TRUYỆN CỔ GRIMM  

Lời Nói Đầu

Những đại diện nổi tiếng nhất của nền văn học Đức là Goethe, Schiller, kế đến là anh em Grimm.
Đầu thế kỷ trước, vào những đêm đông giá lạnh, anh em Grimm đi vào các làng thôn ở Kassel nghe những người dân bình dị kể chuyện cổ tích và ghi chép lại.

Trong thời buổi có những xung đột chính trị và khởi đầu của cuộc chiến tranh, người dân yêu thích những câu chuyện có lối hành văn súc tích và trong sáng, những câu chuyện đó để lại trong lòng họ hình ảnh của một thế giới hòa đồng, nơi thiện luôn luôn thắng ác.
Ngoài việc sưu tầm truyện cổ tích, anh em Grimm còn là những nhà ngôn ngữ Đức, giáo sư đại học ở Goettingen. Trong lời nói đầu cuốn tự điển Đức, anh em Grimm có viết: “Ngôn ngữ và văn học có nét chung giống nhau, nó là cội nguồn của một dân tộc Đức”.
Qua những điều nêu trên ta càng thông cảm với anh em Grimm và thời đại các ông. Những sự kiện tương tự nhất định cũng có trong lịch sử Việt Nam. Có lẽ vì vậy mà truyện cổ tích được mọi người ở Việt Nam yêu thích.
Tôi xin chúc tất cả các bạn đọc có nhiều niềm vui trong lúc đi sâu vào thế giới Truyện cổ Grimm.


Erhard Zander
Tổng lãnh sự Cộng hòa liên bang Đức ở Thành phố Hồ Chí Minh

Lời Giới Thiệu Của Dịch Giả

Nói tới Truyện cổ tích Đức người ta nhắc ngay tới anh em Grimm.

Jacob sinh năm 1785, năm sau – 1786 – Wilhelm chào đời. Thành phố Hanau ở miền Tây nước Đức là quê hương của anh em Grimm. Sau khi tốt nghiệp đại học cả hai lặng lẽ về các làng thôn ở Hessen, Main, Kinzing, và Kassel nghe các cụ già kể chuyện cổ tích và ghi chép lại.
Sau nhiều năm sưu tầm ghi chép, năm 1812 tập 1 Truyện cổ tích Đức xuất bản, năm 1814 anh em Grimm cho xuất bản tiếp tập 2.
Anh em Grimm đặt tên bộ sách là:

“Truyện cổ tích kể cho trẻ em và trong gia đình” (Kinder- und Hausmãrchen). Và ở trang đầu tiên của cuốn sách đề:

“Tặng bà Elesabeth von Arnim và cháu nhỏ Johannes Phraimun”.

Giải thích việc đặt tên cho bộ sách của mình, anh em Grimm viết:

“Những câu chuyện tưởng tượng được kể cho trẻ nhỏ nghe để thức tỉnh trong tâm hồn thơ ngây trong trắng của các em những suy nghĩ và động lực của con tim, và để cho những cái đó phát triển trong tâm hồn các em. Chất thơ mộc mạc gần gũi làm cho chúng ta thấy đời vui, sự thật trong truyện có thể răn người đời”.

Tác dụng của bộ sách “Truyện cổ tích kể cho trẻ em và trong gia đình” lớn hơn nhiều điều anh em Grimm tưởng tượng, nó đã có tiếng vang rất lớn trong đời sống tinh thần hồi bấy giờ, nó hướng mọi người trở về với sức mãnh liệt vốn tiềm tàng trong nhân dân và bắt nguồn từ nhân dân, nó kích động được tinh thần dân tộc trong cuộc chiến đấu chống chiến tranh xâm lượt của Napoleon. Rồi từ khắp nơi trong nước Đức hồi bấy giờ người ta gửi thư tới anh em Grimm, rồi có những đợt quyên góp tiền, sách để cổ vũ và tạo điều kiện vật chất cho anh em Grimm thực hiện những công trình khoa học lớn hơn.

Công trình khoa học của anh em Grimm nhiều, nhưng nổi tiếng và quen thuộc nhất với mọi tầng lớn nhân dân vẫn là bộ sách “Truyện cổ tích kể cho trẻ em và trong gia đình”.

Truyện cổ tích dân tộc nào cũng có, nhưng tại sao tập Truyện cổ tích Đức của anh em Grimm lại được ưa thích và nổi tiếng như chúng ta vẫn biết?

Từ khi xuất bản lần thứ nhất năm 1812 tới khi xuất bản lần thứ 7 vào năm 1857, bộ sách được bổ sung, sửa chữa nhiều lần. Từ những câu chuyện rời rạc, không nhất quán nói về nội dung cũng như văn phong, Wilhelm Grimm đã biên soạn, chỉnh lý bằng ngôn ngữ ngắn gọn, súc tích, dí dỏm và giàu hình ảnh, ông đã nâng nó thành những tác phẩm cổ điển trong văn học thế giới.

