HẠT CƠM THIU



Thấy bé Thảo quẹt xoành xoạch cái thìa vào lòng bát một cách tuế toá, làm những hạt cơm văng ra tung toé, tôi nhăn mặt :

- Con nhặt từng hạt cơm lên cho ba.

Vốn được cưng chìu, bé Thảo phụng phịu :

- Có mấy hạt rơi mà ba cũng bắt con nhặt, để lát mẹ quét nhà là sạch thôi mà.

- Không được, phải nhặt lên. Thảo. Con có nghe lời ba không ?

Thấy tôi nghiêm giọng, nghiêm mặt, cô con gái không dám tủng hủng nữa, ngồi xuống nhặt từng hạt cơm. Vợ tôi vẻ không vui :

- Anh sao thế ? Bắt ne bắt nét con bé.

- Phải tập cho nó biết quý từng hạt gạo chứ. Dạy con phải dạy từ những nhỏ nhặt nhất, đừng có phiên phiến quá sau rồi hỏng. Có phải ăn những hạt cơm thiu mới biết bát cơm ngon lành nó quý giá đến thế nào.

Bé Thảo nhảu giọng :

- Cơm thiu thì ai mà ăn hả ba ?

- Có đấy con ạ. Không phải chỉ một lần, mà ba đã phải ăn đến ba lần rồi đấy.

Câu nói được gìm lại trong cổ họng đúng lúc. Nhắc đến điều này là trong lồng ngực tôi lại nhói lên. Bởi mỗi lần phải ăn những hạt cơm thiu ấy, là một lần ghi khắc một dấu ấn không thể quên trong đời tôi.

Lần thứ nhất, cũng là lần đau đớn nhất. Ấy là thời điểm trọng đại của đất nước. Ký ức tôi không ghi nhớ được gì nhiều hình ảnh của những ngày đùng đoàng bom đạn, lúc ấy tôi mới khoảng 6,7 tuổi. Chỉ nhớ rõ nhất, có một bữa cơm dở dang, mà mỗi người trong gia đình tôi phải bê theo bát chạy xuống hầm khi có tiếng máy bay ì ì vọng tới. Tôi chậm chân hơn mọi người vì còn quay lại gắp thêm một miếng thịt. Và chỉ bằng một khoảnh khắc gián đoạn ấy đã chia cắt tôi và gia đình bằng một tiếng nổ chát chúa và tôi không còn biết gì nữa. Không biết tôi đã ngất đi trong bao lâu, chỉ mang máng nhớ, khi tỉnh dậy, tôi kinh hoàng bởi bao gạch đá lấp gần hết thân mình, muốn khóc gọi ba mẹ nhưng cũng không còn đủ sức. Bản năng sinh tồn đã cố đẩy tôi nhoai dần ra khỏi đống gạch. Trời tối sẫm, lạnh và đói, tôi quờ quạng sao đụng phải chiếc bát, trong ấy còn sót vài hạt cơm. Hẳn nó đã bị văng cùng tôi, cố nhét những hạt cơm ấy vào miệng, vị chua lờm lợm làm tôi muốn ụa ra. Nhưng cái đói đã thắng, Sau đó tôi lại thiếp đi dưới một mảnh tôn. Rồi tôi được cứu bởi những người hàng xóm. Họ thật ngạc nhiên khi thấy một đứa trẻ lại có thể sống sót sau sự chấn động thư thế. Khi ấy, tôi mới biết, trên đời không còn ai là người thân của tôi. Vào tuổi ấy, tôi đâu đã đủ cảm nhận nỗi bất hạnh ấy lớn đến thế nào, chỉ biết oà lên khóc, khóc vì sợ thì đúng hơn.

Đã không rơi vào cái chết nghĩa là phải đối mặt với sự sống. Bằng sự cưu mang của bà con lối xóm, tôi nhích dần qua thời gian. Nhưng họ cũng chẳng cưu mang mãi được, khi chính bản thân họ cũng đang rất khốn khó, thế là tôi thành một đứa trẻ lang thang. Sức vóc chẳng được là mấy, nên tôi nhập bọn cùng một lũ cũng tương đương, khi thì xin ăn, khi thì quanh quẩn ở những nơi hàng quán, chực những người khách đứng lên là xô tới húp vét cặn thừa. Một hôm, do cơn sốt trong đêm trước, tôi chẳng tranh nổi, cứ bị gạt ngã văng ra, người lớn chả ai buồn để ý, họ còn mải xua đuổi lũ ruồi nhặng chúng tôi. Tôi mệt quá, lê vào một góc chợ thỉu đi. Đêm đến, khi cơn sốt dài đã dứt, bụng đói cồn cào, nước dãi tứa ra, tay chân lẩy bẩy, tôi quáng quàng đi tìm cái ăn. May mà các chú bảo vệ không chú ý, nên tôi lọt lại trong khu chợ đã đóng cổng. Lần mò mãi, tôi đụng phải một cái bọc lylon, Vội và mở ra, trong đó là một nắm cơm đã bốc mùi mốc nặng, tôi cuống quýt phủi lớp men màu gạch của “vị cứu tinh”, rồi cho vào mồm trệu trạo nuốt. Đó là lần thứ hai tôi phải ăn những hạt cơm thiu. Sau này, mỗi lúc nhớ lại, không hiểu sao cơ thể có những lúc lại chấp nhận được những loại khuẩn trùng kinh khủng thế ? Quả là một điều khó hiểu của thuyết tự nhiên. Biết bao người, nhà cao cửa rộng, ăn ngon ngủ ấm, được tẩm bổ chăm sóc đầy đủ, thì lại cứ hay bệnh nọ tật kia. Còn lũ mái hiên lòng phố dãi dầu chúng tôi thì cứ lùi lũi mà đi qua, có chút ốm đau nào thì tự khắc khỏi, ăn còn chưa có, nói gì đến thuốc. Tóm lại một câu là “Trời để sống” vậy.

