Chương 9


    Thăng Long mùa hạ 1435.

    Nắng nóng như đổ lửa xuống kinh thành.

    Những ngày này, Nguyễn Trãi cùng Nguyễn Thị Lộ dành hết tâm trí viết Dư địa chí.

    Nguyễn bảo vợ:

    - Nàng tìm lại các tài liệu của ta ghi chép về non nước Đại Việt, mà ta đã viết bấy lâu nay, để ta soạn sách.

      Nguyễn Thị Lộ tính tình cẩn thận, chu đáo. Nàng cất

    những bài viết của Nguyễn theo thư mục, tháng ngày đâu ra đấy, nên khi cần tìm cũng nhanh.

    Nguyễn xoay xoả xung quanh đống tài liệu mệt nhoài, nhưng lòng Nguyễn thanh thản. Những điều Nguyễn ghi lại từ những tháng ngày rong ruổi đường trường, gươm đao, chém giết mà giặc Minh gây ra, giờ đây sáng ánh ngọc để Nguyễn viết Dư địa chí.

    Tư tưởng chủ đạo của Dư địa chí, Nguyễn đã tuyên ngôn hùng hồn trong Bình Ngô đại cáo:

    Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân

    Quân điếu phạt trước lo trừ bạo

    Xét như nước Đại Việt ta

    Thực là một nước văn hiến

    Cõi bờ núi sông đã riêng

    Phong tục Bắc Nam cũng khác

    Trải Triệu, Đinh, Lý, Trần nối đời dựng nước

    Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên đều chủ một phương

    Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau

    Mà hào kiệt không bao giờ thiếu…

    Nhịp điệu hào sảng đó cầm nhịp, lại có Nguyễn Thị Lộ bên cạnh mài mực, tiếp tư liệu, nâng bữa ăn, giấc ngủ, Nguyễn đã viết xong Dư địa chí trong vòng không đầy nửa tháng. Đúng hơn là trong mười ngày đêm quên ăn, quên ngủ. Cái trò soạn sách nó mê say như thế. Nguyễn cứ viết hết chương này sang chương khác, quên thời gian.

    Nguyễn Thị Lộ không dám nhắc Nguyễn đi ngủ. Nhắc nhiều có khi Nguyễn nổi cáu:

    - Cứ mặc ta. Đừng làm mất cảm hứng của ta. Nàng đi ngủ trước đi.

    Dòng suy nghĩ ào ạt chảy trôi, Nguyễn không thể dừng. Nhìn gương mặt phờ phạc vì thiếu ngủ của chồng, Nguyễn Thị Lộ xót lắm. Nàng nấu cháo bổ dưỡng cho chàng. Bố nàng là nhà Nho, thông thạo cả Y, Lý, Số. Nàng học được ở bố những bài chữa bệnh dân gian, biết cách nấu thức ăn bổ dưỡng chăm người yếu mệt.

    Nguyễn Thị Lộ biết việc viết văn là vô cùng tốn sức. Nó như cuốn người ta vào hình tượng và các tư tưởng lớn, không dứt ra được. Nó đòi hỏi người viết phải dồn hết tinh khí thần của mình vào câu chữ . Không đùa được. Nó là một hình thức lao động cực nhọc vô hình. Khác với khi Nguyễn làm thơ. Câu thơ tự nhiên bật ra từ đâu đó bí ẩn. Hình như có nàng tiên đứng cạnh, nàng nhả chữ thành nhạc điệu, tâm hồn Nguyễn rung lên, rạng rỡ, thánh thiện. Dù là câu thơ buồn thì mắt Nguyễn vẫn vui tươi, rạo rực, như được bay lên, thoát nỗi thống khổ đè nặng tâm hồn…

    Dư địa chí là cuốn địa lý đầu tiên của Đại Việt. Nhưng không phải là cuốn sách đơn thuần ghi chép núi đồi, sông, biển, cánh đồng, biển cả, khí hậu Đại Việt. Dư địa chí chở nặng hồn người Đại Việt với tư tưởng chủ đạo là tư tưởng độc lập tự chủ của một đất nước có đất đai bờ cõi. Người và Đất Đại Việt đã sống mãnh liệt và đã chết anh dũng để xây nên nền văn hiến nghìn xưa, khác biệt hoàn toàn với Trung Quốc.

