Năm 1972, cuộc tấn công
vào Thị xã Kontum
đã bước sang giai đoạn mới: Bộ đội sư đoàn 320 được
mệnh danh là “quả đấm thép” đã chiếm được hai cao
điểm quan trọng 1049 và 1015 là những điểm chốt được
tăng cường của Lữ đoàn dù số 2 Ngụy. Đắc Tô, Tân
Cảnh phòng tuyến phía tây của thị xã cũng bị phá vỡ
nốt. Giờ phút lịch sử đã đến!
Suốt ngày ở
cao nguyên không ngừng tiếng máy bay và tiếng bom đạn.
Người Mỹ sau khi thực hiện kế hoạch Việt Nam
hóa mà có người trong họ gọi là việc
“thay đổi màu da trên xác chết” thì tỏ ra vô cùng hào
phóng về cái khoản bom đạn! Có những tọa độ trong vòng
24 giờ họ đã sử dụng hàng chục lần phi vụ B.52 rải
thảm.
Nhưng tại khu rừng im
ắng này, nơi mà thời ấy chúng tôi goi là
rừng “Khoộc” cả tiểu đoàn quân y vẫn
đang chờ mệnh lệnh. Rừng “Khoộc” là loại rừng đặc
biệt tuy là cây gỗ nhưng lá rất to. Có những lá to lạ
lùng như lá chuối vậy... Rừng khá bằng phẳng với những
con suối nhỏ trong vắt, chảy xẻ ngang xẻ dọc. Mùa mưa
đến một màu xanh mơn mởn phủ khắp rừng. Những cây
khoộc vỏ sần sùi mốc xỉn khẳng khiu trụi lá khoảng
một tháng trước đây nay đã ngát xanh những chiếc lá
non tơ vờn trong gió. Mặt đất đầy lá khô và cỏ úa,
nay phút chốc như một phép màu kỳ lạ đã phủ một màu
xanh ngút ngàn xa tít. Đây đó những đám hoa trắng, hoa
tím, hoa vàng và cả hoa đỏ nữa nở rực rỡ. Bầu trời
xanh thăm thẳm không một gợn mây. Tôi ngất ngây trước
vẻ đẹp kỳ lạ của thiên nhiên hoang sơ tràn đầy sức
sống.
Đồng chí liên lạc Tiểu
đoàn đến chỗ tôi, ra vẻ đứng thật nghiêm nhưng
lời nói thì chẳng nghiêm chỉnh chút nào:
– Hùng ơi, lên
gặp Tiều đoàn trưởng để nhận nhiệm vụ!
Tôi giật mình tròn mắt
hỏi:
– Nhiệm vụ
gì vậy?
– Lên khắc
biết. Cầu nói một cách vô trách nhiệm và uể
oải bước đi.
Thực ra tôi và Cần
cũng bằng trạc tuổi nhau, cùng học hết trung học
phổ thông (thời đó “học vị” này cũng là khá rồi).
Nhưng tôi hơn đứt Cần cái bằng y tá còn Cần chỉ là
công vụ. Mà công vụ của Thủ trưởng thì “gần đèn
thì sáng” bọn tôi vẫn chọc giỡn Cần như vậy, nên
Cần giận ra mặt.
Thủ trưởng của
tôi là một Bác sĩ trắng trẻo cao lêu nghêu và gầy
đét. Với cái lon thiếu tá và tuổi gần ngũ tuần, ông
thực sự là tầng lớp cha anh chúng tôi. Nghe đâu ông là
y tá của thời ở Điện Biên Phủ, sau hòa bình ông được
học Đại học Y khoa, và nói về cái đời riêng, ông đã
lấy mấy đời vợ mà chẳng có đứa con nào... Gần ông
ai cũng sợ về cái tính nghiêm khắc và cứng rắn. Nhưng
tiếp tôi hôm nay ông vô cùng hòa nhã và thân thiết. Nhiệm
vụ của tôi đã rõ ràng, tôi cùng với ba đồng chí anh
nuôi và một đồng chí công vụ tên Mãn sẽ vượt sông
Pô – cô ngay hôm nay để thành lập một trạm trung chuyển.
Chúng tôi đón thương binh từ mặt trận phía Bắc thị
xã Kontum trở về. Họ ở lại trạm tôi và đêm xuống
những đơn vị vận tải sẽ đưa họ vượt tiếp qua con
sông rộng lớn đó để về tuyến sau.
Tôi hiểu Thủ trưởng
chọn tôi vì tôi có tay nghề gọi là khá và nhất là ở
cái dạng cảm tình Đảng.
Ngay sau đó đoàn chúng
tôi ra đi theo một đồng chí trinh sát đơn
vị bạn dẫn đường vì từ đây đến
bờ sông phải đi mất năm tiếng đồng hồ. Chúng
tôi lần theo vết đánh dấu bằng cách dùng dao găm
chém lên thân cây của những người cắt tọa độ mới
làm hôm qua để đi. Đường về phía bờ sông thoải mái
hơn vì bằng phẳng. Khoảng bốn giờ chiều chúng tôi tới
bờ sông, phải chờ đêm xuống mới được vượt. Chả
hiểu theo kinh nghiệm gì mà đồng chí trinh sát bàn với
tôi đến cái bản để hoang mà nghỉ, vì đây ít có khả
năng bị đánh bom B.52 hơn. Tôi sững sờ vì cái bản này
trồng toàn cây phượng vĩ. Giữa những cánh rừng hoang
xa lạ, màu hoa phượng vĩ quen thuộc hiện lên, rực rỡ
làm cho mọi người đều xúc động. Tất cả chúng tôi,
những người lính ngày ấy còn rất trẻ, đáng lẽ họ
đang ngồi ghế nhà trường và đều có những ước mơ
lãng mạn. Ôi những buổi sân trường rực nắng. Ôi những
cơn gió mùa đông cuốn theo làn mưa bụi lạnh giá thổi
tới tấp vào vách đất của ngôi trường thân yêu. Giờ
đây chúng tôi bước đi lặng lẽ với cây súng thép lạnh
cứng xiết chặt trong tay!
Tối đó không như
thường lệ, bom B.52 không tiếp đón chúng tôi bằng
những trận đánh gần mà chỉ ở mãi nơi
xa, phía đầu nguồn của con sông ấy bỗng nhiên chân
trời đỏ rực đầy những tia chớp lửa của bom B.52 và
sau đó những tiếng nổ vang vọng tới dữ đội, lúc mau
lúc thưa đầy đe dọa! Sau đợt B.52 chúng tôi thở phào
nhẹ nhõm và tiến ra phía bờ sông. Cuộc vượt sông khá
vất vả vì nước đầu mùa mưa chảy xiết. Khoảng hai
giờ sáng chúng tôi tới vị trí tập kết, lập tức chúng
tôi mang sức lực còn lại để đào hầm, vì ở đây trong
tầm pháo “bầy” và tọa độ B.52. Sư đoàn đã cho D.25
là Tiểu đoàn Vận tải đào hầm chứa thương binh trước
đó, chúng tôi đến chỉ đào hầm trú ẩn cho mình. Đất
ở đây mềm đỏ rực, lúc đó tôi mới hiểu thế nào
là đất Ba – zan mà tôi đã được học ở một bài địa
lý trong bậc tiểu học.