Bộ sách “Truyện cổ tích kể cho trẻ em và trong gia đình” cho ta thấy một bức tranh sinh động, đầy sức sống tươi trẻ, vô tận nhưng đầy sáng tạo của quần chúng cần lao Đức, nó đã và đang là nguồn cảm hứng sáng tạo cho biết bao họa sĩ, nhạc sĩ cũng như những nhà làm phim.

Truyện cổ tích – truyện cổ dân gian – được sáng tác ra không phải chỉ để dành riêng cho thiếu nhi, nó sinh ra do nhu cầu sinh hoạt của người dân ở thời kỳ khoa học kỹ thuật chưa phát triển, con người còn lo sợ trước những hiện tượng thiên nhiên và xã hội, mà họ chưa đủ khả năng giải thích và giải quyết. Người dân đã dùng trí tưởng tượng của mình kết hợp với những sức mạnh siêu nhiên kỳ diệu để giải thích và giải quyết những việc đó.

Trước khi được ghi thành văn tự, truyện cổ tích là văn học truyền khẩu, nó là sản phẩm của sách tác có tính chất tập thể và được gọt giũa qua không biết bao nhiêu thế hệ, nó mang tính nhân dân và phản ánh tinh thần lạc quan, niềm tin vào sự tất thắng của chính nghĩa.
Truyện cổ tích phản ánh trung thực quan điểm của người dân về công lý xã hội, là tấm gương phản chiếu tín ngưỡng, phong tục tập quán, tâm tình và ước vọng của một dân tộc, chính vì nét này mà các nhà sử học và dân tộc coi kho tàng truyện cổ tích là những tư liệu quý trong khi nghiên cứu các thời kỳ khác nhau của một dân tộc.

Lịch sử phát triển của Truyện cổ tích Đức gắn liền mật thiết với lịch sử xã hội Đức. Ở những thời kỳ khác nhau trong lịch sử dân tộc Đức thì hình thành những mô típ nhất định tiêu biểu cho thời kỳ đó:

1. Truyện ma quỷ, phù thủy có từ thời kỳ bộ lạc, khi con người tin ma quỷ, thần thánh là có thật, có người tí hon, người khổng lồ v.v… (Bà Trude).

2. Truyện súc vật có từ thời kỳ bộ lạc, khi con người biết nuôi súc vật và thuần hóa nó. Và cũng từ đó có chuyện súc vật nuôi phải tự vệ chống chọi với súc vật hoang dã, rồi có con vật tượng trưng cho sự độc ác và có con được coi là hiền lành (Chó sói và bảy chú dê con).

3. Truyện vua chúa hình thành trong thời gian từ thế kỷ thứ hai tới thế kỷ thứ mười ba – thời kỳ phong kiến – (Vua chích chòe), Truyện có tính hiệp sĩ ta thấy rõ nét ở những truyện cổ tích hình thành từ thế kỷ mười một tới thế kỷ mười hai (Con cú).

4. Truyện phê phán xã hội hình thành trong thời gian từ thế kỷ mười ba tới thế kỷ mười lăm (Bác nông dân nghèo lên trời).
Ta có thể dựa trên một số đặc điểm để nhận dạng truyện cổ tích:

1. Ta không tìm được và theo văn bản đáng tin cậy nào để tìm ra tác giả.

2. Trong truyện thời gian, địa điểm cũng như nhân vật thường không xác định. Câu chuyện thường bắt đầu bằng “Ngày xửa ngày xưa…” và có cái kết thúc rất hậu “Họ sống sung sướng cho tới khi tóc bạc răng long v.v…” và nếu như thời gian, địa điểm và nhân vật được xác định thì cũng chỉ có tính chất tiêu biểu, tượng trưng.

3. Tên nhân vật thường rất quen thuộc trong dân gian, đó là “Hans sung sướng”, “Hans lấy vợ”, “Hans sắt”, “Hans người nhím”, “Hans lêu lổng”, “Hans khôn ngoan” v.v…

4. Nhân vật chính trong truyện là thú vật hay người chứ không phải là thần (như trong thần thoại) và cũng không phải là những nhân vật có thật trong lịch sử (như trong truyền thuyết).

5. Câu chuyện trong truyện cổ tích thông thường nằm trong ba thế giới khác nhau: loài người, thần tiên và ma quỷ – trần gian, thiên đường và địa ngục.

6. Trong truyện người và vật nói hiểu nhau (Những con vật biết ơn).

7. Trong truyện thường có nhịp điệu số ba: truyện chia làm ba đoạn, trong đó đoạn đầu và đoạn cuối là ở thế giới loài người, ở đoạn giữa thường là những chi tiết có tính chất kỳ vĩ, siêu nhiên (Hai vợ chồng người đánh cá). Trong truyện có ba nhân vật, ba việc phải làm v.v… có ba anh em ruột – chị em ruột – thì người em út là người chịu thiệt thòi nhất, nhưng cuối cùng lại sung sướng nhất. Ba anh em, trong ba việc phải làm thì việc thứ ba là nặng nhọc, khó khăn nhất (Ong chúa).