    Đôi lúc cao hứng, Nguyễn ngừng viết, giảng giải cho Nguyễn Thị Lộ:

    - Ta khẳng định phong tục, khí chất, đời sống sinh hoạt, sinh ra văn hoá của người Đại Việt trên cái nền sông núi, đồng ruộng lúa nước. Nó không giống văn hoá Trung Quốc. Chính vì sự không giống Trung Quốc về văn hoá như vậy, người Đại Việt mới có độc lập tự chủ. Không thể trộn lẫn màu da, tiếng nói, sự ăn uống, vui chơi với người Trung Quốc. Không thể đồng hoá với Trung Quốc, mặc dù hai nước “núi liền núi sông liền sông”. Nhưng núi sông của Đại Việt khác Trung Quốc. Khí hậu nóng, lạnh khác, sẽ sản sinh ra những con người khác, cách nghĩ, cách làm ra sản vật ăn uống, cách buồn vui cũng khác. Và lịch sử của Đại Việt cũng khác. Chúng ta phải giữ cho bằng được những sự khác nhau đó, thì dân tộc, giống nòi Đại Việt mới tồn tại lâu bền. Đây là điều trọng yếu, ta gửi qua sách này, đời đời nhắc cháu con ta phải nhớ!

    Nguyễn Thị Lộ vừa bê bát chè hạt sen cho Nguyễn, vừa hưởng ứng nhiệt thành:

    - Vâng. Thiếp hiểu tư tưởng độc lập về văn hoá, phong tục của phu quân lớn lắm. Hậu thế sẽ ghi tạc điều này.

    Tinh thần độc lập tự chủ về văn hoá đó, được Nguyễn thể hiện xuyên suốt cả cuốn sách, qua từng chương, từng mục. Đây chính là một cuốn địa lý lịch sử trên tiến trình tiến hoá của dân tộc Đại Việt từ thời Kinh Dương Vương, qua Hùng Vương, Thục Vương, trải thời Bắc thuộc, đến Ngô Quyền đuổi quân Nam Hán, khôi phục nền tự chủ, cho đến thời Lê Lợi khởi nghĩa Lam Sơn…

    Tuy chép gọn, nhưng Nguyễn vẫn theo lối cương mục, đi từ nét khái quát đến những điểm chi tiết. Trước hết Nguyễn nói về hình thể, giới hạn, khu vực, chung của cả nước, sau mới đến địa hình. Nguyễn điểm qua những núi lớn, sông lớn. Núi Tản, sông Đà, Núi Yên Tử, Lục Đầu Giang… Nói về thổ sản, Nguyễn nêu những vật quí nổi nhất của từng địa phương. Ở Hải Dương có thuốc lào hút, Thanh Hoá có cau tươi, Thuận Hoá có hồ tiêu loại to, thơm nức. Ngoài ra, còn có nơi có đặc sản như cá anh vũ, cây chiên đàn, vượn trắng, tê giác…

    Nguyễn Trãi viết xong Dư địa chí, ông mệt lả lướt, phải nhờ Nguyễn Thị Lộ sửa chữ, hiệu đính lại trước khi dâng vua. Nàng rất vui được hoà trái tim mình vào từng chữ của chồng. Nàng say mê nắn nót từng nét chữ lại cho chồng, tinh tường và chính xác.

    Nguyễn Trãi cảm kích vợ, ngồi cạnh nàng, nhâm nhi chén rượu mơ thơm hương.

