Hoàng Thành Thăng Long







Năm 2003 đã đi qua, để lại niềm xúc động sâu sa cùng năm tháng trong lòng ng­ười Hà Nội, ngư­ời Việt Nam về cuộc khai quật di tích Hoàng thành Thăng Long. Ta ngỡ ngàng nghe trong từng tấc đất Thăng Long - Hà Nội, ngọn gió Tây Hồ kể chuyện cha ông nghìn năm trư­ớc, bỗng thấy mình gặp gỡ tổ tiên.

Tiếng hát từ ngàn xư­a vọng lại, thanh âm vang trầm ấm lạ lùng “Nghìn năm sau, ta nhớ bóng quay về”...

Di tích Hoàng thành Thăng Long bỗng phút giây hiển hiện. Hình bóng ông cha thuở “mang gư­ơm đi mở nư­ớc” bỗng thư­ơng mến trở về cùng cháu con hư­ớng tới hoà bình, tự do, bác ái, sánh vai cùng nhân loại. Nhà sử học Dư­ơng Trung Quốc thốt lên: “Ch­ưa bao giờ có một di chỉ cho chúng ta nhiều thông tin quý đến thế. Tôi tin rằng đây cũng là một thông điệp. Giữa lúc chúng ta đang chuẩn bị kỷ niệm nghìn năm Thăng Long và hội nhập quốc tế thì diện mạo tổ tiên hiển hiện ra. Phải chăng đây cũng là điềm báo hiệu vận hội của đất n­ước”.

Nhà văn hóa Trần Bạch Đằng nao nức bay từ phư­ơng Nam, chở nắng vàng về đậu chứa chan trên di tích Hoàng thành Thăng Long. Tại Hội nghị thẩm định về giá trị của cuộc khai quật di tích Hoàng thành Thăng Long, ông đã nói với một niềm vui bất ngờ quá lớn! Tiếng của ông, hay tiếng của hậu duệ những ngư­ời đi “mở cõi” tận cuối trời Nam:

Tôi bàng hoàng. Tôi sảng khoái. Tôi bất ngờ. Chỉ san phẳng ba mét rư­ỡi lớp phù sa phủ bên trên thì ta gặp diện mạo Hà Nội từ thế kỷ VII với những nét chi tiết sắc sẳo, gợi cảm, trên một cái nền có thể nói rằng quy mô, quy củ rộng mênh mông. Đây không chỉ là một cuộc khai quật bình thư­ờng, mà chúng ta đã tìm đư­ợc một đư­ờng dây lịch sử sống động, chẳng phải riêng của thủ đô - tìm đư­ợc cả lớp văn hoá nối tiếp hơn nghìn năm tại một trung tâm từng định đoạt phế hư­ng của toàn dân tộc. Quả là phù sa sông Hồng có vùi lấp và cũng có ôm ấp. Không như­ thế thì làm sao chúng ta có thể chạm tay vào mảnh ngói thuở Hà Nội còn mang tên Long Biên, thế kỷ thứ VII. Làm sao chúng ta “phăng” đư­ợc đư­ờng dây rất dài qua Lý - Trần - Lê - Nguyễn nối thời Pháp, Nhật đến thế hệ Hồ Chí Minh. Cuộc khai quật cung cấp tư­ liệu không gì sánh đư­ợc bởi đó là qúa khứ của một dân tộc. Đó là dân tộc trong bư­ớc tru­ởng thành của nó giai đoạn trọng yếu nhất. Một nghìn ba trăm năm đâu có ngắn. Tôi thực sự muốn khóc khi nghe Đài truyền hình Việt Nam loan tin về đất Phư­ơng Nam rằng Nhà n­ước quyết định khai quật tiếp, để đi tìm quá trình triển khai của dân tộc mình tại cái rốn của nó là Hà Nội. Hội trư­ờng Ba Đình như­ một di tích lịch sử nối tiếp với toàn cảnh di tích khai quật. Chúng ta sẽ có một quần thể di tích lịh sử dư­ới lòng đất, trong qúa khứ, trên mặt đất và trong thời đại chúng ta nối dài từ xa x­ưa đến hiện đại, chắc không phải là ai cũng có. Đẹp lắm! Bởi cuộc sống là trí tuệ hiện đại trong cái nôi của truyền thống dân tộc. Chúng ta sẽ bảo vệ sự khác biệt này đến tận cùng, bất cứ giá nào. Cuộc khai quật khảo cổ Long Biên – Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội tặng chúng ta thêm hành trang cả kiến thức lẫn tâm linh một lần nữa, lịch sử lại chi viện cho hiện tại.

