KỲ THỨ
NĂM
Chiếc
xe Toyota đời mới toét lên
một hồi còi rồi đổ
xịch trước nhà
của Xính. Hàng trăm
con mắt đổ dồn về phía chiếc xe. Cửa xe mở ra, một
người đàn
ông trạc tuổi năm
mươi, mặc comlê
màu xám, tay xách chiếc va li khóa số bước xuống. Người
lái xe nói với người đàn ông:
-
Anh xuống đây, em vào tiền trạm trước.
Người
lái xe đi vào, tìm vợ Xính thì thầm vài câu rồi rút ra
một tấp tiền năm
ngàn dúi
vào tay thị. Mặt thị rạng rỡ hẳn lên, thị đi ra, dẫn người
đàn ông
vào trong gian buồng mịt mù khói hương. Hàng chục người
nhao nhao phản đối:
-
Không được chen ngang. Tôi đã đợi
hai ngày,
hai đêm rồi.
Người
đàn ông lừ mắt nhìn đám
người đang phản đối mình
bằng con mắt khinh bỉ. Vợ Xính vội vã thanh minh:
-
Các bác thông cảm, đây
là người
nhà của gia đình tôi, có chút việc gia đình muốn bàn với
chồng tôi chứ có xem xét gì đâu!
Đám
đông nghe vợ Xính nói, biết bị lừa nhưng đành nhượng bộ
vì vợ Xính là người ghi danh sách. Được vào xem hay không
do vợ Xính quyết định. Người đàn ông đi vào, thấy
Xính còn quá trẻ, chỉ độ
22, 23 tuổi, liền chào
bằng anh. Xính lạnh lùng:
-
Vào cửa Phật không được
vô lễ. Ta là
người mà Đức Phật tổ giáng thế, chứ không phải người
trần mắt thịt!
Chẳng
cần xem lý lịch, hay điều
tra xác minh, Xính biết trăm kẻ đi xe con, ăn mặc sang trọng
đều cầu xin Xính xem cho thỉ cả một trăm kẻ đều là kẻ có chức
có quyền và đang
bị phốt gì
nên để
dạy cho kẻ " vô lễ " kia bài
học, Xính phủ đầu:
-
Cái ghế của ngươi đang ngồi béo bở lắm. Nhiều kẻ
đang tìm
cách lật đổ.
Nếu không biết đường chống đỡ thì
mất chức, vào tù có ngày.
-
Dạ! Con thật có mắt như mù, xin thầy bỏ quá! Quả là
con đang bị thằng phó hằm hè chiếc ghế. Nếu thầy mách
bảo được cách thoát khỏi nạn này, tốn kém bao nhiêu
con cũng lo đủ.
Người
đàn ông mở va ly lấy ra một tập toàn tiền năm mươi
ngàn mới tinh đặt vào chiếc đĩa sành trên bàn thờ. Rồi
theo mệnh lệnh của " thầy", người đàn ông thắp
ba nén nhang, cúi đầu vái ba vái.
Xính
hỏi tên, tuổi của người đàn ông, lầm rầm khấn vái
bằng những câu chữ Hán lẫn chữ Nôm. Khấn xong, Xính
căn cứ vào cuốn lịch vạn sự in lậu về tuổi tác các
con giáp để phán về cái tuổi chó long đong lận đận
của người đàn ông. Về quá khứ, hiện tại, Xính chỉ
nói chung chung, qua loa vì sợ bị hớ. Còn về tương lai,
Xính vừa vẽ ra một khung cảnh huy hoàng vừa đe dọa, nếu
không giải hạn và chịu khó đến cửa Phật thì đời sẽ bị
chúng nó dìm
xuống bùn đen!
Người đàn
ông tin lời Xính. Không tin sao được
khi " thầy " biết mình đang bị đấu
đá! Mình
tham ô hàng tỉ! Dùng tiền công quỹ để
bao bồ bịch! Không tin sao được khi có hàng
trăm
người từ tận Hà
Nội, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh cũng lặn lội ra đây để nhờ
"thầy" Xính xem hộ!
Người
đàn ông
cảm tạ Xính đi,
vừa ra tới ngõ
thì gặp Đại
và hai
công an viên đang
giải thích cho đám đông giải tán, không nên
tin vào bói toán. Người đàn ông vốn đã quen thói hách
dịch, nay lại sĩ diện trước đám đông nên khi nghe Đại
hỏi giấy tờ đã quát toáng cả lên:
-
Tôi là trưởng công an xã. Thấy anh là công chức có vẻ
sang trọng lại đi
xem bói toán nên
tôi có quyền hỏi giấy tờ.
-
Hà, hà, hà... Tôi báo cho anh biết, thứ trưởng bộ công
an còn là bạn học của tôi đấy
nhé!
Người
đàn ông bảo đây là vấn đề tự do tín ngưỡng, Nhà
nước bảo vệ sự tự do tín ngưỡng của mọi công dân.
Nếu Đại động vào người ông ta, Đại đã can tội xâm
phạm thân thể và danh dự của công dân! Đại
hiểu mình đang đụng vào một người
có quền thế, cần phải cứng rắn thì mới làm cho đám đông kia
nể sợ. Người đàn
ông không chịu đưa
giấy tờ cho Đại kiểm tra, Đại cũng không để cho xe
chuyển bánh. Người đàn
ông biết không thể lay chuyển được
Đại nên
cuối cùng chấp nhận giải pháp đi
về trụ sở công an xã để làm việc. Đại đồng ý.
Tại trụ sở, người đàn
ông khai tên tuổi Vũ Văn
Pháo, 55 tuổi, giám đốc Công ty TNHH Sao Mai ở Hà Nội. Đại cho lập
biên bản,
xử phạt hành chính rồi để
Pháo ra về. Đại thở dài
lắc đầu
không thể hiểu nổi tại sao lại có nhiều người tin tưởng
một cách quá mù
quáng vào cái gọi là Đức
Phật giáng thế vào
một kẻ từng vào tù vì tội đánh
bạc! Đã
hai lần Đại
cho mời Xính lên
trụ sở làm việc về tội bói toán nhưng Xính bảo đã
thôi hành nghề. Mọi người kéo đến là quyền của họ,
Xính đâu có xem và cũng đâu có quyền đuổi họ. Xính
lại còn đề
nghị cả công an xã
hãy dẹp hộ đám
đông tụ tập ngày đêm
quanh nhà! Kỳ thực thì Xính vẫn lén lút xem. Xính cho người
nhà canh chừng từ ngoài đường, hễ có dấu hiệu gì thì
báo để
Xính xử lý. Sự việc nếu chỉ thoáng nhìn
thì có vẻ dẹp bỏ một cách đơn
giản. Nhưng bắt tay vào
thì quả là một vấn đề
nan giải. Hàng
trăm
con người từ tứ xứ kia đến đây, mất bao công sức,
tiền của, đời nào
chịu nghe mấy lời vận động
để ra về, ấy là
chưa nói không ít kẻ cuồng tín sẵn sàng chống lại để
bảo vệ " Đức Phật giáng thế". Xử lý không
sáng suốt và không khéo, rất có thể xẩy ra bạo động. Chả nói
đâu xa, những người dân ở xã,
nhờ có đám
đông mà
kiếm được
khối tiền thông qua các dịch vụ cho thuê
chỗ ngủ và ăn
uống, họ cứ ngấm ngầm ủng hộ Xính và
người đi xem. Chỉ có bắt được quả tang mới giải tán
được đám đông giữ gìn trật tự anh ninh. Đại
nghĩ lại những sự việc vừa xẩy ra. Pháo đã giúp cho Đại một kế
sách. Đại đi xe máy lên
gặp trưởng công an huyện Trần Thương để nhờ trợ giúp.
Năm
ngày sau, lại một chiếc xe con sang trọng nữa đến đỗ
trước ngõ nhà Xính, lần này thì ông khách còn sang trọng
hơn cả Pháo trực tiếp cầm tập tiền đưa cho vợ Xính.
Đám đông lại xì xầm phản đối.
Vợ Xính không giải thích như lần trước nữa mà vào nói với
Xính, lúc sau quay ra mời ông khách vào. Khách không gọi
Xính bằng anh mà lại gọi bằng em xưng anh. Xính nhắc nhở
và đến khi một tập tiền toàn tiền 50 ngàn được đặt
lên cái đĩa thì Xính bắt đầu
tiến hành
các công đoạn:
Bảo khách thắp hương, tra hỏi tên
tuổi và vừa phán vừa dọa độ
nửa tiếng Xính bảo xong ,về cứ y thế mà
cúng lễ ắt tai qua nạn khỏi, bổng lộc lại đến như nước
chảy chỗ trũng. Khách móc túi giơ ra tấm thẻ nói với
Xính:
-
Tôi là
công an, đã bắt quả tang
anh đang
hành nghề
mê tín. Xin mời anh về trụ sở công an xã để
làm việc.
Xính
tái mặt, một lúc, bản chất lưu manh vốn có sống lại,
hắn chạy ra ngoài kêu ầm lên bị bắt oan hòng để cho cả trăm
con người bên
ngoài lao vào cứu hắn. Nhưng cùng lúc đó, bốn công an
huyện, năm công an xã và Đại
đã kịp
ập vào bắt giữ Xính. Vị khách - Đại
úy Tạ Văn Chiến được công an tỉnh chi viện đã rút máy ghi âm
mở ra cho mọi người nghe. Một số kẻ cuồng tín la hét,
phản đối. Có kẻ nào đó còn ném cả đất,
đá về phía những chiến sĩ công an. Tuy bị một hòn đất
ném trúng trán, máu chảy khá nhiều nhưng đại úy Chiến
vẫn giải thích cho mọi người rõ
hành động
lừa bịp kiếm tiền của Xính. Hai tên
ném gạch, đá
bị bắt. Xính cố vùng
vẫy, gào lên :
-
Ta là người Đức Phật giáng thế. Kẻ nào bắt ta, cả
nhà sẽ bị hoạn nạn. Bớ những đứa con ngoan đạo, hãy
vào cứu ta để
được hưởng âm phúc cảu Phật tổ!
Không
một ai lao vào
cứu Xính. Đại
úy Chiến, hai chiến sĩ công an huyện dẫn Xính và hai tên gây rối
ra xe đưa
về trụ sở công an xã. Đại và những người
còn lại tiếp tục vận động
mọi người thu dọn đồ đạc về quê.
