Chân dung Trần Thiện Đạo
ảnh của tapchisonghuong

Gửi Về Lòng Hà Nội







Với nhà nghiên cứu văn học, dịch giả Trần Thiện Đạo, đất mẹ của ông giờ đây là mảnh đất hình chữ S, nhưng thân thương hơn cả vẫn là Hà Nội, mặc dù ông sinh ra ở Sài Gòn, và trên năm mươi năm qua, ông sinh sống tại Pháp. 

Ông sinh năm 1933, sang Pháp học năm 1950. Thành đạt, ông đệ đơn xin về nước, chính quyền Sài Gòn nói: "Ông là cộng sản " nên không cho về. Để gián tiếp lại đối đáp lại quyết định "độc đoán và ngu xuẩn đó"(chữ của Trần Thiện Đạo) ông dịch cuốn La Chute (Sa đọa) của Albert Camus, một trong những tác giả của triết thuyết hiện sinh, gửi về đăng trên báo Văn ở Sài Gòn giới thiệu với bạn đọc Việt Nam. La Chute miêu tả con người đa chiều, mập mờ không rõ nét, biểu hiện cho con người hiện đại, khác hẳn với con người bị con người ta áp đặt, phân chia ra thành con người một chiều, đơn phương, một bên là thiện, một bên là ác, một bên là bạn, một bên là thù . 

Từ đó, ông ngụ cư luôn  ở bên Pháp với nghề dạy học, nhưng đã tham dự vào sinh hoạt văn hóa trong nước bằng phê bình và dịch văn học, là một trong những cây bút chính của tờ Văn, giới thiệu nghiêm túc các tác giả lớn của văn học thế giới, giúp bạn đọc nhận thức được tính chất đa dạng và bản chất đa nghĩa, nhiều tầng của nghệ thuật và văn học nói riêng. Tên của Trần Thiện Đạo được độc giả nhớ.

   Bằng chất giọng Sài Gòn thoải mái, uyển chuyển, chân thực, nhiều phương ngữ, Trần Thiện Đạo tâm sự:

       - Năm 1994 tôi có cái hân hạnh được về Hà Nội dạy học ở Đại học Tài chính và kế toán Hà Nội, khi nghe đến tên tôi, bốn anh chị em ở Huế, Sài Gòn tỏ vẻ ngạc nhiên ra mặt, bồn chồn cả buổi học. Đợi đến lúc tan trường, họ mới mon men đến kề bên tôi, chào hỏi rồi ngập ngừng: "Thầy thầy có phải ngày xưa viét báo Văn không? Nhờ tờ Văn do ba má còn giữ tới nay  nên chúng em mới biết chút ít về các traò lưu văn hóa thế giới….".

    Chính một trong những học viên này, năm sau thư cho tôi hay cuốn Sa đọa do tôi giới thiệu, dịch và chú giải, vừa được tái bản mà tôi không dè.

           Mới gần đây, (năm 2000) ngay liền sau ngày đáp xuống sân bay Nội Bài, tôi được  mấy anh em đồng điệu mến mộ đón mời. Trong buổi trà dư tửu hậu này, một nhà phê bình tên tuổi đương đại bỗng ghé vô tai tôi:  

- Tôi biết anh gần ba chục năm rồi.  

Tôi lấy làm ngạc nhiên hết sức. Sao anh lại biết tôi khi mà anh ở phương Đông, tôi ở phương Đoài, cách xa nhau ngàn vạn dặm. Thật lạ lùng.

Thấy tôi sửng sốt ra mặt, anh kể:  

- Vào khoảng năm 1971- 1972, tôi theo bộ đội vượt ranh đóng quân vùng Quảng Trị , vớ đợc một số sách báo xuất bản ở Sài Gòn, tôi đọc ngấu đọc nghiến nhiều bài và mấy bản dịch của anh.  

Trần Thiện Đạo đã được người đọc thích thú, bởi họ bắt gặp trong các bài viết của ông tiếng  nói thân thiết và xác thật của kẻ đã mắt thấy tai nghe sự việc kể lại, không phải là sự cóp nhặt trên báo, trên sách. Trên nửa thế kỷ qua, ông đã kiên định đi trên con đường truyền bá Tinh hoa văn hóa thế giới về nước, nghiêm chỉnh, trung thực, chính xác, không bị bất kỳ một mưu toan nào làm thay đổi. Ông nói: "Để khỏi phụ lòng độc giả và nhứt là để khỏi phụ lòng chính mình".  