8. Cốt truyện cổ tích phần đông bắt nguồn từ cuộc sống của con người và chứa đựng tinh thần nhân bản sâu sắc, những kẻ gian ác thế nào cũng bị trừng trị, nhưng trừng phạt ấy thường nhẹ hơn tội do chính những kẻ ấy gây ra (Cô lọ lem).

9. Nhân vật trong truyện dù là người, vật, hay những đồ vô tri vô giác đều lôi cuốn người đọc bởi lối kể dí dỏm, giàu hình tượng, cách hành văn trong sáng, bởi tất cả đều có một cuộc sống riêng vô cùng sinh động và phong phú.

Qua những điều đã nêu ở trên, chúng ta thấy truyện cổ tích Đức – truyện cổ dân gian Đức – miêu tả thiên nhiên cùng những quan hệ xã hội Đức, cho ta biết được cá tính, tâm tình, sinh hoạt và quan niệm đạo đức của nhân dân Đức, nó bộc lộ cách nhìn Đức về các sự vật, sự việc và con người, nó bộc lộ trí tuệ Đức cùng với những đặc trưng của ngôn ngữ Đức. Tất cả những điều đó khiến cho truyện cổ tích có những nét đặc trưng và độc đáo.

Một nét lớn cần lưu ý trong truyện cổ tích: đề tài và tư tưởng của nó có tính chất chung cho toàn nhân loại: chính nghĩa bao giờ cũng thắng phi nghĩa, thiện bao giờ cũng thắng ác, dù ở góc nào trên trái đất, truyện cổ tích các nước đều phản ánh ước vọng sống trong hòa bình, hạnh phúc của các dân tộc.

Đầu thế kỷ XIX là thời kỳ văn học lãng mạn Đức. Chủ nghĩa lãng mạn Đức không kế thừa và phát huy được các truyền thống nhân đạo của thời kỳ Khai sáng, nó trốn tránh thực tại tìm về với cuộc sống tinh thần của thời trung cổ bằng việc sưu tầm truyện cổ dân gian, dân ca v.v…

Thực ra, sự nghiệp của anh em Grimm lúc đầu cũng chưa có gì đáng kể. Họ cùng với Brentano sưu tầm nghiên cứu truyền thống Nibelung và Dieterich. Brentano sưu tầm truyện cổ tích Đức và có ý định sẽ cho xuất bản truyện cổ tích vào 1809. Nhưng kế hoạch ấy ông bỏ. Từ công việc sưu tầm truyện cổ tích Đức ông lại chuyển hướng sang sáng tác truyện nhái theo lối truyện cổ tích.
Ngược lại, anh em Grimm từ chỗ sưu tầm truyện cổ tích lúc đầu chỉ là nguồn vui trong lúc nhàn rỗi lại trở thành một công việc nghiêm túc đi cùng với hai ông trong suốt cuộc đời.

Jacob Grimm đã đưa nguyên tắc khoa học cứng đờ của một nhà nghiên cứu trong việc xuất bản cuốn sách (nghe được như thế nào để nguyên như vậy cho in) rồi anh em cứ tưởng người đọc cũng hiểu những truyện cổ tích ấy như mình hiểu nó.

Brentano không hài lòng với văn phong của tập sách, ông viết thơ cho Arnim.

“Kể ra tập sách có nhiều truyện thật, nhưng tôi không được vui như tôi mường tượng. Vì quá trung thành với lời nghe lể nên tôi thấy những truyện cổ tích ấy sao nó rời rạc không được trau chuốt. Cũng vì vậy mà có những truyện trở nên buồn tẻ, mặc dù những truyện ấy ngắn. Tại sao những truyện đó không thể kể hay hơn được. Về thể loại mà nói thì nó là một thể loại hoàn chỉnh cơ mà”.

Brentano và Arnim có trao đổi thư từ về việc này với anh em Grimm.

Nếu ta so sánh bản xuất bản đầu tiên vào năm 1802 với xuất bản lần chót đời anh em Grimm – lần thứ bảy vào năm 1857, ta sẽ thấy ở bản thứ nhất mang dấu ấn của rụt rè, rời rạc. Qua mỗi lần tái bản tập truyện cổ tích lại được Wilhelm Grimm biên tập lại nên văn phong sinh động, tế nhị, trau chuốt hơn, những rườm rà được cắt gọt, câu văn được mài dũa kỹ lưỡng nhưng vẫn giữ lối kể chuyện dân gian.