    Nguyễn bảo:

      - Nàng với ta là Bá Nha & Tử Kỳ. Ta kể cho nàng nghe

    chuyện Bá Nha & Tử Kỳ nhé.

      Nguyễn là nhà thơ nên ông kể chuyện như thơ. Nguyễn Thị Lộ ngây say chìm trong những âm thanh trầm ấm chất giọng thơ ca của chồng:

      - Đời Tống Trung Quốc. Quan thượng đại phu Bá Nha

      Qua sông Hàn Dương. Trên bờ núi Mã An. Trung Thu trăng sáng ngọc. Ông lệnh dừng thuyền. Ngắm nước trăng huyền ảo. Bá Nha đàn tuyệt hay. Ai nghe cũng ngẩn ngơ. Cây cỏ cùng say đắm. Nhưng ông buồn cô đơn. Đời ít ai hiểu hết.

      Tiếng đàn đẹp cao sang. Sâu xa, bay trầm lắng. Hồn ông trao tiếng đàn. Tình yêu Con Người. Khát vọng, ước mơ. Đợi chờ, thương nhớ. Cái Đẹp chân thiện mỹ. Nỗi lòng yêu nhân dân… Dưới trăng Thu đêm nay. Khúc nhạc ngân rộn rã

      Trăng nước hòa mênh mang.

      Bỗng đàn đứt một dây Bá Nha ngạc nhiên:

      - Lạ lùng thay, nơi vắng. Rừng bạt ngàn thâm u. Lẽ nào có người biết. Nghe tiếng đàn ta rung.Khiến dây đàn phải đứt. Hay có kẻ độc ác. Nghe đàn hay, ý đẹp. Mà manh tâm hại ta?.

      Ông bảo quân lính. Lên bờ tìm gian phi. Thấy một chàng tiều phu. Ngồi im trên phiến đá. Gánh củi để bên cạnh. Chàng đắm đuối mơ màng. Bá Nha gọi hỏi han.

      Chàng ngập ngừng:

      - Thưa đại nhân. Tôi đâu phải người ác. Tôi gánh củi qua đây. Tiếng đàn hay tuyệt vời. Say mê đứng lại nghe.

        Bá Nha mỉm cười giễu:

      - Người biết nghe đàn ta? Lẽ nào nơi hoang vu. Tiều phu biết nghe đàn.

      Chàng tự tin vui vẻ:

      - Tôi nhớ người xưa bảo. Hễ trong nhà có quân tử. Ngoài cổng có quân tử đến chơi. Nếu núi sông hoang vắng. Không người biết nghe đàn. Hỏi tại sao nơi đó. Có người biết đánh đàn.

      Bá Nha thử lòng chàng:

      - Vừa rồi ta gẩy bài gì? Mà ngươi dừng lại nghe.

      Bá Nha vội trả lời:

      - Nghe tiếng đàn buồn bã. Kể Khổng Tử thương tiếc người hiền Nhan Hồi. Còn trẻ tóc đã bạc. Xách giỏ cơm bầu nước. Sống cuộc đời sạch trong.

      Bá Nha kinh ngạc. Đúng vậy, ông vừa đàn. Bản nhạc lấy cảm hứng. Đời thanh bạch Nhan Hồi. Cảm kích, vội mời chàng. Xuống thuyền uống rượu. Dạo đàn cho chàng nghe.

      Bá Nha thay dây đàn. Chìm đắm trong cảm hứng. Lý tưởng nhân đạo cao siêu. Đầy tình thương yêu mến. Tiếng đàn vang réo rắt. Lao xao sóng vờn trăng…

      Bản nhạc dứt, Tử Kỳ reo:

      - Ôi! Tuyệt vời tao nhã. Tiếng đàn cao vòi vọi. Lướt trên đỉnh núi xanh.

      Bá Nha kính nể chàng. Ông đàn và mơ màng. Hồn bay ngọn núi cao…

      Ông say sưa, đàn bản khác. Cảm hứng giấc mơ hồng.