Phải đến
tận hôm sau, người cuối cùng
quê ở Nga Sơn,Thanh Hóa mới khăn gói ra về.
Đại
xin phép ông bà Ninh rồi bước vào buồng Hiền. Hiền ngồi
trên giường, mắt ngước lên bàn thờ có ảnh của Hường,
hai tay chắp trước ngực, miệng lẩm bẩm một điều gì đó không rõ.
Đại
khẽ nói một câu để đánh động Hiền, Hiền vẫn ngồi
bất dộng. Dạo này
trông Hiền gầy và xanh xao quá. Đại
không thể tưởng tượng nổi cuộc đời Hiền lại bị
đẩy đưa vào
một sự bi đát
đến nhường này! Đại gọi thêm hai lần nữa
mà Hiền vẫn không nhúc nhích, Đại
nén tiếng thở dài, đứng ngắm nhìn Hiền một lúc
nữa rồi lặng lẽ bước ra. Ông bà Ninh rót nước mời
Đại, kể cho anh nghe từ hôm bị bắt làm con tin, Hiền
đã thay đổi
khá nhiều về tính cách. Hiền không còn
cãi lại và xua đuổi
mọi người, gần như cả ngày
Hiền chẳng nói một câu nào. Một ngày có đến
năm, sáu tiếng Hiền ngồi trước bàn
thờ Hường. Có một điều duy nhất mà Hiền vẫn không
chấp thuận đó là đi khám bệnh, hoặc giả có mời bác
sĩ, ông lang đến Hiền cũng không cho khám. Một căn bệnh
quoái quỷ mà từng trước tới nay Đại chưa từng gặp.
Hay là ở gốc cây đa có ai chết oan uổng rồi nhập vào
người Hiền? Hay là chính linh hồn của Hường đã nhập
vào Hiền? Đại
không tin có ma quỷ nhưng Đại tin rằng con người có linh
hồn. Đại nhớ trước ngày
Hường vĩnh biệt anh ra đi, Hường và anh cãi nhau chí chóe
về việc con người có linh hồn hay không? Đại cho là không,
cho người chết đi là hết. Còn Hường khăng khăng
cho rằng con người có linh hồn. Lại còn bảo, ngay cỏ
cây cũng có linh hồn, chỉ có điều
con người chưa đủ trí thức để hiểu được linh hồn
của chúng hay không! Rồi Hường tỉnh bơ nói, nếu sau này chẳng may Hường
chết trước Đại, chỉ cần Đại thắp một nén hương
khấn linh hồn của Hường sẽ hiện về ngay! Ba hôm sau,
hai học sinh của trường đi học về, mải nghịch nước
nên ngã xuống dòng sông Còi nước đang chải xiết sau một
cơn mưa tầm tã một ngày, một đêm. Hường nhảy
xuống cứu được hai học sinh của mình, vì đuối
sức Hường đã
bị đòng nước nhấn
chìm. Hai ngày, hai đêm, dân làng đem thuyền ra
giăng lưới, quăng chài,
cả lặn xuống sông để
mò tìm
xác Hường. Hường vẫn im lặng nằm dưới dòng sông . Đêm
thứ ba, Đại
đang đi dọc bờ sông hòng
tìm kiếm xác Hường trôi vào bờ thì sực nhớ tới
cuộc cãi nhau về linh hồn với Hường. Đại chạy về
nhà lấy một nén hương, bật lửa đốt hương, cắm
xuống mép sông khấn:" Hường ơi! Em sống khôn, chết
thiêng, em đang ở đâu nói cho anh biết, để anh đưa em
về nhà!''. Khấn được một lúc, Đại thấy xác Hường
nổi lên trước mặt. Quên cả sợ hãi, Đại
nhảy xuống ôm xác Hường về nhà
ông bà Ninh. Từ đó
Đại tin con người có linh hồn .
Một
người con gái nhân hậu như Hiền thì
dẫu có ma, có qủi thì chúng cũng không bao giờ dám hại.
Hường thì lại càng không. Rõ ràng căn
bệnh có vẻ huyền bí này
của Hiền chỉ bắt đầu
từ vụ hiếp dâm. Hiền bị chấn động quá mạnh về tinh
thần nên
sợ hãi mà thành bệnh. Cũng như nhiều người con gái yêu
say mê, đắm đuối, đến khi bị bạc tình, đau
khổ, tuyệt vọng rồi dẫn đến điên
tình. Hiền khi đến
với Đại thì
mạnh mẽ nhưng thực chất Hiền là người yếu đuối và
đa cảm. Tính cách này của Hiền giống hệt với Hường
ngày xưa. Khi Đại bắt đầu có cảm tình với Hường,
nhận biết được điều này, tuy biết mình cũng đã
ngầm yêu chàng Đại
đẹp trai, hiền lành
nhưng Hường hễ cứ nhìn thấy Đại
là đỏ bừng mặt
lên, thậm
chí nói chẳng nên lời. Song khi đã yêu nhau rồi,
Hường lại tỏ ra bạo dạn. Còn Đại
thì lại
thấy có cái gì đó
sờ sợ. Không phải sợ hãi
về sự mạnh mẽ của Hường mà sợ vì khi mình muốn Hường
lại không cho, sợ Hường coi là bị xúc phạm! Ngay cái
hôm đầu tiên, sau khi Hường đã nhận lời yêu, Đại rất muốn
hôn ngay. Trước lúc gặp Hường, Đại thề sống chết
lần này
phải hôn bằng được.
Không hôn được thì
chết quách đi
chứ làm
thằng đàn ông chi nữa.
ấy thế mà ngồi cạnh Hường rồi thì lại không dám thực
hiện. Và nếu không có sự "vẽ đường
cho hươu chạy" của Hường chẳng biết đến lúc nào Đại
mới dám hôn. Hường biết tỏng Đại muốn hôn nhưng sợ.
Hường thỉnh thoảng lại vờ nói nhỏ vào
tai Đại
điều gì,
tranh thủ đặt
đôi môi mình
và má Đại.
Sau vài
lần thì thầm như vậy, Đại học theo. Còn thời gian từ
hôn má chuyển thành hôn môi lại xảy ra quá nhanh đến nỗi làm Hường hơi ngạc
nhiên! Còn việc Đại
run rẫy sờ vào
ngực Hường thì lại nằm ngoài tầm kiểm soát bằng lý
trí của Đại.
Lúc đó Đại cũng không hiểu mình
nữa, chỉ u mê đi
trước bộ ngực căng phồng, núp dưới con tim đập thình thịch. Sau này đã
thành thói quen, cái cảm giác ban đầu
không còn
nữa. Chỉ đến
khi Hường vĩnh biệt ra đi, nó mới sống lại mạnh mẽ
trong tâm trí Đại. Mỗi lần nhớ đến Hường là mỗi lần Đại thấy bàn tay mình rờ
rẫm lên hai bầu vú của Hường. Ngồi đối diện với
ông bà Ninh, tâm trí Đại lại đang bay lượn quanh người
Hiền, dáng ngồi của Hiền giống dáng người theo đạo
Phật đang thành tâm tụng kinh, gõ mõ. Nó khác quá xa với
dáng ngồi soạn giáo án hay chấm bài của học sinh của
Hiền ngày xưa. Cũng phải thôi, Hiền đã không còn đi dạy học
được nữa. Đó là
một sự đau
đớn và
hẫng hụt với Đại.
Ngày Hiền
còn đi
dạy, sau mỗi buổi tan trường Hiền thường tạt vào ghé thăm Đại trước
khi về nhà.
Nhiều lúc, Hiền chỉ vào hỏi Đại
đúng một câu gì đó rồi quay
ra ngay, ấy thế, ngày
nào mà Hiền không ghé vào, Đại
cảm thấy hụt hẫng. Bây giờ là
cả một chuỗi ngày dài đã không còn được mong ngóng,
Đại biết chẳng thể nào
có được
cảm giác chờ mong nữa, song chao ôi sao vẫn thấy nuối
tiếc đến thẫn thờ! Còn
học sinh của Hiền, chúng coi sự vắng mặt của Hiền trên
bục giảng là một mất mát quá to lớn. Hiền đã
dạy dỗ, yêu thương chúng như chính những đứa con mà
mình đẻ
ra. Và
chúng cũng yêu Hiền như yêu chính người mẹ của chúng.
Tất cả học sinh của Hiền đã khóc khi thấy Hiền không đến trường.
Chúng đã
kéo đến
nhà ông
bà Ninh hỏi thăm
Hiền bằng nước mắt và
những quả cam, quả chuối, trứng gà, cá mới đánh ở dưới
ao lên
và có cả những củ khoai lang mới luộc còn nóng hổi. Đại đã từng được chứng
kiến tình
cảm của học sinh với Hiền, Đại
thấy nó thiêng
liêng và cao cả. Nỗi đau,
niềm tiếc nuối và
Hiền không còn được
đứng trên
bục giảng nữa từng cơn, từng cơn dội vào tâm ca Đại,
Đại đã cố lắm mà nước mắt vẫn trào ra trước sự
ngạc nhiên, bối rối của đám học trò thôn quê.
Tình
yêu thật kỳ diệu nhưng cũng thật phức tạp, khó hiểu.
Khi có nó trong tay, người ta thấy bình thường, thậm chí
thờ ơ, nhưng khi biết sẽ mất nó, thì người ta lại cuống
cuồng yêu và sợ mất nó. Đại cũng thế, giờ đây không
còn tình yêu mà Hiền dành cho mình. Và Đại
yêu, yêu
trong sự đơn
phương, tuyệt vọng và
mãnh liệt. Nhiều đêm nằm khắc khoải
không ngủ được,
Đại ngớ ngẩn cầu mong, nếu Đại được chọn một trong
hai điều ước, hoặc trở thành
một ông vua giàu có, quyền uy, hoặc cưới được Hiền
khỏe mạnh như trước kia, Đại sẽ chọn điều ước thứ
hai. Giàu có mà làm gì! Quyền uy mà làm gì! Một khi không
có tình yêu. Đến
Tần Thủy Hoàng,
Napôlêôn lừng lẫy như thế mà vẫn yêu say đắm đó thôi!