Gorres một người bạn của anh em Grimm viết thư cho Wihelm như sau: “Tập sách đã thỏa mãn lòng mong đợi của đám trẻ con, lúc nào chúng cũng cắm cúi đọc, tay không rời khỏi sách. Đứa con lớn của tôi còn đem cho trẻ con hàng xóm xem nhờ. Một hôm đứa trẻ con hàng xóm mang dồi rán sang cho con tôi và xin mượn quyển sách. Bây giờ tối nào, vợ tôi cũng đọc truyện cho trẻ con nghe”.

Có thể nói tập sách, có chỗ đứng xứng đáng của nó và nó để lại một dấu ấn mạnh mẽ trong đời sống đám trẻ con.

Mặc dù được lưu truyền qua nhiều thế kỷ và ở mỗi dân tộc truyện cổ dân gian lại có những nét riêng độc đáo của nó, nhưng mỗi khi đọc người ta dễ quên đi nơi có xuất xứ người ta bị thu hút ngay vào câu chuyện, vì gốc rễ những chuyện này ăn sâu vào tất cả đáy lòng mọi người ở đâu cũng thế. Trẻ em say mê truyện bởi những điều kỳ lạ hợp với ước vọng mình, người lớn bị thu hút vào truyện bởi những triết lý đơn giản nhưng sâu sắc, người già vỗ tay tiếc rằng mình giờ mới thấy hết sự phong phú của cuộc sống.

Khi đã 65 tuổi, Hermann Grimm mới công bố những di sản của bố và bác – Wilhelm và Jacob Grimm. Trên cơ sở tài liệu này và những tài liệu đã công bố trước đó chúng ta mới biết những ai đã kể truyện cổ tích cho anh em Grimm nghe.

Trong số những người kể truyện phải kể đến người chăn cừu trên đỉnh núi Brunsberg ở Hoexter, bác giữ ngựa Johann Friedrich Krause ở một làng gần Kassel, bà Dorothea Viehmann, bà Marie Mueller, và một số người thân quen với anh em Grimm.

Do may mắn trong lần đi nghe bà Viehmann lại có cả chú em út Ludwig Emil Grimm – họa sĩ – nên chúng ta có được bức tranh Jacob và Wilhelm Grimm ngồi nghe bà kể chuyện.

Bà Viehmann là con một chủ quán, chồng bà là bác thợ may Nikolaus Viehmann, bà có sáu người con, “bà đã trên 50 tuổi, người khỏe mạnh, có bộ mặt phúc hậu, có cái nhìn sắc bén toát ra từ đôi mắt sáng long lanh, và có lẽ thời con gái bà cũng là một trong những hoa khôi của làng Zwehren. Bà nhớ rất rõ từng chi tiết trong truyện cổ tích – như chính bà nói, trí nhớ dai ấy là trời cho – bà kể say sưa những mẩu chuyện ấy và mọi người há hốc mồm ra nghe, chính vì thế nên có lúc phải xin bà kể lại cho nghe lần thứ hai mới ghi chép được những gì bà kể. Và không những từng chi tiết, mà từng lời, từng chữ bà nhớ như in trong đầu và kể lại cho chúng tôi nghe ghi (theo lời Wihelm Grimm). Trong số truyện bà Viehmann kể có “Bác sĩ vạn năng”, “Em bồ hóng của quỷ”, “Cô gái chăn ngỗng”, “Vua chích chòe”.v.v…

Bà Marie Mueller là quản gia cho gia đình “Hiệu thuốc Mặt trời” ở Kassel. Bà thường kể chuyện cổ tích cho hai cô con gái của gia đình chủ hiệu thuốc là Dorothea Wild và Magareta Wild nghe. Hai cô là bạn thân của “Lotte bé bỏng”. Chính vì thế nên Wilhelm thường lui tới gia đình “Hiệu thuốc Mặt trời”. Trong số truyện bà Marie Mueller kể có “Cô bé quàng khăn đỏ”, “Công chúa ngủ trong rừng”.

Mọi người trong gia đình “Hiệu thuốc Mặt trời” thường kể cho Wilhelm nghe truyện cổ tích ở trong vườn, lúc trời giá lạnh thì ở bên lò sưởi. Dorothea Wild đã kể một số truyện cho Wilhelm Grimm nghe trong đó có “Bà chúa tuyết”, “Bàn ơi, trải khăn ra, sắp thức ăn đi”.

Từ sưu tầm truyện cổ tích đến thân quen, tình yêu giữa Wilhelm với cô Dorothea hình thành tự nhiên theo năm tháng, và năm 1825 Wilhelm Grimm đã làm lễ thành hôn với cô con gái hiệu thuốc Dorothea Wild.