      Rạo rực tràn miên man.

      Tử Kỳ nao nức reo vang:

      - Tuyệt! Thật tuyệt vời! Tiếng đàn cuồn cuộn.

      Mênh mông như nước chảy.

      Bá Nha vui, lệ tràn. Cầm tay chàng trẻ tuổi:

      - Xin cho biết quí danh. Mình kết bạn tri âm.

      Chàng tươi vui hớn hở. Đôi mắt ướt long lanh.

      Xưng tên Chung Tử Kỳ. Bá Nha yêu người tài hoa. Mời chàng về thành đô.

      Tử Kỳ buồn rầu thưa:

      - Cảm tạ tấm lòng ngài. Tôi còn cha mẹ già. Phải ở lại phụng dưỡng.

      Bá Nha trọng tình chàng. Hẹn ngày này sang năm

      Trở về đón gia quyến. Tử Kỳ về kinh đô. Hai người giã biệt nhau. Bá Nha được tri kỷ. Tử Kỳ vui nghe đàn. Quyến luyến chẳng nỡ rời…

      Đúng hẹn, Thu năm sau. Bá Nha đi thuyền. Trên sông Hàn Dương. Dừng bên núi Mã An. Cảnh xưa buồn tĩnh mịch. Hoang vu vầng trăng xa. Bá Nha chờ không thấy,

      Tử Kỳ ngồi đợi trông. Ông lo lắng linh cảm. Bồn chồn nóng ruột gan. Mấy gò đống bờ sông. Như hồn ai lơ lửng. Ông vội vã lên bờ. Hỏi tìm nhà Tử Kỳ. Nhà vắng lạnh tanh…

      Chung Công chống gậy đón. Khách chủ ngồi chõng tre

      Cha Tử Kỳ nhòe lệ. Kể con mình ngày cuối. Luôn nhắc gọi Bá Nha. “Dặn chôn bờ Hàn Dương. Cạnh núi Mã An. Nơi gặp gỡ Bá Nha. Giữ lời hẹn năm ngoái”

      Bá Nha đau xót thương. Cùng Chung Công thăm mộ.

      Bá Nha khóc thảm thiết. Ông cầm đàn so dây. Tiếng đàn chan nước mắt. Nỉ non tình tri âm. Nhớ thương tuôn lã chã

      Cô đơn cuộn núi sông. Khúc sầu bi vừa dứt. Bá Nha đập đàn tảng đá. Đàn tan tành vỡ tan! Từ ấy, thế gian này. Không ai nghe được. Tiếng đàn Bá Nha.

      Nguyễn Trãi kể chuyện Bá Nha và Tử Kỳ như người nhập thần. Dứt câu chuyện, Nguyễn bừng tỉnh cơn mơ, nước mắt rơi lã chã, chan hoà vào chén rượu. Nguyễn choàng ôm vợ. Nước mắt nàng đẫm ướt vai ông.

      Sách Dư địa chí dâng lên nhà vua xem, vua rất khen. Ngài sai các quan ở Ngự sử đài là Nguyễn Thiên Túng làm Tập chu, Nguyễn Thiên Tích làm Cẩn án, Hành khiển kiêm thừa chỉ Lý Tử Tấn làm Thông luận.

      Khi xong mọi việc, nhà vua xem lại và phê duyệt:

      “Than ôi! Đức Thánh tổ ta hoạt động bốn phương, dấu chân đi khắp đất nước, quạt gió, uống mưa, nằm trống, gối giáo, thật gian nan thay! Thu góp non sông để giao phó cho ta, thật lớn lao thay! Nguyễn Trãi tiên sinh giúp cho ta, người đã từng thay Trời làm việc, và từng sánh với Trời. Nay tiên sinh làm ra sách này, ngụ ý muốn được như đời nhà Ngu, nhà Hạ. Mong tiên sinh chớ bỏ ta, hãy dẫn ta đến làm được như Nghiêu, Thuấn, quả thật lớn lao thay! Kỳ vĩ thay!”

