ĐỨA CON MANG TÊN CHA



ĐẶNG HỒNG QUANG

Ngày đó tôi còn rất trẻ đối với tôi cái gì cũng mới mẻ, cũng hấp dẫn. Hành quân vào Nam rất gian khổ nhưng khi có người hỏi: “Đi bộ đội thấy thế nào?”. Thì tôi lại trả lời: “Rất thích!” “Tại sao vậy?” – “Được ăn no”. Tôi trả lời vậy vì tôi chưa bao giờ đánh nhau và chưa bao giờ thấy cái chết. Còn ở quê tôi là vùng đất nghèo đầy sỏi đá, quanh năm vất vả, mất mùa liên tục, có những lúc hai ba ngày chỉ ăn cháo loãng đói đến vàng cả mắt.

Vô đến chiến trường Tây Nguyên tôi được bổ sung vào đơn vị vận tải. Trung đội trưởng của tôi tên là Chín. Anh to lớn như một con gấu nhưng nước da vàng vọt do sốt rét và có lẽ đã biến chứng qua gan. Lúc nào anh ta cũng lầm lỳ nên tôi rất sợ. Nỗi sợ đó càng tăng lên vì có lần tôi bị anh kỷ luật. Nói đến kỷ luật thì nặng, nhưng chuyện đã xảy ra như thế này: Chiều hôm đó khi đi kiếm măng rừng tôi trót ăn trộm trong rẫy đồng bào một trái bí Anh ta biết bắt tôi đem trả. Nhưng người chủ rẫy lại cười và cho tôi trái bí ấy. Khi mang về anh ta lại bắt tôi trả cho bằng được. Lần thứ hai tôi mang trái bí đến, người chủ rẫy đã hiểu và nhận lại cho tôi.

Một buổi sáng anh Chín nói với tôi:

– Quang đi công tác với mình nhớ mang đầy đủ tăng võng và thêm một bộ quần áo nữa. Mới bị cú “va chạm” vừa qua nên tôi chả dám hỏi anh đi công tác gì, chỉ lầm lũi làm theo mệnh lệnh của anh.

Chúng tôi băng rừng lặng lẽ đi, thỉnh thoảng anh lấy la bàn ra xác định phương hướng. Trưa hôm sau, chúng tôi đến nơi. Lúc ấy tôi mới biết là chúng tôi đi bốc mộ, gom xương cốt đồng đội vào một chỗ để khi kết thúc chiến tranh sẽ tìm được dễ dàng.

Chúng tôi kiếm cành khô về đốt trên mộ để xua đi cái không khí lạnh lẽo nặng nề và hoang vắng ở đây, rồi bắt đầu đào đất, đất rất mềm, chỉ cần ấn nhẹ là lưỡi xẻng đã ngập. Khoảng mười phút chúng tôi đào tới nơi. Trước mắt chúng tôi là lớp cành lá khá dày phủ trên người chết, trong đó vẫn còn nhiều lá tươi. Anh nói với tôi:

– Đất ở đây kỳ thật, đã chôn hai năm rồi mà lá vẫn còn tươi, cậu mở ba lô lấy giúp mình cái mặt nạ và cả đôi găng tay cao su nữa. Còn cậu cũng lấy khăn bịt mũi bịt miệng đi kẻo không chịu được mùi bốc lên đâu!

Tôi lấy đồ cho anh và thầm phục anh là người chu đáo vì những mặt nạ chống hơi độc đã bị hầu hết chúng tôi vứt đi trên đường hành quân. Hàng mấy tháng trời mang nặng vượt các dốc cao của dẫy Trường Sơn thì chỉ đôi đũa thôi chúng tôi cũng thấy nặng nề.

