TÔI ĐÃ YÊU







Thế kỷ hai mươi trên đất nước tôi. Thế kỷ hai mươi của thế hệ chúng tôi. Máu chảy, xương rơi tràn mặt đất. Kẻ mất/ người còn- chung đau hai chữ chiến tranh. Chiến tranh đè lên thân phận mọi con người, mọi thế hệ. Tôi may mắn còn sống sót- càng thấm đẫm nỗi đau này. Trái tim tôi thắt tím mỗi khi gặp gương mặt con người xứ sở tôi co rúm vì đày đọa chiến tranh. Nước mắt tôi chảy tràn, khi mỗi bước đi trên nước non này gặp những nấm mồ không tên và có tên của những người cha, người chồng, người yêu, người bạn… cả em trai Mai Hòa Bình thân thương của tôi… nằm lại chiến trường.

          Tôi đã yêu những linh hồn chết!

         Vượt dốc núi chọc mây trời tôi đến nghĩa trang Điện Biên Phủ thảm thiết khóc những người cha.

        Lội sông sâu, bể lớn, tôi về nghĩa trang Trường Sơn, khóc những nấm mồ trắng lạnh, những ngọn đồi trùng điệp, thâm u.

          Vào đồng bằng Nam Bộ tìm những cái tên trôi bồng bềnh như sóng màu đỏ máu trên những bức tường trong ngôi đền thờ Bến Dược, tôi âm thầm khóc…

        Ở đâu tôi cũng cảm nhận hình bóng em tôi cùng đồng đội. Tôi đã yêu và xót đau gọi những người trai trẻ- những người tình nồng ấm, người em trai yêu thương, đã bỏ chúng tôi mà ra đi mãi mãi không về.

      Tiếng tôi gọi tan vào câm lặng hư vô… Tôi nghe từ trong không trung tiếng thảng thốt của những người mẹ già tóc bạc lưng còng gọi các anh:

               Dược ơi!  

              Dung ơi!

               Mão ơi!

               Cơ ơi!

               Đạm ơi!

               Bình ơi!

         Các anh không về. Lòng mẹ lạnh hoang…

        Và tôi nghe tiếng những người vợ lặng thầm trong bóng tối khóc chồng, đêm đêm thẫn thờ nghe tiếng rế than, tiếng côn trùng nức nở…

         Tôi đã yêu và cảm nhận được sự sống của linh hồn các anh hiện diện cùng chúng tôi nơi trần thế. Các anh không về nhưng linh hồn các anh luôn quấn bên chúng tôi mỗi hơi thở ấm lạnh, ngắn dài. Mỗi niềm vui, nỗi buồn của tôi đều gắn với linh hồn em trai và những linh hồn Trường Sơn… Má Hai Hương dạy tôi nghĩ đến họ trong từng bữa ăn, giấc ngủ, trong mỗi bước đi, mỗi việc làm.

         Má bảo:

- Những người chết trẻ như các anh, chết trong sạch như các anh, linh hồn thánh thiện, sáng đẹp như những vì sao đêm lấp lánh. Nếu ai thương yêu họ hằng ngày, họ sẽ che chở, truyền yêu thương, bình an tới người yêu họ.

         Tôi đã yêu và linh cảm sâu sa rằng mình không thể làm những việc mà hồn các anh không muốn.

       Tôi đã yêu và tôi phải làm những gì mà linh hồn các anh mách bảo. Linh giác dẫn dắt tôi… và cản ngăn tôi… Đành lòng vậy! Cầm lòng vậy! Giờ đây, sau nhiều trải nghiệm tâm linh, tôi không dám hành động theo ý chí trần tục của mình. Điều đó tốt hay xấu đối với tôi? Tôi không biết. Nhưng tôi không thể. Tâm linh đã tham dự vào đời sống của tôi, đến từng hành động, từng cảm xúc, từng ý nghĩ. Biết làm sao!

        Sự thôi thúc tâm linh buộc tôi phải đi tìm tâm sự của các anh, những người lính Trường Sơn mà bây giờ linh hồn các anh đã thương yêu tôi, như yêu người yêu vậy.

        Các anh đã sống ra sao? Các anh đã nghĩ gì? Các anh đã buồn vui thế nào giữa chiến trường khốc liệt, cái chết đợi từng giây?

         Và tôi đã gặp Tâm sự người lính trong thơ Đỗ Hoàng (NXB Văn học- 1996) Anh là một người lính Trường Sơn sống sót trở về xuôi ngược trên phố phường Hà Nội.

       Đỗ Hoàng cùng chúng tôi ngắm bức tranh mini Hà Nội lá vàng bay của họa sĩ, nghệ sĩ ưu tú Ngọc Linh (Vi Văn Bích) in bìa bốn sách Tinh hoa Hà Nội- lá xanh rụng xuống, lá vàng tơi tả, mà thốt lên: “ Nghệ thuật Hà Thành nghìn năm sau cũng không thể xóa nổi nỗi đau chiến tranh hủy diệt thế kỷ XX. Nỗi đau ấy, ngàn năm còn ngậm máu thương đau trong từng sắc màu, từng con chữ, từng đường cong nét lượn, âm thanh, nhịp điệu, lời ca… Đó là nghệ thuật đích thực!”