Ông ở Pháp vào lúc triết thuyết hiện sinh (* ) xuất hiện như một trào lưu văn học hình thành một cách có thể nói là hùng hồn nhất ở Tây Âu và ở Pháp, nhờ taì năng của Jean Paul Sartre, Albert Camus, Simone de Beauvoir và nhiều nữa. Các nhà văn đó đã chiếm lĩnh mọi hoạt động, chi phối mọi lĩnh vực báo chí, truyền thông trong hầu hết mọi ngành xã hội, chính trị, nghệ thuật. Riêng trong địa hạt văn học đâu đâu cũng thấy bóng dáng họ: luận thuyết, tiểu thuyết, truyện kể, kịch nói, phim ảnh đến cả thi ca và hội họa…   

Trần Thiện Đạo có đủ điều kiện để chuyển không khí đó vê quê nhà với cả tấm lòng. Nhất là trong dịch thuật, Trần Thiên Đạo "có một cách dịch vô cùng cẩn thận". Ông nói:  

-  Nghệ thuật dịch văn vốn là một con đường bản chất rất mực gập gành, khó bước, lắm sình lầy, nhiều cạm bẫy, dầy gai góc. Chỉ cần thiếu một chút vốn liếng ngoại ngữ và quốc ngữ, có một trình độ văn hóa tổng quát nghèo nàn, với một tinh thần thận trọng đáng ngờ, cộng thêm vô đó một thứ thái độ miệt thị độc giả và khinh rẻ giới phê bình, thì cứ y như là dịch giả phải sa lầy, mắc bẫy, sớt mình. Riêng tôi, cuốn Sa đọa rất khó dịch, nhưng chính chỗ khó đó lại là động cơ thúc đẩy tôi tiến hành công việc phiên dịch. Là bởi toàn thể truyện kể được Albert Camus tạo dựng dưới dạng độc thoại, qua cách hành văn quả tình dị biệt, vừa cổ điển, vừa thức thời, lại với một giọng mỉa mai cực cùng chua chát, cay nghiệt, không có động tác, đúng hơn động tác chỉ được nhắc xuyên qua độc thoại. Khó lòng chuyển được thứ văn thể điêu luyện, nhịp nhàng hợp lý trong đường nét, dáng điệu, nên nhiều dịch giả chùn bước. Tôi phải cẩn thận, thấu đáo, chú trọng từng cách phát biểu, từng lối dùng chữ, từng ẩn ý không phải lúc nào cũng hiện lộ rành rành. Nền văn học nào, tác phẩm nghệ thuật nào cũng nảy sanh trong một môi trường nhất định. Chỉ có sống lâu dài trong môi trường đó, có thật sự hòa nhập cách này hay cách khác vào đúng môi trường đó, thì mới hòng tránh được sơ hở, thiếu sót và sai lầm tai hại. Đơn cử một thí dụ, trong Sa đọa có một trang miêu tả cảnh trí vừa nhợt nhạt vừa sanh động của vòm trời buổi chiều hôm ở bờ biển Hòa Lan. Để thực hiện  một cách chính xác trang dịch, tôi dã đích thân đến tận nơi, đúng vào thời gian chỉ định, quan sát và cảm thông vòm trời đó, rồi mới bắt tay vào việc chuyển ngữ sao cho phù hợp, vậy thôi.    

Sự lao động hết mình của Trần Thiện Đạo đã không uổng phí. Tập sách Tiểu luận và phê bình của ông vừa in xong, chưa kịp phát hành thì chính quyền Sài Gòn tan rã. Toàn bộ cuốn sách mất tích. May thay, những giá trị văn hóa đích thực vẫn được người đời nâng niu, gìn giữ. Ngô Tự Lập, nhà văn Việt Nam, đã sang Paris, cùng ông sưu tầm lại đầy đủ những bài nghiên cứu của ông mang về nước và hứa" sẽ in những tập sách của ông tại những nhà xuất bản lớn nhất Hà Nội".   

Năm 2001, Nhà xuất bản Văn học xuất bản cuốn Chủ nghĩa hiện sinh và thuyết cấu trúc  của Trần Thiện Đạo. Nó đề cập đến hai luồng tư tưởng thịnh hành một thời gian dài khoảng chừng năm, sáu thập niên vào giữa thế kỷ XX, dặc biệt ở Tây phương va ønó đã ăn sâu vào đời sống tinh thần của người phương Tây.  