Vẫn thái độ lầm lì, anh xắn tay áo bốc từng cành lá vứt lên. Bây giờ thi thể người lính hiện ra vẫn nguyên vẹn. Những sợi dây buộc lớp vải bó xác chưa hề đứt Anh vừa cầm tới thì tất cả mảnh vải ấy mủn ra tựa như giấy ngấm nước. Khuôn mặt người chết hiện rõ, hai hố mắt sâu hoắm, môi teo lại hàm răng nhe ra. Chiếc mũi cũng không thấy, chỉ còn hai cái lỗ đen. Trên sọ còn bám khá nhiều tóc... Không nhìn vào tôi, anh nói:

– Cậu đừng sợ, đây là thằng bạn thân nhất của mình... im lặng một lúc anh nói tiếp nhưng không phải nói với tôi.

– Ky ơi, mình mang cậu về nghĩa trang nhé, cậu nhớ mình không? Chín đây nè! Anh nhẹ nhàng thận trọng đưa hai tay nâng vai người chết lên. Nhưng kìa, cái đầu bỗng ngật hẳn ra sau lưng như muốn rơi. Anh nhìn tôi có ý cầu cứu, nhưng rồi lại lẩm bẩm: “Thôi để mình làm vì cậu không có găng tay “. Anh cố kéo thân hình người chết dựa vào vách đất, khi đỡ lấy đầu thì ôi thôi đầu đã rời hẳn ra từ khớp xương hàm, hàm trên còn vì vốn gắn ở trong sọ, nhưng hàm dưới thì tuột xuống cùng với xương cổ lủng lẳng trước ngực. Anh đặt cái sọ xuống, bước lên miệng hố cố kéo xác chết lên. Có lẽ bây giờ xác chết khá nhẹ vì nước đã mất đi nhiều... Khi xác chết sắp lôi được lên mặt đất thì cái bụng lại bị vỡ bục ra, thế là gan ruột xổ ra lòng thòng chuồi xuống huyệt. Anh vội vàng nhảy xuống bốc hết lên cẩn thận bỏ vào ổ bụng.

Trước đây chúng tôi dự trù là đi lấy xương nên chỉ mang một thùng đựng đạn B40 vì thế bây giờ thùng đạn quá ngắn so với cái xác nên buộc lòng anh Chín phải rút dao găm cắt nó ra từng đoạn. Anh làm công việc này khéo léo, anh đã tháo khớp gối và khớp háng ra. Lần đầu tiên tôi thấy cảnh tượng như thế. Người ta chỉ cắt khớp của con bò, con trâu còn ở đây người ta đang cố gắng cắt từng sợi gân trắng ơn ởn ở khớp của một con người, nếu không có chiến tranh sẽ không thể tưởng tượng được việc làm như vậy.

Khi trở về anh nhận đi sau cho tôi đi trước. Cái thứ nước màu nâu nâu từ thùng đạn B40 nhỏ xuống đọng vào lá cỏ tranh vốn có cạnh rất sắc. Có lá đã cứa vào chân anh một số vết, sau này tôi biết, tất cả những vết thương ấy đều mưng mủ. Chập tối chúng tôi nghỉ lại ở một cái chòi hoang và nấu cơm ăn, nhưng không thể nào nuốt trôi được vì khi đi công tác chúng tôi được ưu tiên một hộp thịt và bây giờ mở ra ăn ai cũng sợ vì liên tưởng tới cái thứ thịt có màu nhợt nhạt, chảy nước nâu nâu ở xác chết.

Đêm đó, mệt quá tôi ngủ lúc nào không biết nhưng khoảng 12 giờ thì tôi thức dậy. Xung quanh chiếc võng của tôi thật yên tĩnh. Tôi vươn tay sờ vào khẩu súng dựng ở đầu võng: nó vẫn còn! Nhìn sang võng của anh Chín, tôi thấy một đốm lửa lập lòe đỏ rực soi rõ khuôn mặt già nua trước tuổi của anh. Anh vẫn đang lặng lẽ hút thuốc. Anh hỏi tôi trước:

– Cậu dậy rồi à, ngủ ngon không?

– Em ngủ được, sao anh chưa ngủ?