          Thơ Đỗ Hoàng cũng thực như tuyên ngôn của anh về nghệ thuật: “Giết nhau là chuyện của người/ Tình thương là của thơ tôi buổi đầu”. Thơ anh viết từ trên những chốt cao điểm đặc mùi khói súng đạn bom, máu đổ, xương rơi, những năm 1972- 1973 tại vùng Quảng Trị đỏ lửa.

       Tôi gặp trong thơ Đỗ Hoàng tiếng lòng của những người lính- những chàng trai- người tình đẹp đẽ của thế hệ chúng tôi. Đó là Thân phận lính, từng là những trang thanh niên khôi ngô, tuấn tú, đang tuổi yêu đời, yêu người say đắm mà bỗng nhiên “lặng câm như khoảng rừng, lớp lớp trong cỏ rác/ Dưới đất đen sâu vùi/ Biến đi cùng năm tháng/ Đời trần ai biết đâu.”.

       Thơ Đỗ Hoàng bật lên bản nhạc tâm hồn sâu kín của họ, hay cũng là của anh trong đoàn quân ấy, mà tôi phải nâng niu từng chữ, từng dòng, từng nhịp điệu, âm thanh. Tôi như đang nghe dòng suối âm nhạc tâm tình của vạn hồn các anh lao xao từ hư vô vọng lại:

       “ Khi trái tim con người đã biết yêu thương/ đã biết phân biệt đâu là lẽ phải/ thì lúc đó người ta phải chịu những gì tưởng như không chịu nổi/ của những thế kỷ chiến tranh bạo tàn trên mặt đất sinh ra./

         Thiên nhiên đổi màu mưa ngàn nắng nổi/ Da dẻ thay màu, người thay suy nghĩ/ Đời lính tập làm quen với đói khổ/ làm quen với cái chết thường ngày./

         Thời gian trôi đi chẳng ai hay/ không có khái niệm thì giờ nơi chiến trường hoang dã/ khoảng thời gian vụt trôi qua đó/ nhẩm tính ra cũng mười mấy vạn năm rồi./

          Khi trái tim con người đã biết yêu thương/ là khi trái tim con người từng biết khổ đau/ vì những niềm vui/ vì những ký ức ban đầu trỗi dậy/ vì những gì quí mến nhất trên đời tàn lụi/ trong cuộc trường chinh khó gặp một lần./

          Bao cái chết của một thời xa xôi/ nay lại trở về bên giường bệnh/ cái chết bình thường cũng làm nên con tính/ để loài người phải suy nghĩ hôm nay./

           Sống sót qua cuộc chiến tranh này còn lại là  ai?/ bụi chiến trường trên ngả  đường chưa lắng đọng/ người lính ngả mũ ra, trời cao đất rộng/ tưởng niệm hồn người quá cố năm xưa/

            chiến tranh khốc tàn, kẻ chết, người lưa/ qua khói lửa bây giờ dừng lại/ nơi bờ tre có bàn tay run rẩy/ của mẹ già khóc đón con về/

             chiến tranh đã đi qua/ chiến tranh là thế kia/ cái chết cũng bình thường như mạng kiến/ nhiều chứng bệnh làm con người trống rỗng/ phần yêu thương nay đã mất đi rồi/

              phút giây trở về đổi lấy đời trai/ họ mệt mỏi ê chề như năm tháng/ mẹ hiền đón anh một người trọng bệnh/ qua vạn năm chưa ai chữa cho lành/

              chiến tranh/ chiến tranh là thế kia/ lứa tuổi yêu đương không còn mơ ước/ khi biết kẻ làm ra điều ác/ là khi anh đã ma dại thân tàn

             nghìn năm qua nhân loại đã căm hờn/ bao cảnh chiến tranh vô nghĩa lý/ nghìn năm nay loài người xâu xé/ nghìn năm sau nhân loại vẫn lên án cuộc chiến tranh này/

             chiến tranh chẳng đem lại cho con người lợi  ích nào đâu/ chỉ cái chết  đè lên đầu, lên cổ/ bao đói rét dồn về người cùng khổ/ bao bất công phải ôm hận nghìn năm/

             chỉ một dúm người làm giàu trong chiến tranh/ chỉ  một dúm người nuôi sống đời mình bằng máu  đồng loại chảy/ chỉ một dúm người ấy/ xui cả tỷ người chém giết lẫn nhau/

             cuộc đời vẫn chưa hết  đâu/ vạn người hồn bay lưởng vưởng/ rồi sau này còn ai nhắc đến/ nỗi đau sâu kín của con người/ mà thế kỷ chiến tranh này đã tàn phai”.