Mãn chồm hổm ngồi trên
miệng hầm, tay đang vê thuốc lá, hắn vê theo kiểu
cuốn “kèn” của người dân tộc. Hắn tròn miệng
nhả khói mắt lim dim ra chiều khoái lắm.
– Đúng là
ngành y, chưa chi đã sợ ho lao, xem đây này, tớ
hút ba điếu một lúc... Hắn lẩm bẩm, cuộc đời
này ngắn lắm, bố tớ chết năm 24 tuổi đấy...
Cậu thấy không mấy ông tư sản Miên khôn
đấy chứ, bán gạo cho mình lại bắt mua kèm thuốc lá,
cái loại thuốc Miên này thật kinh khủng, nhưng bây giờ
mình đã chịu rồi...
Hắn vẫn lẩm bẩm nói
như một người rồ, tuôn ra những mớ tư duy
lộn xộn lẫn trong làn khói xanh khét lẹt.
Bầu trời đã sáng
hẳn. Kỳ diệu quá, một đàn chim trắng bay qua,
cánh nhuộm hồng bình mình buổi sớm. Sao mai treo lơ lửng
giữa nền trời màu tím, to và sáng một cách lạ lùng nhưng
hình như những tia sáng đó là những tia sáng lạnh lẽo.
Bọn tôi đã đào
hầm xong và cũng đến giờ anh nuôi gọi xuống
ăn sáng.
Mãn mặt bám đầy
đất đỏ chắc cu cậu đói lắm nên rửa qua loa cho nhanh
để được ăn cơm. Hắn nhào tới bếp, dương con mắt
đỏ ngầu vì mất ngủ đầy những tia máu nhòm vào nồi
cháo:
– Á chà!
Lại cháo!
Mắt hắn đảo sang
nồi cá khô và đưa đũa định gắp, tôi nhanh
hơn, thẳng tay vụt chiếc đũa vào tay hắn:
– Á...í! Hắn
gào lên.
Tôi nghiêm mặt:
– Cá khô
để cho thương binh, cấm ai được đụng tới!
Mãn cười hì hì:
– Thế tớ
là thương binh rồi đó, cậu làm què tay tớ
rồi, làm “thủ truởng” gì lại ra lệnh
theo kiểu đó à, cậu phải đền tớ ít
nước cá nhé!
Tôi cũng cười theo. Quả
thật chúng tôi đều là bọn lính đói, quân vào
nhiều như thế hậu cần chắc ghê gớm lắm
thì mới cung cấp đủ, nghe đâu cứ một người
lính ở mặt trận thì cần tới hai người lính
hậu cần.
Cháo của anh nuôi quá
loãng, nhưng được cái nấu nhừ nên ăn khá ngon, bột ngọt
pha vào cháo chúng tôi không thiếu.
Bỗng có tiếng gọi
to:
_ Quân y đâu!
– Chắc có thương binh!
Mãn nói.
Tôi vội vàng buông đũa
đứng lên và ngoái người lại nói:
– Các cậu
ăn đi, để tớ lên!
Hai anh lính vận tải mặt
đỏ phừng phừng mồ hôi nhễ nhại đang đứng ngả mũ
quạt lấy quạt để dưới chân họ một chiếc cáng một
đầu để nghếch lên cành cây thấp còn đầu kia thì chống
xuống đất.
Tôi đến vạch chiếc
võng vải ra và suýt bật ra tiếng kêu: người nằm
trên cáng là một cô gái tóc rất dài, mặc
bộ đồ bông tím nền trắng nhưng ám khói đen nhẻm, rách
tả tơi. Một chiếc mền bộ đội cuốn ngang người.
Anh lính vận tải bước
lại gỡ lấy chiếc mền ra, rồi nói:
– Cho mình lấy,
đó là mền của mình!
Lúc đó Mãn cũng chạy
lên tay cầm quyển sổ đăng ký vào Viện. Anh chàng
này nhanh thật, tôi thầm nghĩ.
Một anh lính vận tải
xua tay:
– Trường hợp
ngoại lệ, khỏi cần vào sổ!
Mãn nhanh nhẩu:
– Tại sao?
– Là dân,
đạn mình! Anh ta nói cộc lốc. Anh lính đứng ở dưới
chân cáng giải thích thêm:
– Tên lửa H12
của mình đấy, chắc bắn sai tọa độ! Anh hạ giọng,
hình như cả nhà cô ấy đều chết, bọn mình thấy cơm
nước, thức ăn, bát đũa vỡ lẫn cùng máu... Chắc họ
đang ăn cơm thì bị...
– Thế những
người dân ở ấp ấy đâu? Mãn hỏi.
– Bọn mình
đến thì họ chạy hết, dân của địch mà
lại! Chỉ còn những xác chết và nhà cửa tan nát, thấy
cô bé này còn thở nên bọn mình cáng về đây.
...Tôi bảo Mãn đem
nước luộc bơm tiêm tới. Tôi dùng miếng gạc lau khuôn
mặt nhỏ nhắn của cô gái. Lớp khói đạn
đen sì được lau đi, một làn da mịn trắng ngần hiện
lên. Cô gái chỉ khoảng độ 16, 17 tuổi, vẫn nằm thiêm
thiếp. Tôi đưa tay bắt mạch, mạch rất đều, không có
gì đáng sợ. Vết thương ở tay cũng là vết thương phần
mền, thế mà tại sao cô gái chưa tỉnh? Hay là bị sức
ép nặng chăng?
Mãn đến gần kéo
tay tôi:
– Trông đẹp
quá, thật đúng như chuyện “Người đẹp ngủ trong rừng”!
– Cậu thật
mơ mộng, về hầm lấy cái áo ngắn tay của
tớ để tớ thay cho cô ấy.
– Mình xung phong,
mình hy sinh áo mình cho người đẹp!
Tôi cười:
– Ừ thì
cũng được nhưng ngày mai đừng kêu là không có áo
nhé!
Trên áo cô ấy
đầy máu khô nhưng chắc là máu của người khác
bám vào.
Tôi lần tay trong tóc xem
cô có bị thương vào đầu không, máu khô
bết lại nhưng nhìn kỹ cũng không phải là máu
của cô gái. Cái gì cồm cộm đây? Tôi cố
gắng gỡ nó ra từ mái tóc mềm và xanh mướt.
