông bị mù làm sao đi mua được ?

_ Không sao, ông đi quen rồi, ông hỏi thăm người ta là được mà. Cháu cứ nằm nghỉ đi.

Thằng bé tần ngần một chút rồi nói :

_ Để cháu dẫn ông đi nhá.

_ Cháu còn đang mệt mà.

_ Cháu đỡ mệt rồi ông ạ.

Ông lão rờ trán thằng bé, thấy đã bớt nóng nhiều, ông đồng ý. Có đôi mắt phụ, bước chân ông nhanh hơn và vững hơn. Lát sau, một già một trẻ trở về với ổ bánh mì trên tay thằng bé. Đêm đó nó ngủ lại với ông, và ông lão phải một đêm khó ngủ không phải vì chỗ nằm chật hơn. Những câu hỏi dọc đường đi đã cho ông hiểu rõ hoàn cảnh thằng bé.

Thằng bé có cái tên là Lạc. Không phải là môt cái tên nắn nót ghi trên một tờ giáy khai sinh với ý nghĩa là vui thú. Mà chỉ là một cái tên đặt tạm ở một trại trẻ mồ côi. Nó đã chín năm ở đó, từ khi còn là một hài nhi. Hậu quả của một người mẹ trẻ, đã bỏ trốn khỏi nhà hộ sinh. Nó không nhớ được nó đã qua cái tuổi chập chững thế nào, nhưng rồi đến lúc nó hiểu được rằng, người ta không thể nuôi nó lâu hơn được nữa. Số nhân khẩu càng tăng thì khẩu phần ăn càng giảm. Không hiểu vì sao mà ngày càng nhiều đứa trẻ được đưa vào trại tế bần thế không biết ? Đã xuất hiện những cuộc cãi vã tranh giành nhau miếng ăn, đứa lớn bắt nạt đứa bé, cốt sao cho đầy cái dạ dày. Chúng thường xuyên lâm vào cảnh thiếu bữa hoặc nửa bữa, các cô bảo mẫu thì luôn miệng kêu ca là quỹ từ thiện ngày càng ít.Cuối cùng, nó bắt chước một số đứa lớn, bỏ trốn ra ngoài đi xin ăn. Cũng có khá hơn thật, nhưng đêm đêm nó phải vạ vật dưới những mái hiên, vỉa hè. Mưa khuya gió sớm đã vượt quá tầm sức chịu đựng của nó, để một chiều, nó hổn hển những bước chân nặng nhọc với cơ thể đang tăng dần nhiệt độ dạt vào cái vòm của ông lão. Dù không muốn cũng phải nói rằng “ Có bàn tay điều tiết của Thượng đế ở đây”. Kể từ hôm đó, người ta không thấy ông lão mù ngồi thu lu ở một góc chợ nữa, mà đôi lão ấu ấy dung dăng qua các ngõ ngách của góc chợ, cái mũ cũng nhiều lần được cho vào túi áo hơn, bà hàng cháo có thêm một khách quen, có điều khách này phải xơi một lúc hai tô.

Một lần thằng bé thắc mắc hỏi ông lão :

- Ông ơi ! Thế lúc trước không có cháu dắt, ông làm sao đi ?

- Ông có nhiều mắt lắm cháu ạ. Đây này…

Ông lão chỉ vào đôi tai, cái mũi, đôi tay đôi chân và cả cái gậy. Thằng bé tròn mắt ngạc nhiên, ông cười giải thích :

- Này nhé, từ chõ ông cháu ta ngủ ra hết ngõ hẻm là ba mươi tư bước chân, từ ngõ hẻm ấy rẽ trái, đi bảy mươi tám bước nữa là đến chỗ gò thùng. Từ chỗ gò thùng cách hàng phở là sáu mươi hai bước, qua hàng phở bốn mươi sáu bước thì rẽ phải, ở đó có cái cột đèn đường, từ cột đèn ấy đã nghe lao xao tiếng chợ búa, ông sẽ đi thêm độ chín mươi bước nữa là đến được chỗ ngồi. Sức nóng của ánh mặt trời và những âm thanh quen thuộc xung quanh là chiếc đồng hồ của ông đấy.