Đại là một thằng nông dân chính hiệu, sinh ra ở thôn
quê, dẫu có đưa lên thành phố cho ăn đặc sản, mặc
complê, đi xe hơi, Đại cũng chẳng lấy làm tự do, sung
sướng bằng ăn cơm gạo quê, mặc bộ quần áo lính đã
sờn vai, cưỡi trâu trên bờ đê lộng gió, để rồi ngày
ngày được ngắm nhìn thấy Hiền.
Có
tiếng động
từ trong buồng phát ra. Đại nhìn
nhanh về phía cửa buồng. Hiền bước ra, nhìn mọi người
với ánh mắt thờ ơ. Hiền không nói gì, đi
ra ngoài
vệ sinh, lát sau Hiền quay vào, tự động
rót một cốc nước chè
xanh.
-
Hiền, con ngồi chơi, tiếp chuyện anh Đại, bố mẹ có
việc phải đi sang nhà bác Văn.
Ông
Ninh nói với Hiền. Chẳng có việc gì đâu,
ông muốn mình
và vợ đi
khỏi nhà để Đại có
điều kiện chuyện trò
với Hiền. Biết đâu
đấy qua việc tiếp xúc với Đại, ký ức về tình yêu sống lại,
Hiền dần dần bình phục, một sự hy vọng mong manh mà
ông Ninh thường nghĩ tới.
Ông
bà Ninh đi khỏi nhà. Hiền ngồi đối diện với Đại,
đôi mắt vô hồn nhìn ra khoảng sân trước nhà, nơi có
mấy con gà đang nhặt nhạnh những hạt thóc còn sót lại:
-
Hiền, anh yêu em, anh muốn cưới em làm vợ - Đại phá tan
sự im lặng bằng một lời cầu xin.
Hiền
im lặng. Đại nhắc lại lời cầu nguyện. Đáp lại lời
Đại, vẫn là sự im lặng của Hiền. Tiếng thở dài từ
lồng ngực của Đại phát ra nghe não nề đến
ớn lạnh. Giá như Hiền đã
là vợ Đại,
Đại sẽ vuốt ve, vỗ về Hiền. Đằng này
Hiền, xét về mặt pháp lý, là một người bạn, Đại
muốn ngồi cạnh Hiền, ôm lấy Hiền, làm cho Hiền sợ
hãi, bệnh nặng thêm là đã cấu thành tội
phạm.
Đại
thấy nếu cứ tiếp tục ngồi nhìn
Hiền thế này, Đại
phát điên
lên mất. Đại
đứng lên
vực Hiền vào buồng cho đỡ
mệt rồi lê
từng bước mỏi mệt đi ra ngoài.
Đại
nhận được thiếp mời dự đám cưới con anh Tiệm. Đại
thấy buồn và giận. Con bé Hải, anh còn lạ gì, năm nay mới 16
tuổi, ấy thế mà
bố mẹ nó đã cho đi lấy chồng.
Nạn tảo hôn ở các vùng
thôn quê đang
là vấn đề nhức nhối
mà ngay
ở cái làng của Đại
cũng không tránh khỏi. Người ta có con gái 16, 17 là đã phải lo gả chồng.
Có nhiều đám
cưới, cô dâu mới chỉ 15. Còn để đến tuổi
kết hôn, thì đã
thuộc diện khó lấy chồng rồi. Nhiều cặp vợ chồng
trẻ con, chồng 18, 19 vợ 15, 16 lấy nhau về còn gọi nhau
bằng mày tao, ăn
tranh phần của nhau, đánh chửi nhau lôi cả tên
bố, tên mẹ đẻ
ra mà
réo, ấy thế mà vẫn nhẫn nhục sống với nhau. Cũng không
ít đôi,
cưới nhau được một hai tháng đã
làm đơn
ra tòa.
Nhưng có lẽ đáng thương nhất vẫn là những đứa trẻ
được sinh ra từ những ông bố, bà mẹ trẻ con. Chúng
còi cọc, ốm yếu vì được
sinh ra từ thân thể của người mẹ chưa phát triển hoàn thiện, vì suy
dinh dưỡng. Trong tất cả những cặp vợ chồng choai choai,
tấn bi hài kịch trong cuộc sống của chúng có nhiều mà
Đại đã từng mắt thấy, tai nghe. Song điển
hình nhất
có lẽ vẫn là cặp vợ chồng Việt - Yến. Việt 17 tuổi,
Yến 16. Một hôm Việt đi
đường nhìn
thấy Yến đi
làm cỏ
lúc về, Việt đi
đằng sau, Yến đi trước. Việt thấy cặp mông của Yến
nở nang, liền đi dướn lên
vỗ đánh
đét: " Yến này,
mày có cặp mông ngon thế!". Yến chẳng những khôgng
chửi Việt là kẻ vô văn
hóa, dâm dê
mà còn ngoảnh mặt lại, nói tỉnh bơ: " Có thèm không?".
" Thèm" Việt đáp. Yến tiếp: " Thế thì cưới
đi, đây sẽ cho thoải mái". Hai tuần sau Việt - Yến
làm đám cưới. Ngày cưới, vì đêm hôm trước cô
dâu mải hát karaôkê với bạn khuya quá nên mệt, liền
bỏ mặc mọi người cỗ bàn, sang nhà đứa bạn đánh một
giấc. Tưởng cũng chỉ ngủ một tí, gần đến giờ đón
dâu sẽ về, nào ngờ ngủ say quá, quên hết cả trời đất.
Khi nhà trai đến đón dâu, không thấy cô dâu đâu, hai họ
tá hỏa bổ đi tìm. Gần một tiếng sau mới thấy cô dâu
tóc tai rũ rượi hớt hả chạy về. Đêm tân hôn Yến không
cho Việt nằm gần mình vì mồm Việt sặc sụa mùi rượu.
Việt năn nỉ mãi không được
nổi giận tát cho Yến hai cái, thế là
Yến đùng đùng bỏ ra về nhà
mẹ đẻ.
Hai gia đình
khuyên can mãi, Yến mới trở về nhà chồng. Việt,
do sĩ diện, bắt bố phải làm đám
cưới linh đình
cho oai mà gia đình lại nghèo,
nên bố mẹ Việt phải đi
vay mất tám triệu. Tiền mừng chỉ được ba triệu, Việt
bắt bố mẹ đưa cho mình
làm vốn riêng vì đây
là tiền
mừng! Bố mẹ Việt bảo phải trả nợ. Việt quát ầm
lên. Bố mẹ bực mình tuyên bố nếu lấy ba triệu thì
phải lo trả nợ. Việt thấy ba triệu tiền mặt sờ sờ
ra đấy,
nổi máu tham, đồng ý nhận ba triệu và
ký vào giấy nhận trả số nợ tám triệu. Cầm ba triệu,
Việt liền đi
mua một máy cátset mất triệu hai, về mở băng oang oang
cho cả xóm nghe thấy, để mọi người biết được mình là thằng chịu
chơi! Số tiền còn lại, Việt nướng hết vào cờ bạc.
Các chủ nợ kéo đến đòi tiền, Việt không
có trả, họ bắt cả cátset, xe đạp,
thậm chí chiếc giường cưới cũng bị khênh
mất. Không có ăn,
lại nợ chồng chất, vợ chồng Việt đánh chửi nhau liên tục.Yến bỏ
hẳn về nhà mẹ đẻ.
Nhiều đêmViệt
thèm khát tình dục, mò đến
nhà mẹ
vợ, bị Yến đuổi
về, Việt liền đi uống rượu rồi vác dao đến dọa giết
Yến và
cả nhà mẹ vợ. Ngày đó,
Đại và
lực lượng công an xã mà không ra tay kịp thời thì hẳn
án mạng đã xẩy ra. Việt
bỏ nhà đi
mất tích. Sau đó Yến sinh được đứa con gái ốm đau
quặt quẹo, nuôi con ba tháng thì
nó ra đi.
Đứa bé chết, chính Đại đã
lấy gỗ đóng
quan tài,
cùng một vài người nữa đem ra nghĩa địa chôn. Hình ảnh
một chiều đông
mưa, giá lạnh, Đại đào
lỗ chôn đứa
bé trong tiếng gào
khóc của con bé Yến và bà mẹ ám ảnh Đại
mãi. Nay
nhận được
giấy mời của bé Hải, Đại thấy buồn tê
tái. Đã đến
lúc không thể để tình
trạng tảo hôn tràn lan được
nữa. Tảo hôn sẽ gây ra hậu quả khôn lường cả trước
mắt lẫn mai sau. Trước mắt là
cảnh bất hạnh, chia ly của các cặp vợ chồng trẻ con.
Mai sau là cả một thế hệ rồi nhiều thế hệ nối tiếp
vừa thấp, bé, lại vừa kém phát triển về mặt trí tuệ. Đất nước này có hơn 80% dân
số ở thôn quê. Nếu tảo hôn diễn ra tràn lan, tương lai
của dân tộc, bắt đầu từ con người sẽ đi về đâu?
Phải kiên quyết hành động ngay từ đám này. Đại quyết
chí đi đến phòng làm việc của Quản .
Quản đang ngồi ngoáy
lỗ mũi ở bàn
làm việc, đó
là cái
thói quen cỗ hữu của Quản. Không ngày nào là Quản không
thò tay ngoáy mũi, có nhiều lúc vừa tiếp đân,
Quản vừa ngoáy mũi, tự nhiên
như ở nhà hoặc chốn không người. Đại bước vào, Quản
vờ chăm chú đọc công văn. Đại chào Quản, tới lần
thứ hai Quản mới đáp lại:
-
Chắc anh biết cháu Hải, con anh Tiệm chưa đủ tuổi xây
dựng gia đình,
sao anh vẫn ký giấy đăng
ký kết hôn? Anh có biết thế là
vi phạm luật hôn nhân không?
-
Nó và bố nó cam kết năm
nay tròn
18 tuổi, đủ
tuổi kết hôn thì
ký. Chả lẽ dân lấy vợ, lấy chồng mà chính quyền của
dân lại không cho!