Trong tiếng Đức từ Maerchen gồm hai thành phần: phần từ gốc Maer – và tiếp vần cuối – chen. Ở thế kỷ 15 chữ này viết là maere và có nghĩa là câu chuyện tưởng tượng. Tiếp vần cuối – chen có nghĩa là nhỏ, bé, ngắn; nếu gắn – chen vào tên người là tỏ ra yêu quý. Thí dụ: Dorothea – Dortchen. Với sự ra đời của “Truyện cổ tích kể cho trẻ em và trong gia đình” chữ Maerchen được định hình với nghĩa: Truyện cổ dân gian. Để tưởng nhớ tới công lao của hai anh em Grimm nên những lần xuất bản sau khi anh em Grimm mất, bộ sách lấy tên là “Truyện cổ Grimm”.

Người ta thường chia Truyện cổ dân gian Đức làm sáu loại:

* Truyện thế sự.

* Truyện loài vật và sự tích.

* Truyện có tính răn đe, giáo dục như truyện ngụ ngôn.

* Truyện vui cười.

* Truyện đố.

* Truyện hoang đường.

Giáo sư Chu Xuân Diên, một trong những người soạn bộ sách “Văn học dân gian Việt Nam” đã có nhận xét so sánh như sau:

“Đọc truyện cổ Grimm, độc giả không những chỉ thấy lòng mình ấm áp hẳn lên vì nội dung nhân đạo của nó, trí óc mình sắc sảo thêm lên vì những kinh nghiệm về cuộc sống dồi dào của nó, cảm quan thẩm mỹ được thỏa mãn vì nghệ thuật kể truyện trong sáng mà hấp dẫn của nó. Đọc Truyện cổ Grimm độc giả Việt Nam còn được hưởng một niềm vui thích đôi khi đến ngạc nhiên, vì thấy giữa nhiều chuyện của nhân dân hai nước Đức và Việt Nam, có nhiều điểm giống nhau, thậm chí giống nhau đến kỳ lạ.

Cảm giác ấy thấy rõ nhất trong chúng ta khi so sánh truyện Cô lọ lem (Đức) với truyện Tấm Cám (Việt). Hai truyện giống nhau không những cả về chủ đề cốt truyện, mà cả về nhiều chi tiết. Có thể coi đó là hai dị bản của cùng một kiểu chuyện về đề tài dì ghẻ con chồng. Sự giống nhau về kiểu truyện như thế này chúng ta còn gặp thấy giữa truyện “Cứu vật, vật trả ơn, cứu nhân, nhân trả oán” (Việt) và truyện “Những con vật biết ơn” (Đức).

Tại sao lại có những sự giống nhau như vậy giữa truyện cổ tích Đức và truyện cổ tích Việt Nam?

Sự giống nhau nói trên có thể do nhân dân lao động hai nước cùng có những nét chung về kinh nghiệm sống, cùng có chung những ước mơ về một cuộc sống tốt đẹp trong đó cái thiện thắng cái ác, sự thật thắng điều gian dối, trong đó lao động sáng tạo và lòng tốt đối với nhau là cơ sở của mối quan hệ giữa con người với con người. Chính sự giống nhau này cũng là nguyên nhân làm cho độc giả Việt Nam từ lâu và mãi mãi sẽ vẫn còn yêu thích Truyện cổ Grimm như đã từng yêu thích kho tàng truyện cổ tích của chính dân tộc mình”.

Chúng tôi đã tiến hành dịch truyện cổ Grimm từ năm 1978, có nhiều truyện được giữ nguyên văn phong địa phương – thổ ngữ – Muenster và Paderbron ở thế kỷ XIX. Nhờ vốn cổ văn Đức – althochdeutsch, mittelhochdeutsch, neuhochdeutsch – học được trong thời gian học Ngữ văn Đức ở Trường Đại học Tổng hợp Karl Marx Leipzig 1969 – 1974 – Nhờ những chuyến đi đọc sách (mỗi lần 3 tháng) vào những năm 1980, 1986, 1989, 1991 ở thư viện của ĐHTH Humboldt Berlin, ở thư viện của Trung tâm nghiên cứu văn học cổ điển ở Weimar, ở thư viện của Trung tâm nghiên cứu dịch văn học của ĐHTH Gõttingen, thư viện của Trung tâm bách khoa về cổ tích ở thành phố Goetingen, ở thư viện Đức ở thành phố Leizig, ở nhiều thư viện của ĐHTH Muenchen – nên chúng tôi đã khắc phục được những khó khăn trong việc dịch cho sát và thoát ý, trong việc nâng cao và mở rộng tầm hiểu biết của mình về tục ngữ, câu đố và truyện cổ tích Đức.

Chúng tôi hy vọng bản dịch Truyện cổ Grimm góp phần nào vào giao lưu văn hóa giữa hai dân tộc, đồng thời để làm phong phú thêm tinh hoa văn hóa Việt Nam qua sự giao lưu văn hóa, học hỏi lẫn nhau.