Năm 2003, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin xuất bản cuốn Cửa sổ văn chương thế giới, gồm tiểu luận, phê bình, tuyển dịch của Trần Thiên Đạo, đã giúp chúng ta thêm hành trang tri thức để giao tiếp trong một thế giới ngày càng được toàn cầu hóa.

Song cho dù Trần Thiện Đạo có nghiên cứu, giới thiệu các nhà văn lớn của toàn thế giới, thì tận sâu thẳm đáy lòng, ông vẫn mong ta hiểu biết nhân loại, để quay về đất mẹ của mình, sáng tạo những tác phẩm đậm tâm hồn dân tộc, chứ không phải là sự bắt chước khiên cưỡng. Ông nói: "Sáng tác- qua trái tim và cảm xúc". Ông viết:  "Có những kẻ vừa lúc mới sinh ra cho tới ngày nhắm mắt, dường như không giây phút nào ngừng mang nặng trong mình một yếu tố làm nên tinh túy của một dân tộc. Họ sống ở đâu, hoạt động thế nào, họ vẫn cứ là họ, nghĩa là hiện thân cho mọi tình tự, mọi cách xử thế, mọi hy vọng, mọi lý tưởng của đất nước  họ. Da thịt họ tựa hồ đã thấm nhuần sông núi, ruộng đồng, cây cỏ, âm thanh chợt thấy, chợt nghe từ thủa xa xưa. Và khi họ lại là nhà văn, nhà thơ, thì văn họ, thơ ho,ï  tác phẩm của họ không biểu lộ khía cạnh nào sâu sắc bằng khía cạnh con người dân của họ… Một nhà văn lớn tiêu biểu cho dân tộc, cho truyền thống của dân tộc mình, chẳng xuất hiện như một bằng chứng phủ định những ý tưởng học đòi cách sống, lối tư tưởng ngoại bang của một nhóm người hay sao?" 

Trần Thiện Đạo nhớ cội, nhớ nguồn, tuy ông sống xa tổ quốc từ khi mười sáu tuổi, trong nhiều bầu không khí khác hẳn bầu khí quen thuộc thủa thiếu thời, nhưng ông vẫn không  ngừng vọng hướng về cội rễ. Ông bảo:

" Cây có cội, suối có nguồn". Ông thường bộc bạch cùng bè bạn: " Chính tiếng Pháp mới thực sự là tiếng mẹ đẻ ra tôi" và mọi người gọi tôi là "ông Tây".

         Trong khi trò chuyện với chúng tôi, hoặc mỗi lần giảng dạy ở Hà Nội, ông thú nhận : " Tôi nói tiếng Việt một cách khó khăn, nhọc nhằn, khúc mắc, ngượng ngiụ, nhng cuối  cùng mọi chuyện đều sáng tỏ".

         Vậy mà khi đọc sách của ông, thấy tiếng Việt trong ông phong phú quá. Ông đã trình bày vấn đề mạch lạc, rạch ròi, khúc chiết, cô đọng lại rồi dịch chuyển những vấn đề triết học rất khó hiểu của người phương Tây sang cho người Việt hiểu. Ông không quên dùng phương ngữ Nam Bộ, nơi ông đã sinh ra và sống suốt thời thơ bé, và nhất là mhững từ ngữ biểu cảm tâm hồn Việït Nam, để gửi lòng mình vào trang sách .

      Có người nhận xét: "Ông biết làm thân con tằm ăn dâu rồi nhả ra tơ, chớ không ọe nguyên si ra lá dâu vừa nuốt chưa tiêu".

Căn phòng nhỏ của ông ở Paris đầy sách, không ít sách tiếng Việt của các tác giả nhiều thế hệ, là nơi các bạn văn nghệ sĩ, trí thức, nhà giáo, trong nước ghé thăm, nơi các sinh viên Việt Nam học ở Pháp tụ về như người nhà vậy. Các cháu đến, ông bảo vào bếp xem có gì thì ăn, tự nhiên như ở nhà mình.

Hà Nội với ông bây giờ là chốn đi về, bạn bè tâm huyết đón ông, không khách sáo, không xa lạ, cùng ăn canh chua, cà muối, rau muống luộc chấm tương, nhâm nha hương cà phê trong quán cóc, cùng ngao du trong thôn làng, vùng núi sơn thủy, đàm đạo văn chương, nói chuyện hài, khám phá nét tinh hoa Hà Nội…

Báo chí Hà Nội gọi ông là" Ông già Tây mê Tết". Ông tâm sự:  