Cái vật trăng trắng còn dính những mẩu thịt. Trời! Cái
răng, cái răng nhỏ quá, thôi đúng rồi, đây là chiếc
răng cửa của trẻ con...
Tôi vội vứt đi ngay
vì nghe tiếng chân của Mãn tới. Tôi muốn giấu diếm
điều đó vì tôi nghĩ Mãn chưa quen với cảnh
tượng này.
– ...Mãn vừa
nói, vừa cố gắng một cách vụng về cởi và
thay áo cho cô gái.
– Ông chứng
giám nhé, mình vẫn giữ tác phong đây!
Tôi chích cho cô gái
một mũi tăng lực và bảo Mãn rằng cô gái
ấy không sao, nhất định sẽ tỉnh.
Vừa lúc đó chúng
tôi lại nghe thấy tiếng chân chạy thình thịch và một
giọng khàn khàn:
– Nhận thương
binh đi, mấy ông quân y ơi!
Tôi và Mãn vội chạy
ra. Lại một cáng bê bết máu được chuyển về.
Người thương binh oằn oại như con sâu trên võng, máu
ứa ra từng đợt từ
dải băng đẫm máu cuốn tréo trước ngực chảy tràn ra,
nhỏ xuống đất. Những tiếng ồ, ồ, ọc, ọc thoát ra
từ cổ nơi cuống họng của anh ấy đã bị mảnh đạn
cắt đứt. Tôi vội chích cho anh ta một mũi thuốc nhưng
con mắt long sòng sọc trước đây nay đã đờ đẫn nhìn
lên trời một cách bâng quơ hờ hững...
– Thôi khỏi
phải nhập viện: Tôi nói với các đồng chí bộ
đội vận tải.
– Thế là
tôi thua các ông rồi đó, bọn tôi lại phải giải
quyết, suốt đêm qua chạy đường dài mệt
đến đứt hơi. Thôi, chỗ chôn đâu, ông chỉ
dùm!
Bước về hầm tôi
thấy anh “hộ lý” Mãn mà buồn rầu. Mặt anh ta xanh lét,
con mắt nhìn xụp xuống tối tăm. Tôi cầm lấy tay Mãn:
– Cái này chứa
nước gì đâu còn ghê gớm hơn nữa!
Mãn cười:
Đâu tôi có sợ, tôi đánh
nhau mấy trận rồi mà, cái chết đối với tôi bình thường
lắm! Nhưng anh thấy không, cái anh vừa chết ấy trẻ quá
mà đẹp trai nữa, tiếc thật, tiếc thật!
Mãn lẩm bẩm như
tự nói một mình. Tôi biết hắn lại chìm vào
“tư duy”. Lúc này đây hắn đâu có cần
nghe tôi trả lời.
Thật là may, ngày
hôm đó tới chiều vẫn không có thương binh đưa
tới nữa.
Khoảng chập tối thì
cô gái tỉnh dậy... bàn tay nhỏ bé run run của
cô quờ quạng sờ vào cánh tay kia cuốn băng.
Tôi đến gần cầm lấy bàn tay yếu đuối
đó vì sợ cô gỡ băng ra. Bỗng cô
mở mắt và nói nhỏ nhưng rất rõ ràng:
– Ai?
– Tôi! Tôi trả
lời thật vô nghĩa.
– Má ơi...
Má!... cô hốt hoảng gọi.
– Đừng sợ,
tôi là y tá đang chữa vết thương cho chị
đây!
– Anh là
y tá là y tá của Quốc gia hả?
Tôi định nói không,
nhưng tôi lại im lặng. Quả thật là cô ta
không thể biết được tôi là y tá của
“Việt cộng” vì tôi mặc áo bờ lu. Thời ấy đơn
vị tôi có trang bị áo bờ lu nhưng nhuộm màu xanh nhạt.
Con mắt cô gái thật lạ lùng như có đốm lửa rất sáng
nhưng nó lại như ẩn giấu một nỗi buồn vô tận.
Tôi nói nhỏ:
– Chị thấy
trong người thế nào?
Chẳng có gì lạ
cả, tôi gọi cô gái ấy bằng chị vì năm đó tôi mới
18 tuổi.
Cô gái không trả
lời tôi và rên khe khẽ.
– Ba Má
tôi đâu rồi, các em tôi đâu rồi, Hương ơi, Tài
ơi, các em đâu?...
Bỗng cô như sực
tỉnh, chống tay xuống như định vùng dậy và nói:
– Không! Ông
là Việt cộng phải không! Ông nói tiếng Bắc, ông
là chính quy Bắc Việt!
Tôi đẩy vai cô
gái xuống, tay kia đỡ đầu cô gái định đặt
nằm xuống, nhưng cô gái cưỡng lại và ngồi hẳn
lên, tay đẩy vào ngực tôi.
– Bu... uông
tôi ra ... a!
Tôi phải vội ngồi xuống,
ngang tầm với cô gái để cô khỏi sợ, tay tôi giữ chặt
lấy bàn tay cô ghì sát vào ngực:
– Chúng tôi
đang cứu cô, cô đừng sợ! Tôi đã chuyển sang
xưng hô bằng “cô”. Bàn tay cô gái run rẩy giữa
bàn tay và lồng ngực của tôi. Cô từ từ
nhắm đôi mắt lại. Tôi nói tiếp:
– Vết thương
của cô nặng lắm, bao giờ khỏi tôi sẽ để cô về với
ba mẹ!
Có lẽ tôi
đã nói dối, nhưng chả sao? Tôi là “Bác sĩ”
nói chuyện với bệnh nhân mà lại. Tôi nói tiếp. Hạ
giọng cố nói thật nhẹ nhàng:
– Đừng sợ,
đừng sợ, chúng tôi chỉ cứu người thôi, hãy nhớ
lấy điều đó. Xin cô hãy nằm xuống đi. Cô hãy còn
yếu lắm.
Cô gái từ từ
mở mắt, khuôn mặt trái xoan quay sang phía tôi, hai con
mắt đẹp đã nhìn thẳng vào tôi không còn thấy sự
hoảng hốt sợ hãi nữa.
Ngay sau đó cô gái
ăn được bát cháo sữa của anh nuôi nấu theo yêu cầu
của tôi. Cậu Mãn nói đúng, cô gái quả thực có một
sắc đẹp kỳ lạ... Một cái gì khó tả choán lấy tâm
hồn tôi, tim tôi đập gấp... Tất cả anh nuôi và Mãn cũng
đứng tít xa để chiêm ngưỡng cái sinh vật nhỏ bé nhưng
tỏa sáng đang chậm rãi, nhỏ nhẹ ăn từng miếng một.
Lúc quay ra mọi người
nhìn tôi im lặng, khi ấy có một không khi như trang
trọng lạ lùng. Bỗng tôi bật ra nói một điều
mà hình như tôi chưa kip suy nghĩ:
– Chúng ta có
nhiệm vụ phải cứu và bảo vệ cô gái
này!