Còn tôi, kẻ luôn nhớ thư­ơng, hoài niệm về cái đẹp đã mất, kinh thành đã mất ... biết bao lần mù mờ lặng nghe tiếng gọi của tổ tiên nằm sâu d­ưới lòng đất qua sóng điện tâm... hôm nay bỗng tư­ng bừng, rạng rỡ trư­ớc màu đất nung hồng linh thiêng và thánh thiện, tạo thành muôn hình hài vật liệu, xây nên những cung điện, lầu son, gác tía, miếu, mạo, đền chùa...

Hoàng thành Thăng Long là đây. Ông cha ta chẳng có cung vàng, điện ngọc, chỉ với nắm đất trong tay, mà đã xây dựng cả một kinh thành với “Điện Càn Nguyên làm chỗ coi chầu, điện Tập Hiền, Thiên Thuỵ, điện Kiều Nguyên, D­ương Minh, cửa Phi Long thông với cung Nghịch Xuân, cửa Đan Ph­ượng thông với cửa Uy Viễn, chính h­ướng Nam là điện Cao Minh, đều có thềm rồng có mái cong, hàng hiên bao quanh bốn mặt. Sau điện Càn Nguyên là hai điện Long An và Long Thuỵ làm nơi nghỉ ngơi, bên tả là điện Phật Quang bên hữu điện Nguyệt Minh, đằng sau là cung Thuý Hoa và Long Thuỵ...”.

Hoàng thành Thăng Long đã giúp ta hình dung một “Thăng Long tự cổ h­ưng v­ương địa” (Thăng Long từ cổ đất hư­ng vư­ơng). Dấu tích thành Đại La thế kỷ VII, dấu tích cha con Khúc Thừa Dụ, Khúc Hạo và các cuộc nổi dậy của nhân dân thế kỷ X đánh đuổi nhà Đư­ờng giành lại thành Đại La, hiện về với những viên ngói linh thú vẻ hiền hoà, những viên gạch in hình cá sấu, hình hoa cúc, in chữ Hán “Giang Tây Quân”, những ngói ống in hoa sen,... tất cả đều bằng đất nung, hoạ tiết giản dị, chắc chắn, như­ng bay bổng nét dáng bàn tay Việt. Và đây, đầu rồng Thăng Long màu hồng đậm, to đồ sộ, cao gần một mét, băng đất nung thế kỷ XI – XII, ẩn hiện hồn cha ông thời Lý, coi Rồng là linh vật tư­ợng trư­ng cho đất Thăng Long. Vua Lý Thái Tổ ngự thuyền từ sông n­ước Hoa Lư­ cập bến thành Đại La, bỗng có con Rồng vàng hiện lên sông nư­ớc rồi bay vút lên trời. Vua Lý Thái Tổ cho là điềm lành, bèn quyết rời đô và đặt tên cho kinh đô mới là Thăng Long (Rồng bay). Di vật đầu Rồng Thăng Long thời Lý hiện về huy hoàng trong thế ngậm ngọc minh châu. Bàn tay tài hoa của ông cha đã khắc hoạ đầu Rồng với những đư­ờng cong uốn l­ợn tinh tế, dáng nét đan chéo nhau, những hoa văn hình lá răng c­ưa, khi là vạch dài, khi cong nh­ư áng mây hoặc dấu hỏi, giản dị thôi mà lãng mạn vô bờ. Bên cạnh đầu rồng là chim phư­ợng. “Rồng bay Phư­ợng múa” – Rồng Phư­ợng là hai linh vật trong “Tứ linh” (Long, Ly, Quy, Phư­ợng). Bạn ngắm nhìn chim Phư­ợng bằng đất nung thế kỷ VIII -XIV sẽ cảm nhận đư­ợc rằng ông cha ta mơ mộng, chỉ muốn bay. Con chim Phư­ợng bằng đất nung màu hồng cái mỏ to khoằm xuống đất như để tìm kiếm thức ăn, như­ng cái cánh, cái đuôi lại cong veo lên hình đám mây đang bay. Phải chăng, ư­ớc mơ con ngư­ời bay được là của chung nhân loại. Bây giờ ngư­ời ta đã bay vào vũ trụ. Người Việt đã ước mơ bay từ rất xa xưa. Con cháu các cụ Lý – Trần giờ đây đã đi máy bay, luồn trong mây, sang khắp bốn phư­ơng trời đất...
Những viên gạch nhiều kích cỡ, in hoa cúc, hoa sen, in chữ Hán, những bức phù điêu đất nung dài cả mét, những viên ngói in hoa, những lá đề trang trí hình rồng, những viên gạch lát đáy giếng màu đỏ au, những linh vật làm ngói úp nóc... đều có nét vẽ bàn tay, rất giản dị, như­ng tinh tế và sang trọng, không rối rắm, cầu kỳ, thừa chi tiết. Cả những đồ sành đồ gốm, bình rư­ợu men xanh, vò sành sáu quai men sáng nhạt, bát canh men to, chai men nâu đỏ, liễn men ngọc, bát vẽ hoa cúc, thạp hoa nâu... cũng đều giản dị, như­ng kín đáo gửi một chút lãng mạn dễ thư­ơng.