      Nguyễn Trãi xiết bao vui mừng tâu: “Nhà vua nói như thế, thật là may mắn cho đất nước biết bao”.

      Nguyễn Trãi xin gặp riêng đức vua để tâu thêm về phong thuỷ của Thăng Long. Việc này rất hệ trọng vì Thăng Long nhiều hồ ao, sông lớn, đầm nước cần phải đựơc bảo vệ để giữ linh khí cho sự phồn thịnh quốc gia Đại Việt.

      Lê Thái Tôn được Bùi Cẩm Hổ dạy từ nhỏ nên khá thông thạo kiến thức nhiều mặt, ngài nói:

      - Trẫm đọc sách biết phong thủy là một bộ môn văn hóa cảnh quan đặc thù của Trung Quốc. Là quan niệm của người Trung Hoa với môi trường sống. Là học vấn về lựa chọn nơi con người ở. Các tư tưởng triết học truyền thống của Trung Quốc như: khí luận, âm dương ngũ hành, bát quái, thiên địa nhân hợp nhất là nguyên khối sinh ra phong thủy. Phong thủy chẳng những ảnh hưởng lớn đối với cư dân Thủ đô, thành phố, làng mạc, mà còn có quan hệ sâu sắc với luân lý Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo.

      Tiền đề triết học sản sinh ra phong thủy- “Đất là mẹ”. Khí luận trở thành cột trụ lý luận của sự hình thành phong thủy “Thiên địa hợp khí… vạn vật tính trí”. Đất phong thủy là nơi “Tập trung của tinh, tích tụ của khí”. Là những khu đất có hình thế “tàng phong”, “tụ khí”, cảnh quan núi cao phát mạch, nhấp nhô uốn lượn, lớp lớp điệp trùng, rừng núi đẹp, núi ôm nước bọc… Tạo ra “Linh khí của trời đất”, “Cảm ứng linh quang của nhật nguyệt”, “Nảy sinh nội khí, ngoại khí hình thành”, “Địa linh nhân kiệt”, “Thành được sơn thủy thì linh”…

      Vậy phong thuỷ Trung Quốc có lợi lộc gì cho ta mà khanh bàn?

      Nguyễn Trãi khiêm tốn tâu:

      - Việc chọn phong thủy làm kinh đô cực kỳ quan trọng. Hơn ba nghìn năm trước, các vua chúa Trung Hoa đã biết dựa vào thuật phong thủy để tìm kiếm những vùng đất tốt đẹp cho việc đóng đô lập quốc. Điều này giải thích lý do tại sao các triều đại Trung Hoa tồn tại lâu dài, dù phải trải nhiều thăng trầm. Và nền văn minh cổ của họ vẫn duy trì tiếp tục phát triển cho đến bây giờ, không bị lụi tàn như Ai Cập, Hy Lạp, La Mã, Mông Cổ, Ả Rập…

      Vậy người Đại Việt ta cũng nên biết nhìn sâu vào thế núi thế sông của Thăng Long để giữ vận mệnh của quốc gia Đại Việt.

      - Thế nào là phong thuỷ Thăng Long?

      - Tâu bệ hạ phong thủy Thăng Long được nhìn trực tiếp ngay từ bản đồ Thăng Long. Là kinh đô nằm gần như ở trung tâm đồng bằng Bắc bộ, trên dải đất hẹp giữa con sông Hồng phía Đông và sông Tô Lịch phía Tây. Đối với phong thủy, mảnh đất này chính là chân long. Là nơi kết tụ được nhiều nguyên khí của địa hình sông núi vây quanh. Thăng Long có rất nhiều hồ ao để “dưỡng khí” và “tụ tài”. Địa hình Thăng Long vững chãi, lưng dựa vào dãy núi Tản Viên- Ba Vì, trước mặt là dòng sông Nhĩ Hà chảy trôi, trong lòng thành phố, sông Tô Lịch chuyển động êm đềm. Thăng Long- xứng là “Thành phố sơn thủy” có đầy đủ những đặc điểm phong thủy điển hình.