Mọi người vẫn lặng
lẽ, không ai đáp lại... Trên trời những vì sao hiện lên
lấp lánh, thanh bình như không hề có chiến tranh.
Ngày hôm sau, ngay từ
sáng sớm những chiếc trực thăng Chinook quái dị như
những chiếc thuyền bay vội vã về hướng thị
xã Kontum. Không hiểu chúng chọn đường bay thế
nào mà lại bay thẳng qua trạm của chúng tôi, chúng
bay khá thấp; tiếng cánh quạt chém không khí xoành xoạch,
nặng nề làm định tai nhức óc.
Một chiếc máy bay đang
bay bỗng có một vật đen rơi xuống, chúng tôi
hốt hoảng lao vào hầm. Nhưng một tiếng rơi bịch, rồi
im lặng. Cậu Mãn dũng cảm lao ra đầu tiên thì té ra hộp
thịt đã mở giở.
Cậu Bình anh nuôi vội
nói:
– Này đừng
ăn, nó bỏ thuốc độc đấy! Nhưng Mãn cười
toe toét, rút dao găm ra mở tiếp hộp thịt và lấy
ra một miếng bỏ vào miệng nhai ngồm ngoàm một cách
ngon lành và hắn nói:
– Tớ sẽ
ăn hết một nửa hộp thịt này, nếu tớ chết thì
các cậu đừng ăn nhé!
Nhưng tất nhiên sự
trúng độc chẳng xảy ra và mọi người cũng không
thể để cho anh chàng láu lỉnh tham ăn này ăn hết
cả những nửa hộp thịt!
Khoảng 8 giờ sáng,
những cáng thương binh rầm rập chuyển tới, lại những
khuôn mặt đỏ bừng đẫm mồ hôi, những cái cáng thượng
binh đẫm máu, quằn quại thường vang lên những tiếng
rên rỉ, chửi rủa, những tiếng nghiến răng ken két đến
rợn người...
Các hầm chứa thương
binh đã đầy ắp, có chỗ tôi phải xếp tới bốn
người, mà theo dự định mỗi hầm chỉ có hai người mà
thôi.
Ngày hôm đó chưa
kể những người hy sinh tại trạm mà phía bên
vận tải phải chịu trách nhiệm vì chưa nhập viện,
chính tay tôi đã “khâm liệm” sáu người
mặt dù tôi đã chích thuốc tăng lực, thậm chí
còn làm cả thủ thuật chích A - đờ - rê - na - lin vào
mỏm tim của ho.
Tôi nhẹ nhàng dùng
vải trắng cuộn các đồng chí ấy lại như
gói một món đồ, tôi buộc hai ngón tay cái, hai ngón
chân cái của họ vào nhau...
Cấp trên đã tăng
cường cho tôi một Tiểu đội vận tải làm nhiệm vụ
“an táng” các đồng chí ấy.
Những công việc này tiến
hành như một guồng máy bình thản đều đều,
như một việc dĩ nhiên, không một lời bàn luận,
không một lời chia buồn và không hề có một
giọt nước mắt, chỉ có những giọt mồ hôi nhỏ
xuống đầm đìa trên khuôn mặt tái xanh vì sốt rét của
các đồng chí vận tải. Họ đào một hố to, sau đó trong
hố to đó, họ đào tiếp một hố nhỏ hơn sâu khoảng
50cm để đặt đồng đội của mình xuống đấy. Rồi họ
gác cành cây tươi vào gờ đất giữa hố to và hố nhỏ
cho thật kín đáo và đổ đất lên. Khi đất dày cao hơn
bề mặt bình thường thành một nấm mồ thì họ cắm cọc
đánh dấu và lặng lẽ trở về nghỉ ngơi, chờ đợi...
Khi tôi bước xuống ăn
cơm thì đám anh nuôi đã nói:
– Cho ông ấy
ăn riêng ra đi, tay ông ấy đầy mùi tử thi đó, sáng
giờ ông ấy đã “gửi đi” sau người rồi đây!
Tôi mệt lử, chỉ
ăn được chút cơm, miệng đắng ngắt. Theo hợp
đồng là tối nay thương binh sẽ được chuyển
đi nhưng tôi chờ mãi, chờ mãi!.... Khoảng 10 giờ
đêm thì một đồng chí liên lạc đến
Trạm tôi và báo cho chúng tôi biết đường bị tắc, địch
đã nống ra, cắt đứt đường vận tải của ta. Thế là
thương binh phải ở lại Trạm không biết đến bao giờ...?
Sự hốt hoảng và lo lắng đã hiện lên trên tất cả các
khuôn mặt chúng tôi. Riêng tôi vô cùng lo lắng bởi thuốc
của tôi mang đi ít ỏi, thương binh lại toàn là thương
binh nặng. Tôi gấp rút họp mọi người lại và hạ quyết
tâm. Kiểm lại vũ khí, chúng tôi chỉ có 4 khẩu súng. Màn
đêm trùm xuống tối tăm, trong khu rừng rậm rạp đó chỉ
còn tiếng rên la, thậm chí đôi lúc có tiếng gào thét.
Những tiếng gào thét đó là ở phía các đồng chí thương
binh bị bỏng bom Na pan, thịt da bị cháy hết, xương cũng
cháy luôn! Có lần tôi lấy chiếc panh nhè nhẹ gõ lách
cách vào phần xương trán cháy vàng của một người, làm
anh ta ngạc nhiên hỏi:
– Mày gõ
cái gì đây?
– Tôi gõ
cái “mõ” trên trán cậu đây!
Anh ta ngạc nhiên không
biết tại sao lại có chiếc “mõ” ở
trên đầu vì mắt anh ta đã hỏng và cả
hai tay nữa, các ngón tay của anh đã bị lửa cháy cụt
hết rồi, còn đâu mà sờ mó nữa!
Khoảng một giờ sáng
tôi mang thuốc giảm đau đi chích cho các thương binh nặng.
Bỗng nghe ở gốc cây có tiếng xè xè phát ra như vòi phun
nước. Tôi xông lại. Một thương binh đã lần gỡ hết
garô ở cái mỏm chân cụt, máu đang phun ra thành tia vào
lá cây phát ra tiếng kêu mà tôi đã nghe thấy. Tôi lao lại,
quỳ xuống định ga-rô lại thì lập tức tối tăm mặt
mũi, mắt nảy đom đóm vì một cú đấm thẳng vào mặt,
chiếc đèn pin trong tay tôi văng đi. Hắn còn gào lên:
– Để tao chết!