Quản
xẵng giọng. Đại
đọc cho Quản nghe cả ngày,
tháng, năm
sinh của bé Hải, đề nghị Quản đi kiểm tra lại giấy
tờ khai sinh. Quản biết mình
sai, không thể căng
được với Đại nên
giảng hoà:
-
Chắc anh thừa biết, hai gia đình đã chuẩn bị cưới
xin cho hai đứa, mình không đăng
ký cho họ, họ lại chả đào
mả mình lên.Vả lại mình không đăng
ký, họ cũng vẫn tổ chức, thì
chi bằng cho êm chuyện, ký là xong!
Đại
bảo, nếu chính quyền không kiên
quyết, cứ cả nể mãi thì nạn tảo hôn chẳng bao giờ
dẹp được.
Nếu không đăng ký kết hôn mà
họ vẫn cưới, phải xử phạt thật nặng hai gia đình.
Gia đình nào chống đối, cứ mạnh
tay đưa ra xét xử theo luật, chỉ có như thế mới dẹp
được nạn tảo hôn. Việc đăng ký cho con bé Hải mới
16 tuổi là
sai pháp luật, cần phải bỏ để
làm tấm
gương cho những đám khác.
Huỷ
bỏ! Còn gì là uy tín nữa! Quản nói với Đại,
đám này đã
trót ký, cho qua. Từ đám
sau sẽ rút kinh nghiệm. Đại kiên
quyết phản đối,
không vì
là sai luật, điều
hết sức quan trọng nữa mà Đại dám chắc
nó sẽ xẩy ra, ấy là
con bé Hải còn quá nhỏ, lại ốm yếu nữa, lấy chồng
vào vất vả, lại mang thai nữa, khi sinh con, khó mà mẹ
tròn, con vuông được.
Quản thấy không lay chuyển được Đại, liền trả thù Đại
bằng cách cho Đại thẩm tra lại giấy khai sinh, rồi tung
tin chính Đại là
kẻ chủ mưu trong việc phá vỡ hạnh phúc của hai đứa
trẻ. Quả nhiên gia đình ông Huốt và anh Tiện kéo đến nhà Đại
chửi ầm ĩ cả lên.
Họ chửi Đại
là kẻ
bất nhân, dám đang
tâm phá hoại hạnh phúc của con cháu họ! Đại là kẻ cửa quyền,
cậy có chức có quyền hà hiếp nhân dân. Họ tuyên bố
nếu Đại
không trả lại tờ đăng ký cho con, cháu họ, họ sẽ kiện!
Chửi mãi,
doạ kiện mãi vẫn không lay chuyển được
Đại, ông Huốt - bố của thằng bé Huân 18 tuổi quyết
định tự tử! Ông bắn tin đến cho Đại, đúng hai ngày nữa mà Đại không trả
lại tờ đăng ký kết hôn để cho gia đình
ông và gia đình anh Tiện làm đám cưới cho
hai đứa trẻ, ông sẽ treo cổ tự vẫn trên
cây mít ở trước ngõ nhà Đại!
Cả hai gia đình
với hàng chục con người đều hồi hộp chờ đợi. Một
ngày trôi qua, Đại vẫn không động tĩnh gì, ông Huốt đã
bắt đầu
rối ruột, rối gan. Ngày
thứ hai tiếp tục trôi qua. Lúc này thì chẳng cứ gì mấy
chục con người của gia đình ông Huốt và anh Tiệm hồi
hộp mà cả làng Thái Hạ - hàng ngàn con người đều hồi
hộp chờ mong xem sự việc sẽ xẩy ra thế nào! Ông
Huốt bị đẩy vào cảnh dở cười, dở khóc. Chết thì
ông chả dám, khổ nỗi là ông đã hùng hồn tuyên
bố khắp làng rằng ông sẽ treo cổ tự vẫn trên cây mít
trước ngõ nhà Đại
mất rồi. Có một số kẻ còn
kích động
ca ngợi ông như một vị anh hùng! Đến nước này mà không thực
hiện thì thiên hạ cười ông thối mũi. Đêm ngày thứ
hai, sao ông thấy thời gian trôi đi nhanh quá. Cả đêm ông
không ngủ, nghĩ cách làm sao không phải chết mà vẫn giữ
được danh dự. Còn việc Đại
có trả lại tờ đăng ký kết hôn không cũng chẳng quan
trọng nữa.
Sáng
ngày thứ
ba, hàng trăm
người kéo đến tụ tập trước nhà
ông Huốt. Thế thì đời
khốn nạn rồi. Ông Huốt đau đớn than thở một mình. Đám
người xì
xầm bàn tán xem ông Huốt có dám tự vẫn hay không? Người
bảo ông Huốt là người trọng danh dự, thà chết chứ
không bao giờ chịu bị nhục. Kẻ nói ông Huốt là người
ham sống sợ chết, đời nào ông dám treo cổ. Ngồi trong
nhà, ông Huốt nghe thấy hết. Càng nghe thì ruột gan ông
lại rối tinh cả lên. Đám
đông tiếp tục bàn
tán, chờ đợi.
Chín giờ sáng, vẫn chưa thấy ông Huốt cầm dây treo cổ
đi ra. Chắc là
sợ vãi đái
cả ra quần rồi!
Lời
khen, tiếng chê phát ra từ đám
đông dội vào
trong nhà, ông Huốt cay đắng
lắm. Đúng cái lúc mọi người hết hy vọng vào hành động dũng cảm
của ông Huốt thì
kìa từ trong nhà, ông Huốt hùng dũng bước ra, tay cầm
đoạn dây điện. Vợ con ông Huốt gào lên, van nài ông
đừng tự vẫn. Một số người đứng ở ngoài ngõ cũng
xúm vào can, họ ôm lấy ông đẩy
vào trong
nhà. Ông Huốt được
thể làm
tới, ông quát:
-
Mọi người hãy lui ra, tôi thề sống chết với thằng Đại!
-
Thôi bác Huốt ạ! Một điều nhịn bằng chín điều lành. Cứ để thêm hai năm nữa, chúng
nó đủ tuổi rồi cưới cũng chẳng chết ai - có ai đó
can dán. Ông Huốt vẫn cố vùng
vẫy thoát khỏi vòng tay mọi người, miệng luôn gào thét
chửi Đại, khi bị đẩy vào đến sân, ông Huốt đề nghị
mọi người buông ông ra, ông sẽ không tự vẫn nữa. Thế
thì còn gì bằng nữa? Lập tức người ta buông ngay ông
ra. Ông Huốt hầm đi vào bếp, lát sau quay ra, tay xách con
dao rựa. Mọi người dạt hết cả ra, một số người nhát
chết chạy thục mạng về nhà. Không còn một ai dám can
ngăn
ông Huốt, ông hùng
dũng tiến về phía nhà Đại.
Phen này đánh nhau to,
không có người chết thì
cũng có kẻ phải đi
cấp cứu! Đại có võ,
còn ông Huốt có dao. ái chà, phen này cứ gọi là to chuyện!
Ông
Huốt đến
ngõ nhà Đại, dừng lại
một lúc, thấy đám đông đang ùn
ùn kéo đến,
ông lấy làm
hãnh diện lắm. Ông réo gọi Đại.
Đại đi ra, tay trái ông Huốt cần đoạn dây điện, tay
phải ông hua hua con dao rựa. Ông thầm muốn Đại trông
thấy con dao, đoạn dây điện mà
sợ hãi trả lại tờ giấy kết hôn cho ông. Đám
đông đứng đầy đầu ngõ,
nín thở chứng kiến cuộc đối
đầu giữa những kỳ phùng địch thủ. Ông
Huốt cất giọng oai vệ:
-
Tôi hỏi anh lần cuối, anh có trả tờ đăng ký kết hôn
để hai bên
gia đình tổ chức cho
chúng nó không?
-
Tôi đã
nói rồi, việc con anh và con anh Tiện chưa đến tuổi đăng
ký kết hôn thì không thể trả được.
Xã đã
nhận ra cái sai, xã phải sửa nhưng chúng tôi muốn đón
nhận được sự ủng hộ của hai bên gia đình.
-
Mày vẫn kiên quyết không trả phải không? - Ông Huốt hằn
hè - Vậy thì ta sẽ treo cổ tự vẫn trên cây mít này!
Có
nhiều tiếng bàn tán bảo sao ông Huốt ngu thế, tội gì
phải chết, cứ cầm dao xông bừa vào chém Đại
có phải hơn không! Biết đâu Đại sợ chết, lại
chả trả lại tờ đăng ký kết hôn! Ông Huốt không quá
ngu như mọi người nghĩ. Ông thừa biết Đại chẳng sợ,
mà ông
thì chẳng dám chém. Hơn nữa dù ông có dám chém thì Đại có võ, lớ xớ cho ông
một chiêu què chân, gãy tay thì chả thiệt thân à!
Đại
khuyên
nhủ ông Huốt nghĩ lại, không nên hành động
nông nổi, ông chết chỉ để tiếng xấu cho con cháu. Còn Đại,
Đại đã
làm đúng
pháp luật. Ông Huốt văng chim cò
ra ầm ầm. Rồi như một người hùng, ông trèo lên cây
mít trong tiếng la khóc inh ỏi của vợ con, tiếng trầm
trồ thán phục và cả tiếng thét sợ hãi của mọi người.
Duy chỉ có Đại là vẩn nhởn nhơ trước cái chết đang
đến từng phút với ông Huốt. Từ trên cây mít, ông Huốt
nhìn xuống. Kìa khuôn mặt ông mới bình tĩnh làm sao! Thật
là một con người anh hùng phi thường, coi cái chết nhẹ
như lông hồng! Ông Huốt bắt đầu buộc đoạn dây điện
vào cành mít đâm ra mặt ao. Ông buộc nhanh, chắc chứ không
hề nấn ná. Mọi người nhìn vào đôi
tay thần chết của ông đầy rẫy sợ hãi:
Xong rồi! Ông Huốt tiếp tục tạo ra cái thòng lọng. Cũng
chỉ một nhoáng cái là xong. Nhìn cái thòng lọng lúc này đã
hoàn tất mới ghê sợ làm sao. Ông Huốt thả nó xuống
quay quay mấy vòng, dùng hai tay kéo nó ra. Trời đất ơi! Ông
Huốt đang đùa
với cả thần chết. Vậy mà dưới đất Đại vẫn thản
nhiên như không hề có chuyện gì xẩy ra. Ông Huốt căm thù Đại,
trước cái chết đang kề cận bên
ông, ông tưởng Đại nếu không cuống lên vì sợ hãi thì
cũng nói điều
gì đó dàn hoà, thế mà Đại chờ đợi
ông chết như một đứa con bất hiếu mong bố chết nhanh
đi để còn được hưởng
tài sản
thừa kế.