Không trả lời, anh nhẹ nhàng rời khỏi võng của mình bước về võng của tôi. Và bây giờ chúng tôi nằm chung một võng. Anh nói nhỏ như nói với riêng mình:

– Quang năm nay mới mười bảy tuổi, như thế cậu thua mình đúng hai chục tuổi đấy. Cuộc chiến tranh này không còn biết kéo dài đến bao giờ nữa. Thú thực với cậu mình chưa bao giờ biết mùi đàn bà con gái là gì?.. Nhưng vấn đề đó chưa quan trọng, có một điều... Anh dừng lại hít một hơi dài làm điếu thuốc lại rực sáng, thong thả nhả khói, anh tâm sự tiếp: “suốt từ chập tối đến bây giờ không ngủ, mình luôn luôn nghĩ tới thằng Ky khi sống nó đã nói với mình rằng con người ta luôn luôn ham muốn tồn tại mặt dù tạo hóa không công nhận điều đó. Hắn chỉ là một sự chớp nhoáng ngắn ngủi trong cái dòng thời gian trôi vô tận. Hắn cô độc xuất hiện để rồi lại ra đi mãi mãi không bao giờ trở lại nữa. Chỉ có đứa con mới là của hắn. Các thế hệ đều lần lượt nối tiếp nhau tạo ra những đứa con, đó là một phần xương thịt của ta gửi lại cho cuộc đời vĩnh hằng vô tận này. Cậu thấy không, thằng Ky triết lý như vậy đó, nó cùng tuổi với mình và cũng như mình nó chưa hề lấy vợ... Giọng anh chùng xuống: Thế mà lúc trưa này chính tay mình cắt nó ra từng khúc, từng khúc... ôi thật là vô lý! Vô lý!

Anh im lặng không nói nữa, một lúc sau tôi mới dám hỏi cái điều mà tôi đã định hỏi từ lúc trưa:

– Anh Chín ơi, thế anh Ky đã chết vì gì? Chưa vội trả lời anh vỗ vỗ tay vào khẩu súng của tôi để đầu võng.

– Khẩu súng này chỉ dùng để giết, để phá, đáng lý ra nó không nên tồn tại, chúng mình chỉ sử dụng nó ở những thời điểm nhất định. À! Mình nhớ lúc còn sống, tính thằng Ky kỳ lắm. Nó sợ tiếng nổ! Có lần bọn mình kiếm được một thùng đạn AR15 về để bắn chơi thế mà nó lảng đi, nó không dám bắn.

Anh vung tay ném điều thuốc đã cháy hết đi rồi nói tiếp. Có lần hành quân vượt sông Sa Thầy, bọn mình thấy ngay sát mé của một cái rẫy hoang có một vật gì đang động đậy. Tưởng là con thú mọi người dừng lại. Một người lính nhanh nhen đưa sùng lên nhằm vào đó. Trong phút giây ngắn ngủi ấy mình bỗng nghe tiếng Ky hốt hoảng nói: “Hay khoan, đừng bắn”. Bọn mình nhìn kỹ lai, không phải là một con vật mà là một đống vải đang động đậy, lại gần khi ra đó là một đứa trẻ khoảng hai tuổi đang quằn quại trong chiếc áo lính, chiếc áo rằn ri của lính dù. Có lẽ nó gần chết vì mồm nó há ra như khóc nhưng chẳng nghe thấy tiếng gì! Có tiếng một người lính nói:

– Thằng nhỏ này là con của lính ngụy.

Ky cúi xuống bế thốc thằng bé lên mặt dù trên người nó kiến đang bu đầy. Anh phủi lấy phủi để và yêu cầu.

– Hoàng ơi! Chích cho nó một mũi thuốc! Được y tá chích thuốc, thằng bé tỉnh lại. Sau đó Ky pha sữa cho nó uống. Nó uống được khá nhiều. Mặt Ky rạng rỡ vì vui mừng, chỉ tiếc rằng thằng bé có lẽ chậm biết nói vì chỉ thấy nó nói được tiếng “ba”. Thế là từ ấy trong hậu cứ của bọn mình có thằng “Ky con”. Ai cũng nói đùa thế và Ky cũng vui mừng vì có đứa con lẫm chẫm học đi và suốt ngày gọi: “Ba Ky, ba Ky!”.