Trời, đúng là cú
đấm nhà nghề của lính đặc công, tôi cố
đè hắn xuống, dùng hết sức đấm mạnh vào ngực hắn,
hắn hộc lên một tiếng và ngã ngửa ra. Tôi lấy cùi tay
đè vào động mạch háng của hắn mong cầm được dòng
máu đang phun ra dữ dội, máu văng vào tôi nóng hổi, có
lẽ anh ta phải sốt tới 41 độ! Anh ta nằm nhưng tay vẫn
túm tóc tôi giật mạnh, miệng vẫn gào lên:
– Đồ... khốn...
nạ... ạn! Để tao chết chứ!
Trong trạng thái vật lộn,
tôi cố cầm máu cho thương binh kiểu này thì thật
là khó khăn. Bỗng một tiếng người con gái vang
lên nghẹn ngào ngay sát tai tôi:
– Đừng làm
vậy các anh ơi!
Rồi nức nở một
tiếng khóc bỗng cất lên. Bàn tay người thương binh bỗng
run rẩy từ từ buông tóc tôi ra... Tiếng khóc vẫn
tiếp tục, một âm thanh cao khác hẳn và như
lấn át những tiếng rên la trầm đục của hàng
trăm thương binh trong khu rừng đêm rậm rạp ấy.
Tôi nhanh nhẹn garô
lại, dòng máu không phun nữa và người thương binh
đã nằm bất động...
Dưới ánh sáng mờ
mờ của mặt trăng vừa lên, một người con gái
đang quỳ, hai tay giữ lấy bên vai của người thương
binh to lớn...
Tôi vội vàng bế xốc
anh ta vào hầm. Mãn cũng vừa đến giúp tôi chích thuốc.
Mạch người thương binh đập nhanh và rất yếu, huyết
áp hạ rồi! Tôi buồn bã lắc đầu. Giá như có một chai
dịch truyền nhỉ?
Tôi bước ra khỏi hầm,
trước mắt tôi cô gái vẫn đứng dưới ánh trăng
lúc này đã sáng hơn nhiều vì áng mây đã bay qua, bóng
nàng nghiêng dài vì trăng mới mọc. Đúng là cả ngày hôm
nay tôi quên hẳn người nữ bệnh nhân này! Thấy cô gái
vẫn khóc, tôi đến gần và nói:
– Thôi đừng
khóc nữa, chị đã đỡ chưa, sao không ngủ?
Cô gái ngẩng mặt
lên nhìn tôi, khuôn mặt đó, có vầng trán trắng sáng đến
lạ lùng, mái tóc buông xuống che một phần bên trán và
hình như dưới ánh trắng nghiêng, khuôn mặt ấy như là
một vầng trăng nữa, mờ ảo hiển hiện trước mặt tôi.
Cô gái không hề
trả lời câu hỏi của tôi, cô nói tấm tức:
– Tại sao anh
đánh anh ấy?
Tôi giật mình, ôi, cô
gái vẫn nghĩ về chuyện đó ư?
Tôi trả lời:
– Tôi đánh
kẻ giết người! Đúng... Anh ta là kẻ tự
giết mình.
Cô gái im lặng.
– Đúng không?
Vẫn im lặng.
... Cô gái từ
từ quay lưng bước đi, như chợt nhớ ra. Tôi chạy
theo:
– Xin lỗi cho
tôi hỏi một điều, chị tên là gì?
Cô gái đứng
lại, quay đầu về phía tôi trả lời nhỏ:
– Em tên là
Mai.
Và lặng lẽ Mai
tiếp tục đi về phía hầm mình, còn tôi thì
khắp mình đầy máu, chắc ghê gớm lắm, nên tôi phải
quay về hầm của mình để thay quần áo.
Trong chiến tranh cũng có
những khoảnh khắc êm đềm, đó là một buổi
sáng hôm ấy, một buổi sáng mà tiếng chim ríu
rít đến tận cửa hầm của mình. Một buổi sáng mà
bước ra khỏi hầm tôi thấy những cánh hoa rừng nhỏ
màu trắng rơi phủ khắp đường đi, một mùi thơm
kỳ diệu của một loài hoa nào đó mà tôi chẳng biết
tên đã âm thầm tỏa hương ngào ngạt quanh đây.
Tôi khoan khoái ra suối
rửa mặt. Hai đêm trước tôi thức trắng và chỉ
có đêm vừa qua tôi mới ngủ được một giấc
thật ngon lành.
Bỗng Mãn chạy xuống
suối tìm tôi.
– Hùng ơi, ông
lính đặc công ấy chết đêm qua rồi!
Tôi hốt hoảng:
– Ủa sao lúc
ông ấy chết không gọi mình?
Mãn mặt tái mét (hắn
đã biết lỗi của hắn)
– Mệt quá,
mình ngủ quên mất luôn! Ba đêm phải thức người
rũ ra, tha lỗi cho mình một lần nhé!
Chúng tôi chạy lên, một
chiếc áo bông hoa cà màu tím nền trắng đang gục
xuống bộ đồ xanh rằn ri của người lính đặc công
bết đầy đất đỏ và máu đen.
Đó là Mai, Mai đã mặc
áo mình, được giặt một cách sạch sẽ và được
vá lại do chính tay Mai, kim chỉ Mai đã mượn của mấy
anh lính anh nuôi. Mai đang khóc, tôi và Mãn đứng lại không
dám bước vào, Tiếng khóc Mai nhỏ, ấm ức, tức tưởi...
Phải đến năm sáu phút sau tôi mới bước tới và nói:
– Mai về
đi... Thôi đừng khóc nữa!
Mai từ từ đứng
lên, tôi nói tiếp:
– Thôi đừng
ở đây nữa, về đi, để bọn anh làm việc.
Mãn đưa cho tôi tấm
vải để tôi gói thi hài người lính đó. Tôi chợt
thấy một điều rất rõ rằng là mặt anh ta
đầm đìa nước mắt của Mai và hình như khuôn
mặt ấy tươi tắn, sáng lên, đẹp trai một cách lạ
thường.
Khuôn mặt ấy khác
hẳn với những khuôn mặt khô cằn ảm đạm
của những người lính bị chết trước đây, mà
tôi nhìn lần cuối trước khi phủ mảnh vải trắng
lên, giọt nước mắt của người con gái đẹp ấy,
đã rơi xuống đây, phải chăng, nó là một cơn
mưa đầu mùa hạ kỳ diệu làm xanh tươi mặt đất
bình yên.
Mấy ngày hôm ấy
Mai xin tôi được phép săn sóc thương binh, tôi
đồng ý. Sự thực Mai đã khỏe, vết thương của Mai
đã đỡ nhiều rồi mà tôi thì rất thiếu
người.
Mai lầm lũi theo tôi làm
việc im lặng không hề nói gì. Nhưng rồi có một lần
cô bé chắc lỡ lời tiết lộ một điều bí mật là anh
trai của cô là đại úy bác sĩ quân y đang làm việc ở
Bộ Chỉ huy quân đoàn 2 ngụy.