-
Thằng Đại,
tao trăng trối lời cuối cùng,
mày có trả lại tao tờ đăng
ký kết hôn không?
-
Mọi người dân đều phải sống theo luật pháp. Tôi không
thể nào
trả lại được.
Anh nên
nghĩ kỹ lại kẻo thiệt thân, khổ vợ, khổ con.
Đại
vừa dứt lời thì
ông Huốt cầm chiếc thòng lọng chui đầu
vào. ở
dưới đất tiếng gào khóc của vợ con vang dậy xen lẫn
tiếng kêu thất thanh của đám đông. Anh con cả ông Huốt
vội vã leo lên cây mít. Muộn mất rồi, ông Huốt đã
lăn
mình ra
khỏi cành. Một tiếng ùm vang lên. Nước bắn tung toé.
Ông Huốt lóp ngóp nhoai người lên khỏi mặt nước. Hai
người con của ông lao xuống, dìu bố vào bờ, bế ông
chạy một mạch ra trạm xá làng cấp cứu. Ông Huốt chỉ
bị xơi mất mấy ngụm nước, còn thân thể ông chẳng
bị trầy da trốc vảy gì nhưng ông vẫn vật vã làm mình
làm mẩy như thể ông đang ở tình trạng nguy kịch!
Khi
ông Huốt được
hai người con đưa đi cấp cứu, Đại ra ngõ,
chuyện trò với mọi người. Lúc sau họ kéo ra về hết.
Đại leo lên cây mít, tháo đoạn dây điện xuống. Đúng
như dự kiến của Đại, sợi dây điện đã bị rút mất
lõi một khúc, Đại
mỉm cười, sợi dây điện chỉ bằng cái cọng rơm, lại
bị rút lõi,
con chuột đu
lên cũng
phựt huống chi cả cái thân hình béo ục ịt của ông Huốt!
Sau
sự kiện tự tử hụt của ông Huốt, Đại
đề nghị uỷ ban nhân dân xã
chỉ đạo
Đoàn
thanh niên, Hội Phụ nữ phát động
phong trào
thực hiện nếp sống mới, xoá bỏ tình trạng tảo hôn.
Người ta thấy ông Huốt đem cả tính mạng ra thách thức
cũng không xong, lại sợ bị phạt nặng nên từ đấy nạn
tảo hôn ở làng đã chấm dứt hẳn. Dân làng Thái Hạ
coi đây
là một
cuộc " cách mạng" tư tưởng lớn nhất từ trước
đến nay. Tên tuổi của Đại một lần nữa lại được
nhắc đến như một người hùng.
Tin
tức về cái quán karaôkê của mụ Tươi hoạt động mại
dâm lại ầm lên khi lão Túc phải đưa
đi cấp cứu ở tạm xá làng.
Lão Túc nghe bọn thanh niên làng kháo nhau, mụ Tươi lại
mới đưa thêm về con bé tên Bưởi có thân hình bốc lửa,
chỉ nhìn thấy cũng đủ
chết chứ đừng nói đến việc làm
tình thì lão Túc bán tín bán nghi bảo:
-
Không tin bố già thử đến
đấy thử làm
một tăng,
ái chà
cặp vú cứ gọi là rắn và nhọn như hai trái núi. Còn
cặp mông, thôi rồi, mát lạnh như kem!
Lão
Túc thèm lắm, thầm nghĩ phải đến
quán mụ Tươi xem sự thể nó như thế nào. Đến đấy thì phải có tiền,
ít nhất cũng phải ba chục ngàn. Một món tiền chẳng phải
lớn nhưng trong túi lão thì cũng chẳng bao giờ có. Mẹ
kiếp cứ đi
đến đấy rồi tính sau. Xế chiều lão
Túc mò đến
quán mụ Tươi, mụ lấy làm
lạ, hỏi lão Túc đến
có việc gì?
LãoTúc đáp
bừa là đến để hát,
lão vừa đi làm thuê về được người
ta trả những gần hai trăm ngàn.
Mụ Tươi bĩu môi:
-
Túi lão mà có hai mươi ngàn thì tôi cho lão ngủ cả đêm
với con Bưởi chứ đừng nói đến hai trăm ngàn!
Lão
Túc vỗ bộp vào túi quần, nơi lão nhét ít lá chuối:
Mụ
Tươi nghi hoặc. Quả là
túi lão có cái gì đó
căng căng như là
tiền! ồ nếu có tiền thật thì phải moi thôi. Sức lão
chỉ một lần là thở ra đằng
tai, ngủ qua đêm
sao được.
Để chắc ăn, mụ Tươi bảo lão
Túc móc tiền ra xem trước. Vừa lúc ấy con Bưởi bước
ra. Hai con mắt lão Túc thao láo nhìn con bé. Quả là nó có
sức hấp dẫn ghê gớm, bộ ngực hở hang, nhô hết cả
phần trên ra. Lại còn hai cái đùi, mẹ kiếp sao
mà trắng thế không biết! Giá cả ở quê dù có rẻ, mụ
Tươi cũng phải hét đến năm mươi ngàn chứ chả chơi!
Lão Túc có quỳ mọp xuống chân mụ Tươi van xin mụ cho
hát chịu với giá gấp đôi, gấp ba thì cũng chẳng nước
non mẹ gì nên đánh
bài chuồn
bằng cách bảo nghe nói con bé Bưởi ngon lắm mới về,
lão đến
xem thực hư thế nào để còn về kiếm tiền
giải sầu. Mụ Tươi cười lên sằng sặc. Lão Túc tím
mặt đi
về. Lão
thấy nhục nhã ê chề quá. Đêm, lão Túc không
ngủ được,
càng nghĩ
về bộ ngực, cặp đùi của con bé Bưởi,
lão càng rấm rứt khó chịu. Tiếng gà gáy ò ó o từ nhà
bà Thẻo vọng lại làm lão Túc bò nhổm dậy. Lão đi chân đất
ra mở cửa, cắm cúi đi về phía nhà
bà Thẻo. Bà Thẻo chồng chết, bà có hai con gái, cô cả
lấy chồng xa, con út lấy chồng xã bên, về ở rể nhà
bà. Chồng cô út đi
làm ăn xa, hiện ở
nhà chỉ
có và Thẻo và ba mẹ con cô út. Nhà toàn đàn bà, con gái và
trẻ con nên lão Túc liều mạng một phen.
Cổng
nhà bà Thẻo đã khóa, lão Túc đành
phải lội xuống ao để
đi vào.
Rất may mắn cho lão là bà Thẻo mới bị chết con chó.
Lão tiến về phía chuồng lợn với ý đồ
bắt trộm gà, đến nơi thấy
con lợn giống đang nằm ngủ nó thở phì
phò thì lão đổi
ý. Lợn giống bây giờ đang đắt, bắt dễ hơn. Còn gà phải bắt
nhiều con mới được
mòn tiền
khá mà lại dễ lộ. Chi bằng bắt con lợn là hay nhất,
chỉ cần làm cho nó không kêu là ổn. Chuyện vặt đối với lão. Lão đi ra vườn,
kiếm dây chuối. Con lợn vẫn đang phì
phò thở. Lão Túc nhẹ nhàng bước vào. Hai chân lão đặt hai bên mình con lợn
rồi nhanh như một nhà ảo thuật, lão Túc chộp hai tay bóp
chặt mõm con lợn, hai đầu
gối đè
mạnh lên thân mình nó. Con lợn không hề kêu được một tiếng.
Lão Túc
lấy dây chuối buộc chặt mõm con lợn, trói chân nó lại,
bế một mạch về nhà. Lão thay quần áo, đợi
trời sáng thêm
tý nữa, bỏ con lợn vào bao tải, vác đi
bán ở chợ xa. Con lợn giống rất đẹp nên được giá, lão Túc bán nó với
giá một trăm
ba lăm ngàn.
Một món tiền quá xộp đối
với lão. Điều đầu tiên mà lão nghĩ đến sau khi có
tiền là
rượu và tiết canh lòng lợn. Có khó gì, lão chỉ cần đi vài bước, lập
tức có hàng chục lời mời chào. Gớm, rõ một khi trong
túi có tiền, lão mới đánh
mắt vào
dãy hàng ăn
một cái mà
tiếng mời chào đã ỏm cả lên:
"Anh vào xơi cháo lòng tiết canh ạ!". " Mời
chú vào ăn
phở ạ!". " Sáng ra làm
bát bún cho ấm dạ bác ơi!". Tự dưng lão thấy mình
có giá! Lão đi
vào hàng
lòng lợn tiết canh. Lão gọi một bát tiết canh, một đĩa lòng lợn, một chai
rượu. Đã quá lâu lão mới được
thưởng thức những món mà
lão thích từ nhỏ. Mấy khách ăn
nhìn lão,
lão chả thèm nhìn lại. Nếu ở nhà lão đã nhồm nhoàm nhai,
còn ở đây
chốn chợ búa, người qua kẻ lại, lão
từ tốn uống, từ tốn ăn.
Rượu được ba chén, lão
bắt đầu
mơ màng đến con bé Bưởi.
Nó hơ hớ như miếng bánh đúc ngon đặt giữa làng, kẻ nào nhìn
thấy cũng muốn xẻo một miếng. Lần này thì lão chắc
chắn thế nào cũng xẻo được
miếng " bánh đúc" kia. Lão
thấy trên đời
này không
gì sướng bằng ăn ngon, ngủ với gái đẹp. Chà cái con
bé thua cả tuổi thằng con mất dạy của lão, mông to, ngực
nở thế chắc cái khoản kia! Chậc! Rượu ngà ngà, đàn
bà nằm cạnh. Người lão râm ran.
Lão
Túc rời quán tiết canh, lòng lợn, đi
một mạch hơn chục cây số về làng.
Rượu chưa đến độ say, lại bị con bé Bưởi làm mê
muội, lão Túc không cởi quần dài vắt lên cổ, vừa đi vừa "
Sự đời ơi sự đời..." nữa, lão
chỉ thỉnh thoảng lại: " Chậc! Cái khoản kia!".