Trong lần in này phần Lời giới thiệu phong phú hơn, để bạn đọc có điều kiện hình dung hết được bức tranh thiên nhiên, xã hội và con người Đức. Đặc điểm nổi bật của truyện cổ tích là, toàn bộ truyện cổ tích của một dân tộc vẽ nên một bức tranh về sự hài hòa giữa thiên nhiên, xã hội và con người của dân tộc đó, cho dù tôn giáo của họ là Phật giáo, Thiên Chúa giáo hay Hồi giáo… chúng tôi có phần chú thích, bài viết về đặc điểm tên người con người Đức ở phần phụ lục.

Ở phần này còn có bảng đối chiếu so sánh truyện cổ Đức – Việt. Chắc chắn danh mục này còn dài. Nhưng công việc này đòi hỏi công sức của nhiều người trong một thời gian dài. Rất mong được sự cộng tác và góp ý của bạn đọc gần xa.

Bộ sách các bạn đang cầm trên tay đã trải qua nhiều năm (bắt đầu năm 1977, hoàn thành năm 2005) lao động âm thầm ở trên đất Đức và trên đất Việt Nam. Chúng tôi vui mừng được giới thiệu với bạn đọc Việt Nam tập “Truyện cổ tích kể cho trẻ em và trong gia đình” hay còn gọi là “Truyện cổ Grimm”, và nhân đây chúng tôi chân thành cảm ơn tất cả các bạn Việt Nam và Đức đã động viên, khuyến khích, giúp đỡ chúng tôi trong sưu tầm, biên soạn và xuất bản.

Chúng tôi dịch thẳng từ nguyên bản tiếng Đức “Grimms Mãrchen” , 2 Bãnde, 1. Auflage, 1980, Aufbau – Verlag Berlin und Weimar, in theo bản in 1857 do Dieterich ở Gõttingen xuất bản) sang tiếng Việt. Ngoài ra còn tham khảo các bản tiếng Đức khác như “Kinder und Hausmãrchen, gesammelt durch die Brũder Grimm”, 3 Bãnde, 1.Auflage 1984, Insel Verlag, “Grimms Mãrchen” Gesamtausgabe, 1978, Gondreom Verlag, Austria v.v.

Bản dịch của chúng tôi in lần đầu ở báo “Khăn quàng đỏ” năm 1978. Nhà xuất bản Măng Non in thành sách năm 1981. Từ đó tới nay đã trên 20 năm, trước đây tên riêng phải phiên âm ra tiếng Việt cho phổ cập theo qui định xuất bản, nay hoàn cảnh cho phép để nguyên như nguyên gốc, chúng tôi sửa lại để cho nhất quán trong một bộ sách, từ lần in thứ 8 trở đi chúng tôi không phiên âm tên riêng, mà giữ như nguyên gốc để bạn đọc, các nhà nghiên cứu thuận tiện trong tra cứu khi cần thiết.

Chúng tôi đặc biệt cảm ơn giáo sư tiến sĩ Theodor Berchem của DAAD, giáo sư Chu Xuân Diên, ông Gerold Pleth, ông Erhard Zander, họa sĩ Nguyên Hạo, ông Lê Hoàng, bà Liên Hương, bà Xuân Phương.

Chúng tôi hy vọng bộ sách dịch sẽ là món quà tinh thần gởi tới các bạn quan tâm tới văn hoá Đức.

TP. Hồ Chí Minh 1978 –2004

Lương Văn Hồng
Cử nhân ngôn ngữ Đức
Thạc sĩ văn học Đức

1. Ả Gretel Tinh Ranh

Ngày xưa có một ả làm bếp tên là Gretel. Ả đi giầy đế đỏ. Mỗi khi đi ra ngoài với đôi giày ấy, ả quay người tự ngắm mình, rồi tủm tỉm cười nói một mình:

– Mình là cô gái xinh đẹp đấy chứ?

Mỗi khi đi đâu về, ả vui vẻ làm một ngụm rượu vang. Rượu vào thì lại thích nhắm, ả chọn món gì ngon nhất, nếm cho đến khi nó chán mới thôi. Ả nghĩ:

– Đầu bếp phải nếm xem nấu có ngon không?

Có lần ông chủ bảo ả:

– Gretel , hôm nay có khách tới. Làm thịt hai con gà và nấu cho thật ngon nhé!

Gretel đáp:

– Thưa ông chủ, việc ấy con sẽ làm.

Ả bắt gà làm thịt, giội nước sôi, làm lông, xiên gà, rồi chập tối treo lên bếp quay. Gà đã ngả màu vàng, có phần nào đã quá chín, nhưng mà khách chưa thấy đến. Lúc đó, ả thưa với chủ:

– Nếu khách không tới thì con phải bỏ gà xuống, không ăn ngay lúc này thì thật đáng tiếc, vì lúc vừa đương nóng đẫm mỡ ăn là ngon nhất.

Ông chủ nói:

– Thôi tao đành chạy đi đón khách vậy.

Chủ vừa quay lưng đi, Gretel hạ ngay xiên gà xuống, nghĩ bụng:

– Đứng mãi bên lửa chỉ tổ đổ mồ hôi và khát nước. Biết khi nào khách tới. Trong khi chờ đợi, mình hãy nhảy xuống hầm rượu làm một ngụm vậy.