Ở con mắt thông minh thỉnh
thoảng ánh lên tia sáng ấy tôi không biết gì thêm hơn
nữa. Mai không hề nhắc đến chuyện cô bị thương vừa
qua và bản thân tôi, điều đó tất nhiên cũng không được
nói đến. Theo thỏa thuận của toàn bộ chúng tôi trong
trạm là mọi người phải giữ bi mật. Còn cô gái có tin
lời ranh mãnh của anh chàng Mãn không? Anh ta “sáng tác”
thật khéo. Rằng là Mai bị thương do pháo kích của địch
bắn ra, rằng là ba má và hai em cô không sao. Sở dĩ lúc
đó không cho họ đến săn sóc Mai được vì phải giữ
bí mật. Rằng là hiện nay nơi cô ở là vùng chiến sự
dữ dội nên chưa thể đưa cô về với gia đình được.
Từ khi Mai xin làm
việc thì không khí trong trạm cũng thay đổi hẳn đi. Điều
tôi thấy rõ nhất là những tiếng rên rỉ của các đồng
chí thương binh cũng bớt đi khi Mai bước tới. Đặc biệt
là những lời tục tĩu thô bỉ trước đây không hề có.
Vẻ đẹp dịu dàng thánh thiện của Mai như có phép lạ
rửa sạch những vết nhơ của thói quen cộc cằn thô lỗ.
Người lính cảm thấy mạnh bạo hơn, nghiêm trang hơn. Những
lời chọc ghẹo tầm thường không hề có. Cái đẹp đã
chinh phục toàn bộ và làm cho con người hướng mãi tới
sự cao thượng...
Một lần trong lúc làm
việc, không may ống tiêm chứa nước cất bể vỡ làm tay
tôi chảy máu, theo thói quen tôi đưa ngón tay lên miệng
và bỗng nhăn mặt lại. Mai vô cùng ngạc nhiên. Tôi phải
giải thích vì máu tôi đắng do uống thuốc sốt rét.
– ...Nhưng lòng
tôi không đắng! Tôi nói đùa kèm theo.
Bỗng nét mặt Mai nghiêm
lại với một vẻ mặt mất tự nhiên đến
tội nghiệp. Ôi! Mai đã suy đoán được ý
định xa xôi của câu nói đó, tôi vô cùng hối
hận Và từ ấy tôi tự nhủ với mình
là phải nghiêm túc.
Sự nhạy bén của
Mai làm tôi thêm sợ. Con người ấy không dễ gì mà lung
lạc được... Nhưng có điều kỳ lạ là Mai khóc rất nhiều.
Cô khóc vì sự đau đớn của thương binh, vì sự bất lực
của chúng tôi, nhìn thương binh chết dần chết mòn mà
không có thuốc.
Tôi còn nhớ, có buổi
chiều tôi và Mai bước vào hầm của một thương binh.
Bỗng Mai giật thót người và sau đó có thái độ rất
lạ... Nhưng một lúc sau cô vẫn bình tĩnh thay băng một
cách khéo léo cho người thương binh. Trên đường về tôi
đã đem điều thắc mắc ấy ra hỏi. Do dự một lúc Mai
mới xúc động kể cho tôi nghe một câu chuyện. Sở dĩ
lúc đó Mai ngạc nhiên là vì vết thương cụt bàn chân
phải của người thương binh này trông giống hệt như vết
thương của một người khác mà Mai đã chứng kiến....
Hơn một năm trước đây tại khu ấp dồn dân nơi cô ở,
bọn lính đã bắt được một chiến sĩ trinh sát trẻ tuổi
của ta, anh ấy bị vướng mìn nên cụt mất bàn chân phải.
Chúng thi nhau đấm đá người chiến sĩ bị thương này
và cuối cùng tên chỉ huy đã rút súng ra và bắn vào đầu
anh ta trước mắt rất nhiều người.
– Họ ác
quá!... Tiếng cô gái nghẹn ngào kết luận. Tôi chợt bắt
gặp con mắt ấy. Con mắt ứa lệ chứa đầy sự đau đớn
và căm hờn.
Như vậy phải chăng
sự hèn nhát hiếu sát của kẻ thù đã
đẩy những người dân bình thường lương thiện chưa hề
được giác ngộ về hẳn phía chúng ta. Đây là
một điều đảm bảo chắc chắn. Hiện nay chúng tôi đang
rơi vào tình trạng vô cùng nguy hiểm. Trước mắt và sau
lưng chúng tôi đều có kẻ thù. Và cũng có thể một ngày
nào đó chúng sẽ tới đây... Lúc đó tôi tin chắc rằng,
Mai của chúng tôi, một cô gái tự nguyện làm việc nhân
đạo ấy, sẽ như chúng tôi sẵn sàng bảo vệ các đồng
chí thương binh trong cái trạm trung chuyển không hề có
tên tuổi này!
...Ruồi muỗi ở
khắp khu rừng rủ nhau về đây, mùi hôi thối nồng
nặc từ những vết thương đã gọi chúng. Những thương
binh bị bom napan đau đớn vẫn gào thét suốt ngày đêm.
Tôi huy động anh em mang mùng đến cho họ để ngăn ruồi
muỗi, nhưng thật là lầm, nước từ vết bỏng thấm ra
và thấm luôn vào mùng vì thương binh đau đớn quằn quại
nên họ đã quấn cả mùng vào người. Bọn ruồi hung dữ
đẻ trứng trắng cả mùng và sau đó nở ra hàng trăm ngàn
giòi bọ, chúng bò khắp chỗ thương binh nằm. Mỗi buổi
sáng sau khi thấm ít cồn vào khẩu trang, tôi đến chỗ
họ. Ruồi nhặng cuộn lên như làn khói bốc cao, chúng thi
nhau lao tới tấp vào mặt tôi. Nhiệm vụ duy nhất của
tôi là dùng panh gạt và gắp giòi bọ để giết chúng.
Giòi bọ nhung nhúc khắp người thương binh. Hầu hết họ
đều bị tự nhiễm độc sốt cao và mê sảng. Có những
con giòi già mọc thêm gai ngạnh, chúng rúc sâu vào da thịt
có lẽ tim cách làm kén? Một lần tôi thấy con mắt bị
cháy chín thành màu trắng đục lỗ chỗ đầy những lỗ
giòi khoét. Tôi cố gắng lấy panh kéo chúng ra nhưng chúng
bám chắc và đứt lại một nửa trong đó. Thật là khủng
khiếp! 12 người thương binh bị bom napan đã chết hết!
Họ chết kiệt nước cong queo khô đét như những con cá
khô. Bao hình ảnh ghê rợn đó ám ảnh trong giấc mơ của
tôi mãi nhiều năm sau vẫn còn quay lại.