Mụ
Tươi nhìn thấy lão Túc từ xa. Lần này mụ biết lão Túc
có tiền thật. Ban ngày, nhất là lúc trưa, chẳng mấy có
khách đến hát, thành thử quán vắng tanh. Lão Túc bước
vào quán, mụ Tươi vờ lim dim ngủ. Lão Túc hắng giọng
hai, ba lần mụ Tươi mới giật mình:
-
Lão Túc đấy à! Đã bảo rồi, cái
gì có thể cho chịu được
chứ còn
cái món này phải tiền trao cháo múc. Lão thông cảm, tôi
mua chúng nó đã tốn, nuôi lại
còn tốn hơn.
Mụ
Tươi khôn khéo phủ đầu lão Túc. Lão Túc sẵn có tiền
trong túi, văng
tục:
-
Chịu làm
c... gì! Mụ tưởng lão đây
không có tiền đấy hả- Lão
Túc móc túi xòe ra nắm tiền. Mụ Tươi xuống giọng:
-
Ai bảo lão không có! Tôi biết lão tuy nghèo nhưng vẫn còn
biết đến
"ranh" dự chứ không như mấy vị khác, toàn đến
gạ gẫm hát chịu rồi ký sổ thôi. Khi nhắc đến tiền
thì cứ
lờ tịt. Người biết đến cái "ranh" dự như lão
thật khó mà tìm thấy ở cái làng.
Ranh
với chả dự! Lão thừa biết mụ Tươi nịnh đầm mình,
biết thế mà lão vẫn thấy khoai khoái. Lão nói thẳng với
mụ Tươi, lão chẳng hát hò gì đâu
mà muốn
ngủ với con bé Bưởi. Mụ Tươi nói với lão, con bé Bưởi
không chịu tiếp, nó chê lão già. Nếu lão chấp nhận thì
mụ cho con Lan béo tiếp. Lão Túc ngoay ngoảy từ chối, bảo
con béo có cho không lão cũng chả thèm. Mụ Tươi ra chiều
áy náy, nói lão Túc đợi
ở ngoài,
mụ vào thuyết phục con Bưởi xem sao. Mười phút sau, mụ
Tươi quay ra thì thào vào tai lão Túc, lão bực mình:
-
Cả thảy hết bao nhiêu, mụ cứ nói trắng phớ ra.
-
Lão nghèo khó, thôi thì trọn gói tám mươi ngàn!
Lão
Túc không thèm cò kè, móc tiền đếm
đủ tám mươi ngàn đưa trước cho
mụ Tươi... Mụ Tươi đếm lại tiền, đủ cả, liền dẫn
lão vào
trong buồng nơi con bé Bưởi đang đợi. Lâu ngày không được
đụng đến da thịt đàn bà, lại đã có tí rượu, con
bé Bưởi trẻ trung, quyến rũ, nếu không có karaôkê đến
nằm mơ lão cũng chả thấy. Vậy mà chỉ mất tám mươi
ngàn, lão được
ngủ với nó! Chưa bao giờ lão
Túc khỏe đến
vậy, người lão
như bị rút hết gân cốt. Con bé Bưởi được lão Túc
cho thêm hai chục ngàn nên cũng chiều lão hết mình. Bởi
thế nên khi về được
nửa đường, lão
Túc đã gục xuống. May
cho lão, có mấy người nhìn thấy bế lão ra trạm xá, chứ
không khéo mà lão về âm phủ mất rồi. Lão Túc không dám
khai mình bị ngất do con bé Bưởi nhưng có nhiều người
nhìn thấy lão từ quán mụ Tươi đi ra, nên cả làng đều
biết. Và mặc dù không bắt được quả tang nhưng mọi
người đều hiểu rằng con lợn bị mất của nhà bà Thẻo,
do chính tay lão bắt trộm chứ không ai! Bọn thanh niên làng
thi nhau kể chuyện việc lão Túc đi
hát karaôkê
thêm dấm thêm ớt khiến câu chuyện trở thành chuyện thời
sự nóng hổi ở làng. Tất nhiên với cương vị là người
đứng đầu trong việc giữ gìn an ninh trật tự của làng, Đại không thể
không biết. Chả lẽ lại thua mưu một con đàn
bà chủ chứa! Hèn quá! Hay ta cần sự chi viện của công
an huyện, tỉnh? Chả lẽ lúc nào cũng xin, xin việc lớn
còn coi được,
đằng này
việc chẳng có gì là ghê gớm! Đại
kiên quyết đợt này phải làm, phải
bắt được
quả tang việc bán dâm tại quán mụ Tươi.
Buổi
chiều Đại cho triệu tập toàn
bộ lực lượng công an xã để
làm kế
hoạch kiểm tra đột
xuất quán của mụ Tươi. Đại cho hay, theo một nguồn tin
của người dân thì
tối hôm nay có hai khách chơi ở làng bên đến hát karaôkê
và mua dâm. Vì vậy toàn bộ lực lượng của công an xã
phải được
triển khai để phá ổ ung nhọt này.
Sau khi vạch ra phương án tác chiến xong, Đại yêu cầu
mọi người cho ý kiến. Phó công an xã Vũ Thiện Tâm, người
được đề bạt thay cho Mộng bị đi tù sau vụ án tên
Thăng nêu ý kiến cầu xin viện trợ của huyện. Đại gạt đi,
bảo với một lực lượng mạnh như thế này,
nội bộ có thể phá được.
Huyện, tỉnh cũng có việc của huyện, tỉnh. Chỉ xin chi
viện những việc không thể làm được. Vả lại,
mình tự
phá án sẽ tạo ra sự năng
động, huy động được tổng lực sức mạnh của anh em.
Sau ý kiến của Tâm, mọi người đều nhất trí với phương
án mà Đại đã vạch ra.
Đại
rời trụ sở công an xã
với một niền tin to lớn, thế nào cũng biết được kẻ đã thông đồng với mụ
Tươi. Kẻ đó không ngu xuẩn gì
mà đến
tận quán của mụ Tươi để báo tin, hắn sẽ báo qua điện
thoại. Và để tránh sự
nghi ngờ, chắc chắn hắn không gọi điện ở một số
nhà quen
hay điện
thoại dịch vụ ở chợ mà
sẽ mò lên thị xã. Thế thì Đại
chỉ việc phóng xe ngồi ở một quán nước nào đó bên cạnh con đường đi lên thị xã hẳn
nhìn thấy kẻ kia.
Đại
ngồi ở quán cà
phê khuất sau cái rèm, mắt dõi nhìn ra đường.
Nhâm nhi chưa hết ly nước cam thì
thấy Sơn phóng xe qua. Thì ra là Sơn, người vốn được
đánh giá là hiền lành, ít nói nhất. Đại phóng xe theo
sau, cách một khoảng khá xa để Sơn không nhận ra được.
Tới thị xã, Sơn vào bưu điện tỉnh. Không còn nghi ngờ
gì nữa, Sơn chính là kẻ bị mụ Tươi mua chuộc. Đại
bỏ việc theo dõi Sơn đi vào nhà Quý, một người bạn
thân cùng đi bộ đội với Đại ngày xưa. Nhà Quý ở mặt
tiền, Quý mở tiệm sửa chữa xe máy, rất có uy tín nên
kinh tế khá giả. Đại
đến, Quý bỏ dở công việc định sai vợ đi chợ kiếm
ít đồ ăn về nhậu, Đại thú thật, tối nay phải phá
án, Quý mới thôi.
Quý ngạc nhiên hỏi Đại.
Đại bảo có việc quan trọng muốn nhờ đến vợ chồng
Quý và
cháu Cường. Đại nói với Quý về kế hoạch của mình.
Vốn là người bạn thân rất cảm phục Đại, Quý đồng ý ngay.
Đại mừng nhưng cũng thấy lo lo liền hỏi Quý:
-
Thằng Cường đang là
sinh viên, lại được
ông dạy giỗ chu đáo. Liệu có sợ nó sa ngã
không?
-
Ông yên
tâm, tôi sinh ra nó, tôi phải hiểu nó chứ!
Quý
ra cửa hiệu bảo con vào rửa tay, nói chuyện với Đại. Cường
cao to, đẹp trai. Đại thầm hỏi: " Thằng này mà vào công
an thì hợp hơn cái nghề báo chí!". Đại trò chuyện
thân mật với Cường. Mới nghe Cường tưởng Đại đùa,
sau hiểu đó là một câu chuyện nghiêm túc. Cái máu nghề
nghiệp nổi lên, Cường nghéo tay Đại:
Đại
ra về, lòng tràn ngập niềm vui. Trên đường
về, Đại tạt vào
quán làm chén rượu, bát phở thay cho cơm. Ăn xong Đại
về thẳng trụ sở công an xã. Bảy giờ tối, tất cả đều có mặt.
Đại giao nhiệm vụ cho mọi người tám giờ hai mũi chia
làm hai
hướng bí mật tiếp cận quán mụ Tươi. Khi có ám hiệu
của Đại, cả hai mũi đều ập vào. Mụ Tươi bình thản
như không có điều gì xảy ra. Đại
và các
công an viên vào kiểm tra phòng hát, có hai thanh niên làng đang hát với
hai tiếp viên.
Tất cả đều
ăn mặc nghiêm
chỉnh, không có dấu hiệu gì của sự sàm sỡ. Kiểm tra
phòng ngủ của mụ Tươi và hai tiếp viên, cũng không thấy
có gì khả nghi. Mụ tươi đon đả pha trà, mời thuốc Đại
và mọi người. Đại khôn khéo quan sát Sơn, Sơn vẫn lầm
lì, không hề nhìn mụ tươi, mụ cũng tuyệt nhiên không
tỏ một thái độ gì với Sơn. Đại chỉ nhắc nhở mụ
Tươi không được hát quá mười một giờ đêm, để đảm
bảo an ninh trật tự. Mụ Tươi vâng, dạ lúc nào cũng chấp
hành đúng quy định mà công an xã đề
ra.
Đại
và toàn đội rút quân
về trụ sở, họp bàn
rút kinh nghiệm. Đại
tỏ ra vô cùng
giận dữ trước sự thất bại vừa qua, tự kết tội mình đã
quá quan liêu, không cho thẩm tra kỹ lại nguồn tin để cho anh em
phải vất vả. Đại đặt cả câu hỏi liệu có ai trong
chúng ta có để lộ tin tức ra ngoài?