Lớn hơn tí chút, đã có thể kiếm sống bằng một vài công việc, không dư dả gì, chỉ đắp đổi qua ngày được đã là tốt. Lần hồi tôi cũng trở thành một thanh niên cứng cáp. Thế rồi, sau một cái vỗ vai, tôi đi theo một loại hình công việc, mà hiệu quả của nó phần nhiều phụ thuộc vào cái gọi là vận may. Câu thành ngữ “Ngậm ngải tìm trầm” có lẽ cũng chưa đủ để diễn tả hết những nỗi nguy nan nhọc nhằn của công việc này. Nhưng sức hút về giá trị của sản phẩm thì đủ át hết những lo sợ, ngại ngần. Chỉ cần từ hai đến ba lần gặp may, thì sản nghiệp trong tay cũng gọi là đủ để đổi đời. Chính vì vậy mà những ai dấn thân vào công việc này sẵn sàng mặc lòng đánh đổi, có khi là cả tính mạng.

Cuộc sống vốn là một chuỗi lòng vòng ân oán, may rủi, được mất. Và rất nhiều khi chỉ vì một giá trị vật chất tầm thường, mà con người ta dễ dàng ra tay loại bỏ nhau. Không có con đường dẫn đến thành công nào mà không đầy rẫy những gian truân, nguy ngại. Một trong số ấy lại có thể đến từ bạn đồng hành. Hạnh phúc và bất hạnh đôi khi chỉ cách nhau một tích tắc. Tiếng reo hò mừng rỡ chưa kịp tròn mồm, thì tôi bỗng có cảm giác đau điếng phía sau đầu, và loạng choạng gục xuống.

Một lần nữa, số phận tôi lại tìm đến câu “Trời để sống”.

Cho dù khi tôi có lại được nhận thức thì xung quanh tối đen và cảm giác mình đang ở trên một vùng ẩm ướt. Định thần một lúc, tôi nhớ ra mọi chuyện và hiểu mình đang ở trong một tình cảnh như thế nào. Việc cần thiết trước nhất là rà soát lại những cơ năng của cơ thể. Chân tay cử động bình thường, trong người cũng không có triệu chứng gì khó chịu, chỉ có phía sau đầu vẫn còn đau nhức. Rất may là cú đập không đủ mạnh nên chi gây choáng ngất. Tôi có gắng lần mò leo lên cây dó, cũng là cái cây mà lúc ban ngày tôi tìm thấy ổ trầm. Leo lên được một chạc cây khá vững, tôi tựa người thở dốc. Dù không muốn, nước mắt tôi vẫn lặng lẽ rơi. Còn bao chua chát, cay đắng mà cuộc đời này còn dành tặng cho tôi nữa. Và để tồn tại được một kiếp người, tôi sẽ còn phải trả giá những gì nữa đây ? Một đêm chập chờn thức ngủ, chập chờn mộng thực, chập chờn sống chết. Ngày tiếp đến, tôi bị lạc trong rừng, và lần thứ ba trong đời, những hạt cơm thiu lại bám lấy tôi. Dù đã nhớt nhợt, nhưng dù sao có chất gạo vẫn tốt hơn lá rừng. Nuốt những hạt cơm tủi cực ấy, tôi thấy thương mình quá. Vì đâu nên nỗi ? Lầm lũi giữa cây lá, chim muông, giữa lặng thinh không có bóng người, tiếng người, tôi chợt nghĩ, thôi thì ở lại với rừng, rừng nuôi thì sống, rừng không nuôi thì chết vậy. Tôi có vùi thân nơi đây thì cũng không để khổ để nợ cho ai mà. Thế giới con người đã khuất xa, chắc sẽ chẳng còn ngọn roi gió bão nào nữa. Ấy thế nhưng đâu phải cứ muốn là được, dù cho điều ước muốn ấy có sơ giản đến đâu. Một người dân tộc thiểu số đi đào măng đã đưa tôi trở lại thế giới người.

Ít lâu sau, mọi người thấy ở một góc phố, nhỏ nhoi một ít vật dụng sửa vá xe, một thanh niên bước vào tuổi tam thập, ít nói, cần mẫn với công việc. Ai biết đâu chính sự cần mẫn ít nói ấy đã dúi vào tay tôi một bàn tay mềm mại. Lòng trời vẫn rộng, lòng đời vẫn mở, lòng người vẫn vui. Ừ thì việc đến cứ đến, còn nhận được thì cứ nhận, còn yêu được thì cứ yêu, cuộc sống vẫn còn những điều cho ta đáng trân trọng.

Có vợ rồi có con, cuộc sống tất bật với bao điều tươi mới, tôi chẳng còn có dịp giở lại những trang đời rách tướp ấy. Nếu không có việc răn dạy bé Thảo hôm nay, thì tôi đã như quên hẳn những năm tháng xót xa của minh. Nhưng nhớ cũng chỉ để nhấm nháp riêng mình thôi, chẳng bao giờ tôi kể những chuyện ấy cho vợ con nghe. Để làm gì ? Vì sự thương cảm hay mặc cảm cũng đều là không tốt. Dẫu sao thì tất cả cũng đã qua rồi. Con người chỉ có một đường tiến lên phía trước, có ngoái lại chăng cũng chỉ là một chút vọng âm. Để biết đôi chân mình đà từng có lúc…Thế thôi.

© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả gởi từ Ban Mê Thuột ngày 05.11.2011.
. Trích đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com.