Ả chạy xuống, đặt cái vò dưới thùng để hứng rượu và nói:

– Lạy Chúa ban phước lành cho ngươi,Gretel !

Rồi ả làm một hơi dài ngon lành. Ả lại nói:

– Rượu phải tợp một mạch, uống ngắt quãng mất ngon.

Rồi ả làm thêm một hơi dài cẩn thận!

Giờ ả lấy xiên gà móc lên bếp lửa, phết bơ lên gà và vui vẻ ngồi quay gà.

Ngửi mùi gà quay thơm nức, ả nghĩ bụng:

– Biết đâu lại thiếu cái gì thì sao, cứ phải nếm thôi.

Lấy tay quệt gà và đưa lên miệng liếm, ả nói:

– Chà, gà quay ngon ơi là ngon! Không ăn ngay thật là uổng và có tội!

Ả chạy ra cửa sổ ngó xem chủ và khách sắp tới chưa. Chẳng thấy một ai, ả lại chỗ đôi gà quay, nghĩ bụng:

– Một cánh bị cháy, ăn biến đi là hơn.

Ả liền chặt một cánh và ăn hết ngay. Thấy ngon miệng, ả nghĩ:

– Cánh kia cũng phải xẻo nốt, kẻo chủ sẽ nhận ra.

Ăn xong đôi cánh. Ả lại ra ngóng xem, nhưng không thấy ông chủ. Ả chợt nghĩ:

– Ai mà biết được, họ chẳng buồn về, đã ghé vào đâu rồi.

Ả tự nhủ:

– Chà, cô Gretel ơi, mọi việc đều tốt thôi! Đã làm một đôi cánh, uống thêm chút rượu, đánh chén nốt cho hết một con. Khi đã hết thì mới được yên thân. Tại sao lại bỏ phí của trời cho nhỉ!

Ả lại chạy xuống hầm, làm một hơi rượu cho khoan khoái, rồi vui vẻ ăn hết nhẵn con gà.

Một con gà trong bụng mà chủ vẫn chưa về. Ả nhìn con kia bảo:

– Chỗ nào có con thứ nhất thì con thứ hai cũng phải ở đó, phải sống có đôi chứ! Con đầu đã ổn thì con thứ hai cũng xuôi. Giờ mình có làm một hơi rượu nữa cũng chẳng hại gì.

Và rồi ả làm một hơi rượu khai vị và cho con gà thứ hai chạy theo con kia.

Đang lúc ngon miệng thì chủ về gọi:

– Nhanh tay lên Gretel, khách đến ngay giờ đấy!

Gretel đáp:

– Thưa ông chủ, vâng ạ. Con xin dọn lên ngay ạ.

Trong lúc đó, chủ ngó nhìn xem đã dọn bát đĩa lên bàn chưa. Ông lấy con dao to vẫn để chặt gà, đem mài ở hành lang.

Khách vừa đến, khẽ gõ cửa rất là lễ phép và lịch sự. Grétel chạy ra xem ai, thấy khách bèn đưa ngón tay lên mồm ra hiệu và nói:

– Khe khẽ chứ! Liệu hồn mà chạy cho nhanh. Nếu chủ tôi mà tóm được ông thì bất hạnh đấy. Chủ tôi mời ông đến ăn tối, nhưng chỉ là cớ để xẻo hai tai của ông thôi. Cứ nghe tiếng mài dao thì biết!

Khách nghe tiếng loẹt xoẹt mài dao, vội chạy xuống thang cho mau. Gretel nhanh trí vừa chạy vào tìm chủ vừa kêu:

– Gớm! Khách ông mời sao mà quý hóa thế!

– Trời! Tại sao lại thế Greten? Thế là thế nào?

Ả đáp:

– Vâng, đúng thế, con đang bưng gà lên thì ông ấy tới và ôm luôn hai con gà quay chạy mất.

Chủ tiếc đôi gà quay ngon và nói:

– Giỏi thật đấy! Ít nhất thì cũng để lại một con cho mình ăn mới phải.

Chủ chạy ra với gọi theo, khách làm như không nghe thấy. Sẵn dao đang cầm tay, chủ chạy đuổi theo kêu:

– Chỉ một thôi! Chỉ một thôi!

Ý nói là khách chỉ cần để lại một con thôi, đừng lấy cả hai. Khách lại nghĩ, chỉ cần đưa cho xẻo một tai và cắm đầu chạy như người bị cháy dưới chân để mang được đôi tai còn nguyên vẹn về nhà.