Không ai trả lời. Đại
cắt cử hai người trực ban, năm người đi tuần tra đêm. Xong đâu đấy Đại
quay về. Đại biết thế nào
khi mình rời đây,
sẽ có ai đó chê
bai, coi thường Đại. Chẳng sao, thất bại có chủ định
này, Đại càng làm cho mụ Tươi tin tưởng tuyệt đối
vào Sơn.
Dân
làng bắt đầu xì xầm về việc thằng Dũng, cháu họ ông
Lân ở Hà Nội mới về. Đám
thanh niên
làng tỏ ra ghen tị trước cái cái vẻ đẹp trai, hào hoa
của Dũng. Tối nào người ta cũng thấy Dũng đi xe DreamII,
biển số 29 đến quán mụ Tươi hát karaôkê. Ban đầu mụ
Tươi cảnh giác ghê lắm. Sau thấy Dũng tỏ ra ăn chơi sành
điệu, tuy chưa làm gì con bé Bưởi nhưng lại bo cho con
bé rất khá thì mụ Tươi bớt nghi ngờ. Một hôm mụ Tươi
úp mở hỏi Dũng sao không thưởng thức tí " hương
đồng gió nội " Dũng chê con bé xấu, ở Hà Nội, Dũng
toàn đi với các em trẻ mười sáu, mười bảy xinh đẹp.
Dũng gạ mụ Tươi kiếm hộ con bé nào còn trinh đem bán, Dũng
mua với giá năm triệu, riêng
mụ Tươi được trả công một triệu. Mụ Tươi tính nhanh,
nếu kiếm được mụ chỉ trả hai triệu, như vậy tự
dưng được không bốn triệu. Một món tiền quá hấp dẫn
với mụ. Mụ đi lùng sục gạ gẫm ở vài nơi đều không
có kết quả. Mụ tiếc lắm, chỉ còn cách bảo con bé Bưởi
mở bia thật nhiều, tính tiền thật đắt để hòng kiếm
chác được
tí nào
hay tí nấy. Một hôm Dũng nói với mụ Tươi, trước khi
trở về Hà Nội, Dũng sẽ ngủ cả đêm với con bé Bưởi.
Mụ Tươi hớn hở ra mặt, khen Dũng đáng mặt nam nhi.
Buổi
tối, trời có vẻ mát mẻ, mụ Tươi đang ngồi ở ngoài
sân thì có khách quen ở làng bên đến,
đó là
Thuần và Vải, kẻ đã có vợ con, kẻ
thì chưa. Thuần nói với mụ Tươi cho hát với con bé Bưởi.
Mụ Tươi hỏi hát từ A đến Z hay chỉ hát không? Thuần
bảo đã đến
đây mà
không ngủ với con Bưởi họa có mà điên! Mụ vào gọi
con bé Bưởi và Hòa ra tiếp khách. Hát hò được
một lúc thì
Dũng đến,
nói với mụ Tươi ngày
mai phải về Hà Nội gấp nên khi chia tay muốn " hát"
nằm với con bé Bưởi. Mụ Tươi nịnh nọt Dũng cố đợi,
con bé Bưởi đang phải tiếp khách. Dũng tỏ vẻ tức tối:
-
Hãy đuổi
mấy thằng nhà
quê chân đất,
mắt toét ấy ra. Tôi sẽ trả cho bà
gấp ba lần mà bọn ấy trả! Nếu không tôi về đây.
-
ấy chết! Cậu nóng tính quá, để tôi vào điều đình với họ, có
gì cậu ấy trước rồi họ ấy sau.
Mụ
Tươi đi vào. Tiếng hát từ trong nhà vọng ra. Dũng hiểu
rằng mụ Tươi sẽ không thuyết phục hai gã kia nhường
cho mình trước. Dẫu được trả số tiền lớn, song chỉ
là lần cuối, còn hai gã kia lại là khách thường xuyên
rất chịu chơi của mụ. Mất mối thường xuyên không đời
nào mụ dám. Cách giải quyết của mụ không để mất lòng
cả hai bên, giục hai gã kia thay nhau làm trước nhanh nhanh.
Dũng đi ra góc vườn, rút máy điện thoại bấm số. Rất
nhanh, Dũng quay trở về chỗ cũ. Mụ Tươi đi ra, nói với
Dũng:
-
Cậu ráng đợi lúc nữa? Họ đang hát dở. Xong cậu vào
trước, còn công đoạn
sau họ đồng ý chờ cậu làm
xong họ sẽ tiếp tục.
Dũng
bảo mụ Tươi lấy mấy lon bia, ít lạc rang để nhấm nháp
trong khi chờ đợi. Mụ Tươi tất tả đi vào, Dũng đI nhanh
đến bên máy điện thoại đặt trên mặt tủ, tắt công
tắc chuông. Mụ Tươi mang bia và lạc ra. Dũng mời mụ,
để lấy lòng ông khách sộp mà mụ Tươi nhẩm tính vặt
được thấp nhất cũng được hai trăm ngàn, mụ cụng lon
với Dũng cười nói hể hả. Bỗng mụ Tươi giật bắn
mình, trước mắt mụ ba người đàn ông đồng loạt xuất
hiện. Mụ nhổm dậy định chạy vào trong nhà thì Dũng đã
nắm chặt tay mụ lại. Đại
dẫn hai người đi vào,
tại phòng hát thị Hòa đang
hát với Vải. Đại đi vào
phòng ngủ, bên trong cửa đã cài. Đại đạp mạnh,
cửa tung ra. Ba cái đèn
pin lia vào. Thuần và con bé Bưởi đang làm tình trên giường.
Dũng dẫn mụ Tươi đi vào. Biên bản được lập ra, mụ
Tươi, Thuần và con bé Bưởi và mọi người đều ký. Mụ
Tươi, con bé Bưởi và Thuận được dẫn về trụ sở công
an xã. Đại
sung sướng bắt tay Dũng:
-
Cường, cháu nhập vai tốt lắm. Tiếc rằng cháu không theo
nghề công an, nếu theo ngành
này chú tin cháu sẽ lập được
nhiều chiến công đấy!
-
Nghề báo giống như nghề công an, cũng phải điều tra,
gian khổ và đầy nguy hiểm.
Cần phải thông minh, dũng cảm, yêu
nghề mới làm được.
Đêm ấy, Cường
về nhà Đại ngủ. Hai chú cháu trò chuyện tới canh ba,
Cường mệt quá ngủ thiếp đi. Còn Đại
không thể nào
ngủ được,
những lo lắng về việc nhập vai của Cường không còn nữa, thay vào đó là nỗi lo về bệnh
tật của Hiền.
Sau
khi phá án được
ba tuần, Đại đang nghỉ ốm ở nhà
thì được
Quản cho người mời ra ủy ban có việc hệ trọng. Nhìn thấy Đại có vẻ
hốc hác, Quản chẳng một lời hỏi thăm, hầm hầm nét
mặt:
-
Anh đóng kịch giỏi lắm! Anh đã bêu riếu cái nơi anh sinh
ra và lớn lên cho cả nước biết, lại còn ngây thơ cụ!
Quản
mở ngăn kéo, lấy tờ báo công an ra ném về phía Đại:
Đại
đã lờ mờ hiểu ra, rất có thể thằng Cường đã viết
bài về án mụ Tươi! Đại lật tờ báo, chả khó khăn
gì Đại
đã tìm
ra được
bài phóng
sự của thằng Cường với cái tít : " Mại dâm ở
làng quê". Đại chăm chú đọc, phải nói thằng Cường
viết khá, phản ánh được nạn mại dâm núp dưới vỏ
bọc hát karaôkê đang là một hiểm họa làm suy đồi thuần
phong mỹ tục ở các làng quê, gieo rắc căn bệnh thế kỷ
AIDS. Vụ án mụ Tươi là một trong bốn dẫn chứng mà thằng
Cường đưa vào trong bài viết. Do được nhập vai Dũng,
nên thằng Cường đã vạch ra được
các mánh khóe hoạt động tinh vi, xảo quyệt của mụ Tươi.
-
Nó viết đúng sự thật, lại vạch ra được mánh khóe
hoạt động mại dâm của mụ Tươi, cảnh tỉnh cho người
dân ở quê
và chính quyền các xã biết được
mối nguy hại của việc buông lỏng quản lý các dịch vụ
karaôkê.
Bài viết không sa đà vào các chi tiết
giật gân, câu khách, tôi nghĩ đó
là bài
viết có tính xây dựng.
Đại
nói xong, bình
thản nhìn Quản. Quản cười nhại:
-
Tôi không hề làm cái trò trẻ con ấy- Đại
lên tiếng-
Không cứ gì nhà báo, mà bất kỳ người dân nào cũng có
quyền viết bài gởi cho các báo, miễn là đúng sự thật.
Thằng Cường cũng là một công dân, hơn nữa lại là một
nhà báo tương lai, nó có quyền được viết.
-
Nhưng bài viết này đã làm mất uy tín của xã - Quản gay
gắt - Anh phải chịu trách nhiệm trong việc bán rẻ danh
dự tập thể để
đổi lấy uy tín cá nhân.
Quản
tím mặt, đập
tay xuống bàn:
-
Anh đừng
có vu khống, chính anh mới là
kẻ tham danh vọng. Tôi sẽ đưa
trường hợp của anh ra trước cuộc họp hội đồng nhân
dân sắp tới.