Chúng mình chuyển cứ liên tục thế mà Ky vẫn cố gắng mang theo nó. Có cán bộ đề nghị gửi nó cho dân địa phương thì Ky tỏ ra rất buồn. Ky phải lên tận tiểu đoàn hứa là sẽ không để ảnh hưởng tới nhiệm vụ, cả bọn mình cũng ủng hộ dữ lắm, nên quyết định đó bị hủy bỏ.

Ky nuôi nó được khoảng ba tháng thì vào một buổi sáng... mình còn nhớ rõ đúng vào ngày lễ Noen năm 1972. Máy bay B52 đã rải thảm vào nơi đây. Lúc bấy giờ do cảnh giác mà bọn mình đã nhảy được vào hết hầm. Ngay loạt bom đầu mình biết là chúng đã đánh vào cứ. Vậy mà Ky bỗng nhảy lên khỏi hầm. Mọi người hiểu ngay là nó đi tìm thằng nhỏ. Rồi sau đó những loạt bom phá, bom đào nổ kinh hoàng hoảng loạn làm ù tai, tức ngực. Có quả nổ cách hầm mình khoảng 5 mét. Đợt bom kết thúc bọn mình nhảy lên tìm Ky. Ky đang nằm xấp đè lên thằng bé, lưng áo Ky đầm đìa máu, Ky đã chết thằng bé cũng bi ngất xỉu dưới thân hình Ky. Nhưng nó không hề bị gì, chỉ khoảng vài phút sau là nó tỉnh. Nó xông lại ôm lấy người Ky. Trên áo nó vẫn nhuộm đẫm máu của Ky. Nó khóc rất to gọi: “Ba Ky ơi, ba Ky ơi!”. Bàn tay nhỏ bé của nó giật giật tóc Ky trông đến tội nghiệp.

Đứng nhìn cảnh đó mình không cầm được nước mắt. Hai ngày sau bọn mình lại được lệnh rời cứ, lần này đi rất xa. hành quân khoảng mười ngày, nên bọn mình quyết định gởi thằng nhỏ cho đồng bào địa phương, đang định như vậy thì gặp một đoàn cán bộ dân chính, thế là mừng quá bọn mình quyết định gửi cho họ vì nghĩ họ là người Kinh nên gửi nó cho họ tốt hơn đồng bào Thượng. Vậy mà cũng gặp sự phiền hà, mấy ông đó còn đòi cả giấy khai sinh thằng nhỏ. Bực mình, mình khai đại tên nó là Nguyễn Văn Ky như thế nó đã mang tên ba nuôi của nó.

– Thế rồi sao nữa? Tôi háo hức hỏi.

– Chả sao cả ! Anh bình thản nói.

– Em có thắc mắc là tại sao thằng nhỏ lại nằm ở đó?

– Ôi chiến tranh mà lại! Chắc mẹ nó khi đi di tản không mang được nó theo nên đã bỏ nó ở đây. Biết đâu mẹ nó cũng đã chết rồi mà người khác đã làm điều đó! Chỗ đó rất gần đường lớn mà!

Câu chuyện anh kể về người chết ấy đã kết thúc. Đến tận hôm nay, khi viết những dòng chữ này tôi cũng không biết rằng anh Chín – người trung đội trưởng thời ấy bây giờ ở đâu vì sau đó tôi đã thuyên chuyển sang đơn vị khác. Nghe nói anh đã chết trong trận đánh đồn Tầm ở mãi Cao nguyên Gia Lai. Lại có người bảo rằng anh hay còn sống.

Nếu chuyện này được đăng báo thì anh Chín ơi nếu có đọc nó. anh hãy đến tìm em và cả cháu nhỏ Ky nữa, hãy đến tìm chú.

Ky ơi có lẽ bây giờ cháu đã 24 tuổi rồi đó.


© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả gởi từ SàiGòn ngày 07.10.2011.
. Trích đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com.