2. Ả Kéo Sợi Lười Biếng

Ở làng có hai vợ chồng nhà kia, vợ lười tới mức không bao giờ muốn nhúc nhích chân tay. Chồng bảo kéo sợi, ả chỉ kéo nửa vời, và kéo xong ả không guồng, cứ mặc sợi y nguyên trên ống. Thấy vậy chồng mắng, ả liền quai mồm ra cãi:

– Dào ôi, guồng sao bây giờ, guồng đâu ra mà guồng. Có giỏi cứ vào rừng kiếm một cái gì để tôi guồng!

Chồng bảo:

– Nếu chỉ có thế, tôi sẽ vào rừng tìm gỗ làm guồng cho mình ngay!

Giờ ả đâm lo. Ả lo chồng tìm được gỗ tốt sẽ đóng guồng. Lúc đó ả phải guồng sợi, công việc cứ thế nối tiếp nhau: kéo sợi, guồng sợi. Suy nghĩ hồi lâu ả nghĩ ra một kế, ả liền theo chồng vào rừng. Đợi chồng leo lên cây chọn gỗ, bắt đầu đốn gỗ, lúc đó ả lẩn vào trong bụi cây gần đấy để chồng không trông thấy mình, rồi ả cất giọng:

“Ai đốn gỗ đóng guồng sẽ chết,
Ai dùng guồng ấy cũng hết đời”.

Thấy có tiếng người, chồng ngưng tay rìu, lắng nghe xem câu hát kia có ý nghĩa gì. Rồi anh tự nhủ:

– Ối chà, chỉ sợ hão huyền, chẳng qua váng tai nghe vậy, nào có gì.

Anh lại cầm rìu, định đốn gỗ tiếp thì lại có tiếng hát vọng lên:

“Ai đốn gỗ đóng guồng sẽ chết,
Ai dùng guồng ấy cũng hết đời”.

Anh ngừng tay, cảm thấy sờ sợ, ngồi ngẫm nghĩ. Lát sau anh định thần được, với tay lấy rìu định đốn gỗ tiếp tục. Lần thứ ba lại có tiếng hát cất lên nghe rất rành rõ:

“Ai đốn gỗ đóng guồng sẽ chết,
Ai dùng guồng ấy cũng hết đời”.

Hóa tam ba bận thế là đủ lắm rồi, anh chàng hết cả hứng, tụt xuống cây và đi về nhà. Chị vợ lẻn chạy đường tắt về nhà trước. Lúc chồng về tới nhà, vợ giả tảng như không biết gì, cất giọng hỏi chồng:

– Thế nào, mình kiếm được gỗ tốt đóng guồng chứ?

Chồng đáp:

– Không kiếm được, chuyện đóng guồng có lẽ không thành.

Chồng kể cho vợ nghe chuyện xảy ra trong rừng, và từ đó không đả động đến chuyện ấy nữa.

Những chỉ ít ngày sau, thấy nhà cửa bề bộn chồng lại thấy bực. Anh bảo vợ:

– Mình này, thật xấu hổ quá, ai đời kéo xong rồi mà cứ để nguyên ở ống thế kia!

Vợ nói:

– Mình có biết không? Nhà ta không có guồng, hay mình đứng trên xà nhà, tôi đứng dưới ném ống lên cho mình bắt lại ném xuống, ta guồng sợi theo kiểu ấy vậy.

Chồng nói:

– Ờ thế cũng được.

Họ làm theo lối ấy, làm xong chồng bảo vợ:

– Sợi đã guồng xong, giờ phải luộc chứ!

Ả vợ lại đâm lo, nhưng ngoài mặt ả vẫn nói:

– Vâng, để mai tôi dậy sớm luộc.

Trong bụng ả đã tính được kế mới.

Hôm sau, sớm tinh mở ả đã dậy, nhóm lửa, bắc nồi. Đáng nhẽ thả chỉ vào luộc, ả lại cho vào nồi một nắm sợi gai rối, rồi cứ thế ninh. Chồng vẫn còn ngủ ở trong giường, ả vào đánh thức và dặn:

– Tôi có việc phải ra ngoài, mình dậy trông nồi sợi ở dưới bếp cho tôi nhé, dậy ngay đi, tới lúc gà gáy mà mình vẫn chưa xuống xem thì sợi sẽ hóa thành một đám sợi gai rồi đấy!

Vốn tính chăm chỉ, không muốn để lỡ cái gì, chồng vội nhỏm dậy đi nhanh xuống bếp. Nhưng khi anh đi xuống tới nơi, nhìn vào nồi, anh hoảng lên vì chỉ thấy có nắm sợi gai rối. Anh chàng đáng thương đành ngậm miệng, tưởng chính mình dậy muộn nên hỏng việc nên phải chịu lỗi. Từ đấy không bao giờ anh nhắc tới kéo sợi, guồng sợi nữa.

Có lẽ chính bạn cũng phải nói: ả kia thật là một người đàn bà đốn mạt.






© Tác giả giữ bản quyền .
. Cập nhật trên Newvietart.com ngày 19.10.2011 theo bản gởi của tác giả từ Sài Gòn.
Đăng tải lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com