Đại
tưởng Quản tức giận nên
nói bừa cho hả giận nhưng Quản quả thật đã có ý định hạ bệ
Đại. Quản cho tay chân đến nhà
từng đại
biểu vận động lôi kéo loại bỏ Đại ra khỏi hội đồng
nhân dân giữa nhiệm kỳ. Một khi Đại mất ghế hội đồng
nhân dân thì
chức trưởng công an xã không thể trao cho Đại
được. Cuộc họp hội đồng nhân dân giữa nhiệm kỳ,
tiếng là
do Chủ tịch hội đồng
nhân dân Trần Văn Kiểm điều khiển nhưng thực chất là do Quản, vấn đề của Đại
được đưa lên
bàn nghị sự như một việc làm cấp bách. Với tư cách
là đại biểu hội đồng nhân dân, Quản đề nghị bỏ
phiếu truất quyền Đại biểu của Đại vì tội lạm dụng
chức quyền, gây uy tín cá nhân, làm mất thanh danh và uy
tín của xã. Sau ý kiến của Quản, một số kẻ đứng về phe
Quản hoặc bị Quản mua chuộc đã
phê phán kịch liệt Đại,
coi Đại là
kẻ phản động,
phá hoại công lao to lớn mà
xã phấn đấu
trong bao nhiêu
năm
mới đạt được! Và
nếu như vừa rồi không có bài báo ấy thì năm
nay xã
sẽ là xã tiên tiến điển
hình của
huyện! Một xã tiên tiến! Cái danh hiệu này, Đại biết với
tài ngoại
giao bằng quà cáp, phong bao, luồn cúi, rất có thể Quản
làm được
mặc cho phía sau cái danh hiệu ấy còn
20% hộ đói
ăn và
45% hộ nghèo. Tình hình an ninh tuy đã khá hơn kể từ
khi Đại làm trưởng công an nhưng vẫn phức tạp. Sự thật
này trong báo cáo của xã gửi về huyện không hề có, chỉ
thấy toàn thành tích là thành tích. Dân đói,
dân nghèo,
Quản không mấy quan tâm, cáI mà Quản quan tâm nhất là
làm sao khi còn người anh đỡ đần, nhanh chóng leo
lên chủ tịch xã, rồi thăng
tiến lên
huyện. Nếu không giành được
cái ghế chủ tịch huyện thì
chí ra cũng phải là ghế phó.
Trước
sức ép của Quản và phe cánh, Hội đồng nhân dân tiến
hành bỏ phiếu kín tín nhiệm Đại. Quản đinh ninh Đại
sẽ bị ít nhất 2/3 số phiếu bất tín nhiệm. Nào ngờ
kết quả hoàn toàn ngược lại, chỉ có chưa đầy 1/3 bỏ
phiếu bất tín nhiệm, đó là những người thuộc phe cánh
Quản. Quản đau lắm, không ngờ khi bị vận động, hầu
hết ai cũng nói sẽ ủng hộ Quản, nhưng khi bỏ phiếu
kín, họ lại ủng hộ Đại. Một lũ tráo trở. Quản lầm
bầm nguyền rủa, bỏ cuộc họp về trước với lý do có
cuộc gặp quan trọng với đồng
chí bí thư huyện ủy vào
cuối giờ!
Đêm thượng tuần,
kim đồng hồ chỉ sang con số một, Đại ngồi bó gối
nhìn qua khung cửa sổ. Trăng
sáng quá, làm Đại nhớ đến
cái đêm Đại và Hường đi họp
chi Đoàn ở sân kho xóm. Gần bốn chục Đoàn viên ngồi
nghe Bí thư chi đoàn thuyết trình về chính trị. Đại và Hường chán quá,
nhân lúc giải lao rủ nhau ra bờ đê. Trăng sáng, gió mát,
Đại nắm tay Hường đi trên mặt đê. Cả hai ngây ngất
trong men say của tình yêu. Đến
một thảm cỏ, Hường kéo Đại ngồi xuống, cô ghé đầu
tựa vào
vai Đại,
tính chuyện tương lai:
-
Anh này,
sau này anh muốn chúng mình có mấy đứa
con?
-
Bốn đứa, hai trai, hai gái.
-
Anh hâm thế, đẻ con trai hay con gái là
do đàn ông chứ!
Đại
phá lên
cười, tiếng cười vang động cả đoạn đê. Hường lấy
tay bịt mồm Đại:
Đại
cầm lấy bàn tay Hường đặt xuống đầu gối, hồi lâu
Đại mới nhận ra sự ngốc nghếch của mình, Đại dụ dỗ
Hường ra đây không phải là để tranh luận
hay cãi
nhau. Đại
xoay mặt Hường lại, đôi mắt Hường đã
nhắm tịt, Đại
hôn lên
môi Hường. Thân hình vạm vỡ của Đại
áp sát vào
người làm cho Hường cứ ngả dần, ngả dần xuống thảm
cỏ. Người Đại cũng ngả xuống theo, nằm phủ lên người
Hường. Đại chỉ hôn Hường đê mê mà tuyệt nhiên không
nghĩ đến điều sàm sỡ. Hôn nhau có đến hơn một tiếng,
cả hai mới dời nhau. Hường hỏi Đại:
-
Chết cha, ông bà già mà nhìn thấy lại nghi em làm điều bậy bà thì no đòn!
Hường
hoảng hốt, lo sợ, bắt Đại lấy áo của mình chùi những
vết đất
sau lưng áo Hường. Đại lo lắng lau lau, chùi
chùi, nhổ cả nước bọt vào vết đất, những vết đất
có mờ đi nhưng lại loang rộng ra. Hường giục Đại đi
về sớm để bố mẹ đỡ ngờ vực. Đại thấy Hường
tỏ ra quá lo lắng, liền bảo Hường, nếu bị nghi vấn
thì cưới nhau luôn. Đêm ấy, Đại cứ thấp tha thấp thỏm...
Ôi
giá như đêm ấy, bố mẹ Hường nhìn thấy lưng áo của
Hường mà đay nghiến chì chiết thì có thể Hường và
Đại đã cưới nhau! Và biết đâu Hường sẽ không chết!
Trên đời này, Đại nghiệm ra rằng không có nỗi đau nào
lại sánh được với nỗi đau mất người yêu. Đại là
một thằng đàn ông có bản lĩnh kiên cường, ấy thế
mà khi Hường chết, Đại như một cái xác không hồn. Đại
không ăn được, không ngủ được. Đại đi đâu và làm
gì, hình ảnh Hường cũng choáng ngợp tâm trí. Không biết
bao nhiêu đêm Đại đã đi
lang thang, đến những nơi mà Đại và Hường từng
ngồi để hồi tưởng lại những ngày đẹp nhất, hạnh
phúc nhất của cuộc đời. Khi đã xung phong vào chiến trường,
không còn cây đa,
bờ đê,
bờ ruộng, sân trường để Đại đến, hình ảnh của
Hường chỉ tạm lui những lúc Đại nổ súng đối
mặt với quân thù. Mặt trận im tiếng súng, Hường lại
hiện về trong tâm trí, trong những trang nhật ký chiến
trường của Đại. Tiếc thay cuốn nhật ký dày hàng trăm trang mà Hường để lại
đã bị cháy mất trong một trận bom.
Một
tiếng cuốc kêu lạc lõng từ bụi tre ven sông vọng vào, Đại lần ra
khỏi giường, xỏ dép đi ra khóa cửa, rời nhà tiến về bờ đê.
Vẫn con đê này, ánh trăng xưa, chỉ
có thiếu Hường. Đại đi đến đoạn đê
mà Đại
và Hường
vẫn thường ngồi ngày nào, không xác định được chỗ
chính xác, Đại ngồi xuống một đám cỏ. Gió từ mặt
sông thổi lên lành lạnh. Đại thấy cô đơn khủng khiếp!
Ôi cuộc đời, mới ngày nào còn ngồi đây
với Hường, vậy mà đã
hơn hai mươi năm! Đại đặt mình nằm ngửa trên đám cỏ, mắt
dõi nhìn
lên vầng trăng.
Con người không thể sống mà
không có quá khứ, nhất là với những kỷ niệm. Việc Đại hay đi tìm lại kỷ niệm
với Hường đã giúp chính Đại
cân bằng lại rất nhiều trong cuộc sống tinh thần. ở
đời có không ít những người, khi yêu
thì say đắm,
xong lấy nhau rồi thì
tan vỡ, bất hạnh. Còn với Đại
và Hường
thì Đại
có thể tin tưởng một cách tuyệt đối nếu Đại và Hường lấy được
nhau, hạnh phúc sẽ đi theo cả hai đến trọn đời. Không
phải Hường mất rồi, Đại tô điểm thêm cho mối tình đẹp đẽ, sâu
nặng của mình.
Hường là một con người sâu sắc, yêu và hy sinh hết mình
cho chồng con. Đại
là một
công an chất phác, nhân hậu. Cả hai đều
yêu nhau
say đắm.
Tất cả những thứ đó đủ để làm
nên một cuộc hôn nhân bền vững của hai người. Tiếc
thay, Hường đã ra đi,
để lại cho Đại một nỗi đau khôn cùng.
Nỗi đau
này giờ đây được nhân
lên khi
Hiền- một phiên bản của Hường đang lâm vào một tấm
bi kịch ngoài sức tưởng tượng của Đại. Tấn bi kịch
này do Mạo gây nên. Tuy nhiên trong thâm tâm, Đại tự thú
nhận rằng chính Đại cũng góp phần tạo nên nó bằng
sự hèn nhát của mình. Hường! Tại sao lại không thể
cầu cứu đến Hường để giải thoát tấn bi kịch! Đại
vùng dậy đi tiếp xuống vùng hạ lưu con sông. Trông dáng
hình Đại
lụt cụt đi trên đê
thật thảm hại, tóc tai bơ phờ, hàng cúc áo bung ra gần
hết. Đại đang đi, đột nhiên dừng lại, chân nặng trĩu
cứ như thể có ai đó kéo lại. Đại nhìn xuống sông,
chợt nhận ra đây
chính là
nơi Đại đã tìm thấy xác Hường. Đại tiến xuống mép
sông, miệng lẩm bẩm cầu khấn Hường hãy phù hộ cho
Hiền khỏi bệnh. Dòng sông tĩnh lặng, Đại
mơ hồ, Hường hiện lên
mặt sông, đợi
mãi không
thấy gì, Đại
quay lên
mặt đê, tìm một chỗ
có nhiều cỏ, ngã mình nằm xuống...
- Đại hãy về đi, đừng tự
làm khổ
mình như thế.
-
Hường, anh đau khổ và cô đơn quá, hãy chỉ cho anh cách
làm cho Hiền khỏi bệnh. Anh không hèn nhát nữa, anh sẽ
cưới Hiền làm vợ.
Đại
giật mình tỉnh giấc, trước mặt Đại chập chờn một
vệt sáng, vệt sáng thu lại nhỏ dần bay xuống mặt sông
rồi mất hút.
... CÒN TIẾP ...
© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả gởi từ Hà Nội ngày 04.11.2011.
. Trích đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com.
|