Thằng Lạc ngẩn người ra nghe rồi nói :

- Ông có nhiều mắt thế thì đâu cần phải có cháu dắt.

- Cần chứ, có cháu ông đi được nhiều chỗ hơn, lại được nói chuyện thế này. Cháu không thích ở với ông sao ?

- Cháu thích chứ. Cháu không ở với ông thì ở với ai bây giờ. Cháu không về trại nữa đâu, cháu sợ lắm rồi.

Chả cứ gì đám trẻ trong trại tế bàn ấy tranh giành nhau miếng ăn, chả cứ gì nơi buôn ngược bán xuôi mới tranh giành nhau cái sống, mà ngay đến cái chốn gọi là “đáy xã hội” cũng không thóat khỏi quỹ đạo ấy. Khu chợ không bao lớn mà ngày càng nhiều đệ tử Cái Bang. Cái mũ của ông cháu lão mù đã phải nhận nhiều cái lắc hơn, kèm theo câu than vãn :

- Buôn bán thì ế ẩm, mà cứ liên tục đóng thuế không biên lai này thì chết. Không biết ở đâu ra mà lắm thế ?

- Ăn mày là ai ? Ăn mày là ta. Đói cơm rách áo thì ra ăn mày.Nói đâu xa, cứ một cơn bão lũ đi qua, là biến khối người thành bốn không rồi, không đi ăn mày thì còn làm sao ?

- Đời sao chán vạn cảnh khổ thế bà nhỉ ? Cứ chắt bóp chưa đâu vào với đâu, ông trời cuốn phăng đi một cái lại trắng tay.

- Thé cho nên mới nói, ăn ở nhờ cái đức, trời thương thì được nhờ chứ trời hại chẳng mấy chốc.

Đại loại những câu chuyện như thế vọng vào tai ông lão, nhưng ông vẫn chưa có ý định đi tìm mảnh đất sống khác. Nói gì thì nói, làm nghề gì cũng lệ thuộc vào cái thói quen, quen nơi thuộc chốn rồi bỏ đi cũng khó. Cho đến một hôm như thường lệ, cháu đi trước ông đi sau, chợt có một người giữ tay ông lại hỏi :

- Ông ơi ! Đi cùng ông có mấy người ?

Ông lão ngẩn ngơ chưa biết câu hỏi ấy là ý gì, nhưng ông cũng trả lời :

- Dạ hai. Tôi và cháu bé đây.

Lập tức giọng nói lúc trước vang lên một cách tức giận :

- Cô kia, sao cô lại chận tiền của họ hả ?

Một người đàn bà bế một đứa bé đáp lại với giọng ngang ngược :

- Việc gì đến chị mà chị xía vào.

Nhiều tiếng nói xôn xao nổi lên :

- Ôi trời ! Lại còn cái nước thế nữa. Thảo nào, cứ thấy thằng bé chìa mũ, móc ra cho thì cái ca nhựa đón lấy. Thật tệ quá, cùng cảnh ngộ với nhau mà còn không biết thương nhau…

- Lại còn ăn nói cái giọng bầy chây thế hả ?

- Cho nó vài cái tát vỡ mặt đi.

- Cho nó vào đồn công an đi.

Ông lão mù nghe rõ chuyện, tâm trạng ông bừng lên sự phẫn nộ :

- Trời ơi ! Sao cháu không nói cho ông biết ?

Thằng Lạc mếu máo :

- Bà ấy dọa đánh cháu, không cho cháu nói.

Người đàn bà kia bế con lủi vào đám đông biến mất. Cũng chẳng ai thèm đuổi theo, vài người chửi với vài câu cho bõ ghét. Ông lão mù đứng thuỗn người, cơn phẫn nộ nhanh chóng chìm xuống, và trỗi dậy trong ông là một cảm giác xót xa, tê tái. Tâm trạng bất lực vì không thể tự vệ, cũng không được bảo vệ khiến ông rã rời, ngao ngán. Ông lào thào bảo thằng Lạc

- Thôi, ta về đi cháu.