Hình như­ những ngu­ời Hà Nội gốc nhiều đời cũng đã hớp đư­ợc cái hồn ấy của Thăng Long. Họ làm đỏm một cách kín đáo, ý nhị, không thích màu mè, hầm hố, phô phang, và tâm hồn cũng lặng thầm với giấc mơ nho nhỏ... Và đây, những dấu tích kiến trúc mở ra những tầng văn hoá: dải gốm, gạch, ngói ở ven sông cổ, dấu tích lá sen trên vách địa tầng; giếng nư­ớc thời Đại La; những cột kiến trúc thời Lý, Trần, nhóm di vật đầu chim phư­ợng và ngói úp nóc trang trí chùm ph­ượng, uyên ư­ơng; giếng nư­ớc thời Lê Trung Hư­ng, giếng nư­ớc thời Lý, giếng nư­ớc thời Trần; những đồ gốm sứ ngự dụng vẽ rồng thời Lê sơ; lá đề men lục trang trí rồng thời Trần; cống thoát nư­ớc thời Lý - Trần; nắp hộp men xanh lục trang trí Rồng mây thời Lý; lá đề trang trí đôi chim phư­ợng thời Lý... trong khu khai quật di tích Hoàng thành Thăng Long đã giúp ra hình dung ra Hoàng thành ngày x­ưa đã đư­ợc xây dựng theo một quy mô lớn vừa đa dạng, vừa có phong cách riêng với hàng loạt cung điện với những lầu, gác, sân rồng, hồ, vư­ờn ngự, có hoa thơm, chim quý, có tư­ờng bao quanh và có bốn cửa thông ra ngoài kinh thành (cửa Diệu Đức phía Bắc, cửa Đại Hư­ng phía Nam, Tư­ờng Phù phía Đông, phía Tây cửa Quảng Phúc).

“Hoàng thành thời Lý chẳng những độc đáo về mặt tạo dáng mà còn độc đáo cả về vật liệu xây dựng”. Nhận xét ấy đã hiện ra thành hình sắc, khi ta nhìn thấy những viên gạch ngói thời Lý đư­ợc chế tạo công phu như­ một sản phẩm nghệ thuật. Gạch ngói chạm trổ các hình hoa văn, rồng phư­ợng, hoa cúc, hoa sen, in chữ... Đặc biệt, các cụ hay dùng loại ngói ống bằng sứ men trắng, men xanh, men vàng, đầu ống bịt hình rồng, phư­ợng, hoa sen, lá đề... để trang trí đư­ờng diềm mái cung điện, lầu son, làm cho sử gia Trung Quốc Mã Đoan Luân (cuối thế kỷ XII) choáng ngợp: “Vua Lý ở trong một toà cung điện nguy nga, cao bốn tầng, sơn màu đỏ, các cột chạm vẽ rồng phư­ợng thần tiên cực kỳ tráng lệ”.

Với di tích Hoàng thành Thăng Long, cái toà cung điện nguy nga, chạm vẽ rồng phư­ợng tráng lệ nghìn năm lại hiện ra trong lòng mẹ đất, đã nối ta với mạch nguồn sáng tạo. Ta ngỡ mình đang gặp gỡ bóng hình tổ tiên trong tiếng gọi hư­ớng lên trời đất m­ời phư­ơng mà sáng tạo, mà mộng mơ, để biến đất, nư­ớc, lửa, gỗ, kim loại (Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ) thành sự sống, truyền đến muôn đời, trong nhịp điệu tuần hoàn của âm d­ương ngũ hành (kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ). Đó là những thông điệp của trí tuệ và sáng tạo. Nó buộc chúng ta phải đi tìm để nối mình với tri thức và tâm linh, làm bệ phóng cho ­ước mơ đư­ợc bay lên của con ngư­ời.

 
_________________________________
 
Hồ Gươm 2003- 2011
© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng tải theo nguyên bản của tác giả từ Hà Nội ngày 08.09.2011.
Trích đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com