Mọi người ngạc nhiên
khi thấy Mai cũng như tôi không hề sợ gì
cả lao vào săn sóc thương binh ngày đêm đến kiệt
sức. Mai có phẩm chất quý giá của những người làm
ngành Y chân chính.
Những cơn mưa đầu
mùa lại ào tới, hầm của thương binh đầy nước
nổi lều phều những bông băng đầy máu mủ. Chúng tôi
quá ít người nên không thể chăm sóc xuể...
Một buổi chiều tôi thấy
tự nhiên bủn rủn đứng không vững được nữa
và ngã gục xuống. Anh em đỡ tôi vào hầm. Thực sự mấy
ngày hôm nay tôi vẫn sốt cao nhưng tôi đã giấu anh em để
làm việc. Tôi mê mẩn trong cơn sốt rét ghê gớm đó. Tôi
nghĩ tôi sẽ không còn sống được... Tự nhiên tôi thấy
những giọt nước mắt nhỏ xuống mặt tôi, nhỏ xuống
môi tôi mằn mặn. Trong cơn mê sảng tôi cố mở mắt...
Khuôn mặt quen thuộc mờ ảo của Mai ngay sát mặt tôi,
gần lắm vì tôi thấy hơi thở thổn thức của nàng phả
cả vào mặt tôi... Tai thì bị ù nên không thể nghe thấy
gì.
Những giọt nước mắt
nóng hổi nhỏ xuống đó suốt đời tôi sẽ còn nhớ mãi.
Giọt nước mắt ấy đã từng làm ướt cả khuôn mặt
người thương binh đáng thương kia và bây giờ nó lại
làm uớt cả khuôn mặt tôi. Mai nhiều, nhiều nước mắt,
quá chừng!
Tôi đã khỏi bệnh
trong vòng tay của anh em đồng đội và sự thực cả trong
vòng tay yếu đuối có vết thương chưa lành của Mai. Mọi
người vui mừng khi thấy tôi tiếp tục làm việc. Nhưng
đó là những niềm tin thật tội nghiệp, vì làm nghề y
mà không có thuốc trong tay thì cũng bằng không.
Những buổi chiều tôi
ngẩng mặt nhìn về phía trời phương tây mà đau xót. Tại
sao người ta không đến cứu chúng tôi! Tại sao những người
thương binh kia không hề có một viên thuốc để rồi chết
rất thương tâm trong những cơn sốt hành hạ của nhiễm
trùng và nhiễm độc. Tiếng pháo kích của kẻ thù càng
ngày càng nổ rất gần nhưng chúng tôi không hề quan tâm
tới. Tất cả chúng tôi đều làm việc như máy. Những
nấm mồ của trạm quân y tôi càng ngày càng nhiều thêm,
hàng dãy, hàng dãy...
Vào một buổi sáng, bỗng
có tiếng Mãn reo lên:
– Hùng ơi!,
chúng ta được tiếp viện rồi!
Tôi chạy vội ra. Chao
ôi bộ đội nhiều quá. Những người lính vận tải
thân yêu đã đến. Họ đã không quên chúng
tôi, tuy rằng cũng khá muộn màng!
đồng chí chỉ huy có
khuôn mặt dài đầy mụn trứng cá đáng ốm yếu đến
gặp tôi.. Chúng tôi bàn bạc và quyết định đưa các thương
binh nặng đi trước rồi sau đó quay trở lại đợt hai
đón những người nhẹ hơn.
Bốn muơi chiếc cáng thương
binh đã lên đường tôi đi theo hộ tống. Cả
Mai nữa tôi cũng cho Mai về tuyến sau... Mai không nói
gì lặng lẽ làm theo.
Đường chúng tôi đi là
con đường đi vòng để tránh pháo “bầy” của địch
bất chợt bắn tới, có đoạn nó đi song song với
con đuờng 14, con đường nhựa này đã làm lâu lắm rồi,
từ những năm nửa đầu thế kỷ này nên nó già cỗi,
quá cũ kỹ và hư hỏng nhiều đoạn. Trong hai cuộc chiến
tranh nó là nơi tranh chấp đẫm máu giữa địch và ta.
Khoảng 11 giờ khi
đang đi tôi bỗng cảm thấy trong không gian có sự
nặng nề rờn rợn và ngay sau đó là sự
rung chuyển ghê gớm. Có người kêu lên lạc giọng:
– B.52!
Lúc đó tất cả mọi
người đều lao người nằm úp xuống, đất đỏ tung lên,
giữa ban ngày mà tôi vẫn thấy những tia chớp chói lòa
của bom. Tiếng nổ kinh hoàn liên tục và hơi bom ào ào
như gió lốc... Đợt B.52 kết thúc, trời bỗng tối sầm
như ban đêm vì khói bom đen bốc cao mù mịt che khuất cả
mặt trời giữa ban trưa. Chúng tôi không hề có ai bị việc
gì. Xung quanh chúng tôi đầy cành cây và lá cây bị xé
nát, đất đá ám khói nóng hổi do bom nổ văng tới, rừng
quá rậm nên tôi không nhìn thấy gì nhưng tôi ước chừng
hố bom gần nhất chắc cách khoảng vài chục mét.
Chúng tôi lại bước đi
trong im lặng, không khí căng thẳng, không ai nói với
ai vì chúng tôi biết theo quy luật, kẻ thù
nhất định sẽ đánh tiếp những đợt bom B.52
sau nữa...
Bỗng có tiếng trực
thăng rộ lên và ầm ầm, rất nhiều tiếng
máy bay trực thăng nữa. Thế là chúng đi “quây” rồi!
Nhưng rừng rất rậm nên chúng tôi vẫn đi. Đoạn đường
này ngay sát quốc lộ – 14, những chiếc trực thăng phản
lực vũ trang mà chúng tôi gọi đó là “xương cá” đang
lao tới. Vòng càng ngày càng hẹp, độ cao của chúng thấp
xuống dần. Chúng tôi có cảm giác là đã bị lộ! Không
ai bảo ai, chúng tôi dừng lại mỗi người cố thủ một
gốc cây. Tiếng động cơ máy bay càng ngày càng dữ dội
tôi có cảm giác như là cây rung chuyển bởi gió cánh quạt
của những chiếc máy bay quạt xuống. Chỗ chúng tôi ẩn
nấp nằm sát một cái rẫy bị bỏ hoang ngay cạnh đường
14. Chỗ này có ưu điểm là rất bất ngờ vì không có
cây nên chúng tôi có điều kiện quan sát hành động của
chúng. Tôi đếm được 8 chiếc trực thăng. Chúng chúi đầu
bay thấp với tốc độ rất nhanh, chắc chúng sợ súng bộ
binh của ta... Không khí lúc này căng thẳng, những tiếng
rên la của thương binh hình như cũng im bặt...