- Nhưng mà sáng giờ chưa xin được đồng nào cả ông ạ.

Câu nói của thằng bé cộng vơi câu chuyện vừa xảy ra làm một số người động lòng trắc ẩn, những tờ tiền lẻ thi nhau rơi vào mũ, hai ông cháu luôn miệng cảm ơn. Hôm sau ông bảo thằng Lạc :

- Đừng ra chợ nữa cháu ạ, ông cháu mình chịu khó đi xa một tí vậy.

Thằng Lạc vừa tức giận vừa buồn bã nói :

- Cháu mà lớn tí nữa, họ không bắt nạt được cháu đâu.

- Thôi cháu ạ, họ cũng khổ quá mới làm thế.

- Ông cháu mình cũng khổ vậy, nhưng có làm thế bao giờ đâu.

- Ừ thì ông cháu mình khác họ. Mà thôi, biết đâu mình đi dọc những khu phố lại xin được nhiều hơn thì sao.

Câu động viên mang theo tí ước vọng làm khuôn mặt thằng Lạc tươi tỉnh lên. Thế là hai ông cháu thung thăng qua các ngả đường. Quả là cũng có khá hơn thật, đôi khi sự rủi ro này lại đem lại điều may mắn khác. Trên những con đường hai ông cháu ngày ngày đi qua có một cái trường học. Mỗi lần đi qua đó, thằng Lạc lại lần chần chậm bước, bên trong vọng ra tiếng đọc bài giòn giã. Mấy lần thế, ông lão để ý, và ông hỏi :

- Cháu có thích đi học không ?

- Cháu thích lắm..nhưng mà…

Ông không nói gì. Lúc còn đi xin ở chợ, ông thường được nghe khối chuyện. Ông nhớ có lần nghe người ta kể về một lớp học tình thương của các ma sơ nào đó, ông hỏi tìm đến chỗ ấy. Đúng như ông đã nghe, có người tốt bụng dẫn hai ông cháu đến tận nơi. Và thế là ngày ngày, hai ông cháu chỉ đi dạo buổi sáng, chiều đến thằng Lạc lại để ông ngồi một chỗ nào đó, tan học nó ra đón. Trong cái vòm của ông lão bây giờ, tối tối có thêm ngọn đèn dầu con con. Thằng Lạc vui sướng kể cho ông nghe những gì nó đã được học làm ông cũng vui lây. Một hôm nó buộc miệng :

- Không có ông, chắc cháu chẳng được đi học thế này đâu ông nhỉ ?

- Không có ông thì cũng sẽ có người khác chứ.

- Chẳng có ai thương cháu như ông đâu ông ạ.

Rồi nó vụt bá cổ ông :

- Ông ơi ! Cháu cảm ơn ông lắm.

Trong náo nức tình cảm của thằng bé, giọng ông chợt xa xôi, mơ hồ :

- Ông phải cảm ơn cháu mới dúng chứ.

Thằng Lạc nghe không rõ, hỏi lại :

- Ông nói gì thế ạ ?

Ông sực tỉnh khỏa lấp :

- Không, không nói cháu, cháu học bài xong chưa ?

- Gần xong rồi ông ạ.

- Ừ thôi, học cho xong đi rồi đi ngủ.

Lát sau, nó giục ông :

- Ông ơi ! Cháu ngủ dây, ông cũng ngủ đi ông nhé.

- Ừ, cháu cứ ngủ trước đi.

Nói xong, ông lão ngồi dựa lưng vào vách tường. Trong tâm trí ông, cuốn phim quá khứ đang tua ngược. Một quá khứ mà ông đã bao lần vùi chôn, cuộc trò chuyện với thằng bé vừa rồi như một nhát cuốc vô tình đã đào xới lên tất cả. Cho đến bây giờ ông cũng không hỉểu nổi, tại sao một biến cố lớn lại có thể xảy đến với con người ta dễ dàng như thế ?