      Nhờ vậy, Thăng Long luôn nắm được những vai trò quan trọng về chính trị và kinh tế đối với đất nước. Trong thời kỳ hưng thịnh còn sản sinh ra những lãnh tụ tài ba, những anh hùng kiệt xuất. Nếu nhìn lên bản đồ miền Bắc, ta thấy những con sông lớn như: sông Cầu, sông Gầm, sông Lô phía Bắc, sông Đà phía Tây chảy dài khắp nơi, cuối cùng đều nhập vào sông Nhĩ Hà chảy về Thăng Long. Xa xa, dọc biên giới Việt- Hoa, những dãy núi trùng trùng điệp điệp xuất phát từ miền Nam Trung Hoa đâm thẳng xuống dọc theo các phía Tây Bắc, Bắc và Đông Bắc, tất cả đều như muốn hướng về. Đây chính là thế “núi sông chầu phục” của Thăng Long. Một địa thế phong thủy tuyệt đẹp đến nỗi không một kinh đô nào của các nước trong vùng Đông Nam Á có thể so sánh được. Không những thế, ngoài xa nơi phía Đông và Đông Nam Á, Thăng Long còn được đại thủy của vịnh Bắc Việt và Thái Bình Dương chiếu tới, nên thần lực rất lớn, xứng đáng là Thủ đô muôn đời của một quốc gia văn hiến hùng mạnh.

      Nhìn lại lịch sử, ngay từ thời Bắc thuộc, một số tướng lãnh cai trị Trung Hoa có tầm hiểu biết sâu rộng về phong thủy như Cao Biền bắt đầu để ý tới địa thế tốt đẹp của Thăng Long cổ, đã xây thành Đại La. Nhưng ngôi thành này thường bị bỏ trống, ít được chú ý… cho đến khi Lý Thái Tổ lên ngôi, dời đô từ Hoa Lư về Đại La đổi tên Thăng Long. Từ đó, Thăng Long như có thế Rồng bay. Lý Công Uẩn hiểu sâu sắc phong thủy thành Đại La. Ông viết trong Chiếu dời đô “Ở vào nơi trung tâm Trời Đất, được cái thế Rồng cuộn hổ ngồi”. Ông nhìn thấy hướng núi sông hòa hợp bề thế “Địa thế bằng phẳng, đất cao mà thoáng, là nơi tụ hội của bốn phương”…

      Thăng Long với thế núi, thế sông quá lớn , quá hùng vĩ, dài hàng mấy trăm dặm tiến tới, tất cả đều hướng về, phủ phục, triều bái. Quả là thế đất quân vương, có thể điều khiển, sai khiến được chư hầu. Trước khi Thăng Long được chọn làm kinh đô, nước ta chỉ là một quốc gia nhỏ, như các nước nhược tiểu: Chiêm Thành, Chân Lạp, Ai Lao… Đã vậy còn bị Trung Hoa đô hộ suốt gần mười thế kỷ. Khi Lý Thái Tổ định đô tại Thăng Long, đất nước ta dần trở nên hùng mạnh. Đó chính là do địa thế đặc biệt của Thăng Long mà người dân gọi là “Đất Thánh” ở trung tâm đồng bằng Bắc bộ có những dãy núi hùng vĩ, trùng trùng điệp điệp từ xa tiến tới, phủ phục triều bái.

      Sông Nhĩ Hà khi chảy ngang qua Thăng Long, tuy có hơi cong một chút nhưng thế nước vẫn chảy nhanh và mạnh, làm tiêu tán đi rất nhiều nguyên khí của Thăng Long. Nếu như khúc sông này được sửa lại thành thế uốn lượn êm đềm, thì thần lực của những dãy núi hùng vĩ xung quanh mới được tích tụ đầy đủ tràn trề ở Thăng Long. Khi đó, chẳng những đất nước ta sẽ trở nên giàu có, thịnh vượng, mà còn áp đảo được thế lực khác nhăm nhe bên cạnh.