          Thơ Đỗ Hoàng len lỏi, cháy bùng trong từng li ti huyết mạch, nổi chìm trong sâu thẳm niềm đau, hóa thành tiếng thổn thức của hàng triệu con tim… và như tiếng gió, tiếng mưa, tiếng chim đêm, tiếng âm hồn, tiếng trống, chiêng, tiếng đàn bầu nức nở… làm sống lại, âm vang khắc chạm vào đất nước, núi rừng, biển trời giai điệu vĩnh hằng tâm sự trầm hùng của người lính Trường Sơn, của người Hà Nội- Việt Nam và cả nhân loại, tạc vào thế kỷ XX, mà anh gọi là “thế kỷ hai mươi ghê gớm một thời/ thế kỷ của những cái đầu điên loạn/ thế kỷ của những cuộc chiến tranh hủy diệt đồng loài”.

         Thơ Đỗ Hoàng vĩnh viễn in vào lòng đất mẹ Việt Nam cái chết của người lính Trường Sơn:

                    Anh đi trên trái đất cô  đơn

                    Gió bấc lạnh thổi tung làn ngực nở

                    Xác em nằm

                                       một hành tinh vứt bỏ

                    Vó ngựa trường chinh lãnh đạm dẫm qua

          Thế kỷ XX, người Việt Nam còn sống sót, chưa có một bài văn tế nào tạ vong hồn muôn kiếp.

         Nhưng tiếng khóc dài thầm thĩ trong đêm, tiếng kinh cầu rầm rì mê man ngõ vắng, tiếng Nguyễn Du da diết u hoài, vọng xa xăm, tế vong hồn: “Thương thay thập loại chúng sinh/ Hồn đơn vách chiếc lênh đênh quê người/ Hương khói đã không nơi nương tựa/ Hồn mồ côi lần lữa đêm đen” làm cho chúng tôi không một giây phút nào quên các anh.

         Làm sao chúng tôi có thể quên những người lính Trường Sơn sống sót trở về, khi mà số phận của họ gắn chặt với chúng tôi trong cuộc đời trần tục, nhọc nhằn, bóng tối và ánh sáng.

         Làm sao chúng tôi có thể quên những linh hồn Trường Sơn, khi mà họ vẫn yêu thương mà trở về vô hình, vỗ về, an ủi, sẻ chia, dẫn dắt.

       Những người Hà Nội thế kỷ hai mươi còn sót lại đến bây giờ, luôn phải sống giữa hai bờ trần thế và hư vô. Một nửa phần đời theo trần thế, một nửa kia chúng tôi dành sống với cõi linh hồn của những người con trai tươi trẻ của ngày xưa.

      Và thôi đành lỗi hẹn với trần gian! Những người vợ liệt sĩ mà tôi gặp trong các ngõ nhỏ rêu phong Hà Nội, đã không thể đi bước nữa. Các chị bảo:

- Hồn các anh vẫn trở về, giữ tình yêu ở lại.

Chị Hoài tâm sự:

- Đã bao lần tôi bước chân ra đường theo bóng người đàn ông mới. Nhưng như có vật cản vô hình, các chuyện rắc rối cứ liên tiếp xảy ra. Có chuyện dày vò tâm trạng mình kinh khủng. Lại có chuyện mình ốm hoặc con ốm làm mình lo lắng đến phát điên, nhưng khấn hương hồn chồng rồi lại ổn. Tôi suy ngẫm và trải nghiệm, biết là tâm linh phản đối mình. Thế là từ đó tôi không dám. Thật sự không dám chứ đây không phải là chuyện đạo đức hay nghĩa vụ gì theo quan niệm trần tục. Mà chính là linh hồn người chồng liệt sĩ vẫn yêu mình thao thiết trong từng bước chân, ấp ủ mình trong từng cảm xúc cô quạnh…

        Sự sống giằng co dai dẳng này đã nâng những người vợ, người yêu, người chị liệt sĩ sống trọn một tình yêu thương thông hai cõi Âm- Dương, trong phong độ linh thiêng hào hoa của người Hà Nội. Những linh hồn người lính thế kỷ hai mươi đã kết thành một vòng tròn tâm linh màu vàng sáng chảy quanh những ai còn yêu thương họ, trao gửi thương yêu!

       Thôi đành lỡ hẹn với trần gian. Những người vợ, người yêu của liệt sĩ thế kỷ XX đi theo tiếng gọi tình yêu tâm linh thánh thiện. Biết làm sao! Đành lòng vậy. Cầm lòng vậy.  

         Tôi đã yêu và bỗng nhiên trong cõi tâm linh xa mờ rót xuống lòng tôi tiếng xẻ chia, đồng cảm của nữ nhà thơ Nga Olga Bergholzt (1910- 1975):

             Tôi đã yêu tha thiết lắm xin nguyền

             Trái tim hỡi! Đừng quên, đừng từ giã…

             Tôi nguyện trả gấp ba lần phải trả

             Cho phần ai mãi mãi chẳng quay về

                                             Ước vọng (Bằng Việt dịch)

 

_________________________________
 
Hồ  Gươm Thu 2011
© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng tải theo nguyên bản của tác giả từ Hà Nội ngày 06.10.2011.
Trích đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com