Là con trai độc nhất giữa năm chị em, ông gần như được hưởng toàn phần sự ưu đãi của cha mẹ. Thôi thì không còn thiếu những ý thích gì của ông mà không được thực hiện. Một cụm từ nghe vừa xưng tụng vừa mỉa mai được gán cho ông “Ông Trời con”. Nhận thức được vai trò “dộc đinh” của mình, ông lại càng không biết đâu là giới hạn. Thói đời “chìu chuộng sinh hư hỏng, lêu lổng đâm điếm đàng”. Cha lại là một quan chức có cỡ nên không ít người cầu cạnh, không thiếu kẻ van xin. Những đồng tiền qua tay ông không khác gì lá mùa thu gặp gió. Những kim trong giẻ lâu ngày cũng phải chòi đầu ra. Mọt loạt đơn thư tố cáo kèm theo những chứng cứ cụ thể, đã giáng một vị đương kim chức sắc xuống thành một tên tội phạm. Gia sản bị tịch biên, cha ông vừa nhục nhã vừa tuyệt vọng, vì mức án được tuyên cũng đủ cả đời còn lại không nhìn tháy ánh mặt trời, nên đã tự tử chết trong tù. Mẹ ông vốn quen ăn trắng mặc trơn, gặp cảnh gia đình sa sút, thêm tang chồng nữa, chỉ biết ngồi khóc than, nên chẳng bao lâu bà cũng đi theo chồng. Những đứa con phải tứ tán tha phương cầu thực. Một gia đình bề thế phút chốc thành tan hoang. Một điều mặc nhiên là “Không có nghề trong tay tất có ngày ăn trộm”. Vốn quen tiêu tiền như nước, lại bản tính hoang đàng thích xưng hùng xưng bá, chẳng bao lâu ông nổi danh là tay anh chị một vùng. Nhưng cổ nhân đã thừa kinh nghiệm “ Vỏ quýt phải có móng tay”. Sau một trận tranh hùng, ông bị ném ra đường chẳng khác một cái bao rách, và hậu chứng vĩnh viễn là một khoảng tối tăm bao la như cuộc đời còn lại của ông. Đã đôi lần ông tìm đến cái chết, xong không đủ can đảm, và như có một điều gì đó ngăn ông lại, đánh thức trong ông một góc người. Rồi ông nghĩ, ông phải sống, cho dù cuộc sống bây giờ như một sự đọa đày, nhưng có lẽ nó còn là một lời ăn năn sám hối, một sự thanh toán sòng phẳng của một kiếp người.

Ơn trời dun rủi, đẩy thằng bé lạc loài này vào tay ông. Dù chỉ là một chút nhỏ nhoi cũng đủ cho ông có được cảm giác thanh thản khi nhắm mắt, rằng cả một đời người, không đến nỗi là một sự quá thừa thãi. Ông khẽ thở ra một hơi dài, vùng ký ức không thể nào bôi xóa, mỗi lần hiện về lại nhấn chìm ông trong sự đau thương, tiếc nuối. “Giá như ta được sinh ra trở lại!”

Trời đêm, những con gió đông hun hút, thằng bé đã ngủ rất say, nó cong người như con tôm luộc trong cái áo đầy mụn và của ông thay cho tấm chăn. Ông lão mù lần tay, kéo cái áo lên đắp kín cổ cho thằng bé, xua xua mấy con muỗi, ông nhẹ nhàng nằm xuống bên cạnh. Thằng Lạc trở mình quay lại, quặp chân tay ôm chặt lấy ông. Ông khẽ vỗ vỗ ào lưng thằng bé, và đưa tay quệt nhẹ một chất ướt trên khóe mắt mình.

© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả gởi từ Ban Mê Thuột ngày 09.11.2011.
. Trích đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com.