      Kinh đô Thăng Long nằm giữa những dãy núi quá hùng vĩ, thế núi chầu phục, tụ hội khí phách quật cường của dân tộc, trải nghìn năm đã chặn đứng bước đường quân giặc xâm lăng…

      Từ trong cổ tích, người Việt đã biết trồng rừng giữ đất. Đắp núi cao thêm. Đào sông sâu rộng. Mơ tạo ra núi cho đồng bằng. Tổ tiên ta giữ phong thủy bằng những cuộc chiến không bao giờ ngưng nghỉ giữa Sơn Tinh và Thủy Tinh. Họ trồng cây mây trên rừng, thả khuôn sắt trồng cây tre giữa dòng nước xoáy ngăn lũ, trồng cây đước, phi lao, sú vẹt giữ đất biển bồi, đắp đê chống lụt, lũy tre xanh chằng chịt bờ đê chống sụt lở, vỡ đê… Tổ tiên đã truyền lại những kinh nghiệm máu xương cho nòi giống để sống, để giữ gìn núi sông đất nước, qua những truyện cổ tích, mà mấy ai tiếp nhận.

      Lê Thái Tôn nghe Nguyễn Trãi nói say sưa về phong thuỷ như vậy, ngài rất thích. Các ông thầy dạy ngài xưa nay chỉ quen tầm câu, trích cú chẻ chữ làm năm, làm bảy.

      Chẳng mấy ai có thể đem chữ ra áp dụng cho đời thực, làm ngài chán cả đọc sách. Nay, Nguyễn Trãi có lối nhìn mới thế này, thật là thú vị.

      Ngài truyền bảo Nguyễn Trãi:

      - Từ nay, thỉnh thoảng khanh vào Cấm thành với ta cùng nhau trò chuyện, ta sẽ dành thời gian để nghe khanh nói.

      Nguyễn Traĩ rất vui vì đức vua trẻ ham học hỏi.

      Ông đi bộ quanh Hồ Tây về nhà. Ngắm cảnh Tây Hồ Trời nước mênh mang, sóng vỗ dạt dào, lòng Nguyễn lâng lâng cảm xúc yêu đời, yêu người. Cảm xúc về những giá trị tinh thần, những công việc giúp vua như Chu Công giúp Thành Vương. Nguyễn nảy ý thơ:

      Chu Công phụ Thành Vương Đồ

      Ý thân phụ chính tưởng Chu Công

      Xử biến thuỳ tương Y Doãn đồng

      Vương kỷ di ngôn thường tại niệm

      Kim Đằng cố sự cảm ngôn công

      An nguy tự nhiệm phù vương thất

      Tả hữu vô phi bảo thánh cung

      Tử Mạnh khởi năng chiêm phảng phất

      Ủng chiêu cận khả bả dư phong

      Đề vào bức hoạ Chu Công giúp Thành Vương

      Gần vua giúp chính giống Chu Công

      Y Doãn ngang tài biến hoá thông

      Tráp ngọc truyền lời thường để dạ

      Sách vàng ghi việc chẳng khoe công

      An nguy tự nhận tồn vương thất

      Tả hữu không ngoài giúp thánh cung

      Tử Mạnh chính là thành thực hẳn

      Giúp vua kim cổ vẫn tương đồng.

      ... CÒN TIẾP ...




© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng tải theo nguyên bản của tác giả gởi từ Hà Nội ngày 13.10.2011.
TÁC PHẨM CỦA MAI THỤC CHỈ PHỔ BIẾN DUY NHẤT TRÊN HỆ THỐNG VIỆT VĂN MỚI - NEWVIETART