Bỗng! Đoàng, đùng...
hai phát súng nổ rất gần. Cái gì thế? Làn khói
súng đen sì phủ chỗ ngồi của người chỉ
huy vận tải... Tôi nhìn theo hướng bắn. Trời Mai đang
chạy giữa rẫy trống không, gió thổi tung bay chiếc áo
màu hoa tím quen thuộc... Chết thật, tôi còn nhớ cách đây
ít phút Mai cùng ngồi xuống cạnh tôi, cách một khoảng
khá gần cơ mà?
Mai vẫn chạy sau hai viên
đạn bắn trượt đó. Tôi lao lại chỗ người chỉ huy
đội vận tải, tay tôi nắm lấy nòng súng nóng hổi đẩy
ngược lên. Một tiếng nổ chát chúa, viên đạn xuyên vào
tổ mối ngay trước mặt phía bên trái tôi. Hơi đạn và
tiếng nổ gặp vật cản phản hồi lại rất mạnh làm
tôi choáng váng.
– Làm gì
đó! Tôi thét lên.
Người chỉ huy đội
vận tải cố giằng lấy khẩu súng và cùng kêu
to không kém:
– Xem kìa, nó...
nó giết chúng ta!... nó chạy về với địch!
– Tôi cấm anh
bắn người đó!
Tôi giật rất mạnh, khẩu
súng đã thuộc về tôi, anh ta kinh hãi nhìn tôi:
– Cậu... cậu
làm cái gì vậy’?
Tôi gằn giọng nhắc lại:
– Tôi cấm anh
bắn người đó!
– Nếu nó
làm lộ, chết thương binh thì anh hoàn toàn chịu trách
nhiệm đấy.
Tôi không trả lời
và nhìn theo bóng Mai, lúc này cô ta chạy tới gần
mép đường nhựa cách xa chúng tôi khoảng 200m.
Nhưng kìa! Chung quanh cô
đầy chớp lửa, màn khói đen bốc lên che kín, tôi
còn kịp thấy Mai lảo đảo ngã xuống.
Chiếc máy bay như
đứng chững lại trên cao phóng tiếp một loạt rốc két
thứ hai. Khói bốc lên mịt mù...
Tôi kêu thét lên:
– Ma ... ai...!
Tôi định chạy
đến chỗ Mai, nhưng người chỉ huy và một
người lính vận tải đã giữ chặt tôi lại.
– Cô ấy
chết rồi!
Người chỉ huy đội
vận tải bình thản nói vào tai tôi và càng xiết chặt
cánh tay tôi. Chiếc máy bay thứ hai tiếp tục phóng
rốc két, tiếng nổ rộn lên nhưng sang phía bên kia đường
nhựa. Bọn quỷ dữ đã lạc phương hướng, chúng thi nhau
bắn nát cả khu rừng phía bên kia đường. Chỉ một vài
viên đạn nổ ở phía bên rẫy chỗ chúng tôi mà thôi...
Khoảng 15 phút sau chúng
bỏ đi. Người chỉ huy vận tải nói:
– Bây giờ
chúng ta có thể đến đấy được rồi!
được giải phóng, tôi
băng qua rẫy chạy tới chỗ Mai. Trước mắt tôi trải dài
một bãi gai xấu hổ. Nếu bình thường thì phải vòng tránh
nhưng lúc đó tôi đâu để ý. Tôi có cảm giác thấy chân
bị gai cào, da thịt bị xé nhưng không hề có cảm giác
đau...
Mai kia rồi. Mai nằm
úp sấp trên mặt đường nhựa, manh áo nhuộm đỏ
máu. Hai tay vươn ra, phía trước như đã từng chới
với, thân thể Mai đầy vết thương, lồng ngực bị
phá nát, một lỗ hổng to tướng ngay ở phía
bên tim... Tôi quỳ xuống nắm lấy bàn tay trắng trẻo xanh
xao của Mai. Ôi bàn tay này đã cùng tôi rửa bao vết thương
cho thương binh!...
Tôi cảm thấy trời
đất chao đảo, không tôi vẫn tỉnh. Tôi nghiến răng bóp
chặt lấy bàn tay lạnh giá của Mai... tôi không hề
khóc!
Các đồng chí
vận tải cũng đã tới và giúp tôi đưa Mai trở
về phía bìa rừng. Anh chỉ huy đội vận tải nói:
– Tôi đề
nghị đồng chí Hùng quân y một điều này
nhé! Bây giờ rất gấp rồi, lại nguy hiểm nữa, chúng
ta hãy để cô gái này tạm ở đây và
đi ngay... Với lại chúng ta không hề mang cuốc xẻng sao
mà có thể chôn cất được cô ấy! Còn khoảng hai tiếng
nữa đến bờ sông, giao xong thương binh ta mượn cuốc xẻng
về làm cũng không muộn.
Tôi không nói gì lặng
lẽ sửa cho Mai nằm ngay ngắn, rồi tôi dùng chiếc
khăn dù trên cổ của mình để phủ lên mặt Mai. Mai,
cô gái nhỏ ấy, bình thản như người đang ngủ, mãi mãi
nằm im lặng. Không gian im ắng lạ thường, những người
lính vận tải lặng lẽ chung quanh xác Mai. Họ đều ngả
mũ...
Tới bờ sông Pôcô
chúng tôi đã giao được thương binh, không có đồng
chí nào bị chết trong lúc vận chuyển. Chúng tôi vội mượn
hai chiếc xẻng quay về nhằm mục đích chôn Mai... Nhưng
thật đau xót, khu vực chúng tôi đặt thi hài Mai đã bị
B.52 đánh nát không còn dấu vết gì nữa. Đợt B.52 mà
chúng tôi nghe thấy khoảng một tiếng đồng hồ trước
đây, đúng là chúng đã đánh vào nơi này.
Mai không bao giờ còn
nữa. Cô đã trở thành cát bụi.
Bảy tháng sau trong một
lần đi công tác, chúng tôi đã đi qua khu vực
ấy. Bấy giờ hiệp định Pari đã ký kết
nên chúng tôi ung dung đi trên đường quốc lộ.
Lạ thay, chính chỗ
này đây một hình người được in hẳn trên mặt
đường nhựa! Chúng tôi đứng nhìn và thật là
kinh hãi!
Đúng rồi hình hai cánh
tay vươn tới, cái đầu hơi ngoẹo đây! Chính xác đây
là hình thân thể của Mai. Vì lúc Mai chết, máu chảy ra
hết thấm vào khắp thân người, thấm cả tới đầu và
cả hai cánh tay. Tôi còn nhớ như in. đường nhựa ở đây
quá lâu đời, quá cũ kỹ nên máu có thể thấm xuống được!
Mưa nắng chưa thể làm phai mờ vết tích ấy!