- Bao nhiêu năm qua tôi vẫn hướng về quê nhà. Hơn nửa thế kỷ qua (năm mươi tư năm) tôi lớn lên, đi học, đi dạy học, sinh sống ở Pháp, thành ra tôi vẫn nói đùa rằng tiếng mẹ đẻ của tôi là tiếng Pháp, chớ không phải  tiếng Việt. Và trên thực tế, tôi có viết và in một số sách kỹ thuật bằng tiếng Pháp và một cuốn khảo luận văn học  bằêng tiếng Anh. Vậy mà rốt cuộc sau khi học lại tiếng Việt ở Pháp, tôi liền xoay qua viết bằng tiếng Việt cho sách báo ở Hà Nội. Trong ý hướng, nói theo Nguyễn Văn Vĩnh "chừng nào chữ quốc ngữ  còn thì nước Việt Nam còn" và tôi mong muốn nước tôi còn, tự do và dân chủ. Phần khác tôi cũng mong bọn trẻ tiếp thâu được cái hay của ngoại quốc đem về ứng dụng trong nước. 

Tuy sống lâu năm ở nước ngoài, mỗi lần về Hà Nội trong khuôn khổ nghề nghiệp hoặc với tính cách cá nhân, khó có cái nhìn hoàn toàn khách quan như một du khách bình thường. Là bởi trên số kiến thức lịch sử văn hóa trong đầu, tôi không còn nhìn sự việc, con người cảnh vật Hà Nội bằng con mắt mà bằng tâm tình. Thí dụ  như khi ngang qua hồ Hoàn Kiếm, hồ Tây, hồ Trúc Bạch, lạ lắm Mai Thục ơi, tôi dường như không ngó thấy, không nghe thấy cái nhốn nháo, ồn ào kẻ đi, người lại, cái nhố nhăng, lạ lẫm của kiến trúc không qui hoạch, mà chỉ diễn lại trong dầu cái thanh tao, tĩnh mịch  quyến rũ tao nhân mặc khách. Tôi hình dung cảnh Liễu Hạnh với Phùng Khắc Khoan, Nguyễn Trãi với Nguyễn Thị Lộ, bà huyện Thanh Quan…. Tại tôi có tinh thần hoài cổ chăng? 

           Tôi gửi về Trần về Trần Thiện Đạo "Trăng Tây Hồ ngà ngọc thiên thu" để ông thêm hồi nhớ Hồ Tây mà khơng chút băn khoăn về sự "hồi cổ" rất thiêng liêng cao quí trong tâm hồn ông: 

                            Trăng Tây Hồ 

                  Sóng Tây Hồ long lanh sương trắng

                  Trăng Tây Hồ rạng thấu mười phương

                  Sâm Cầm tám hướng tụ bay về

                  Vỗ cánh đê mê nước gương soi

                  Thương đàn con Việt, Sao Khuê hiện

                  Yêu nhà đau lịng mẹ Thanh Quan

                  Hồ Xuân Hương têm trầu bơi vơi

                  Phùng Khắc Khoan tạc khối ân tình

                  Liễu Hạnh hố Thánh hồn Trinh nữ

                  Trăng Tây Hồ ngà ngọc Thiên Thu. 

                                                        (Mai Thục) 

            Nhà xuất bản Hội Nhà văn vừa xuất bản cuốn "Văn nghệ những nụ cười giòn" của Trần Thiện Đạo là một cái nhìn hóm và huyên thâm của một ông già Việt Nam về đời sống văn học Paris và Tây Âu hiện đại, giúp người trong nước ngó ra thế giới một cách đúng đắn . Được bạn văn chương tin, Trần Thiện Đạo  càng say làm việc. Năm nào ông cũng về Hà Nội vào dịp Tết, chẳng lúc nào chịu ngồi yên một chỗ, mang đến cho chúng tôi niềm lạc quan tươi trẻ, và cách nghĩ mới, tốc độ hơn, sáng tạo hơn, trong tình cảm chân thành, tin cậy, thân thương như anh em một nhà.

         Gặp gỡ Trần Thiện Đạo là gặp sự bình an,  vui vẻ, với những chuyện hài phóng khoáng  đầy tri thức, tuy vậy ông không chấp nhận những người dịch sai, dịch ẩu.

        Thật dễ chịu khi có một người bạn dám sống như thế. Để ta có thể trở nên tốt hơn, giỏi hơn.    



 (*) Chủ nghĩa hiện sinh đã được chính Jean - Paul Sartre định nghĩa "Hiện sinh có trước bản chất" (có ý nghĩa là con người trước hết ; con người tạo cho mình bản chất của chính mình). Giá trị của con người được khẳng định khi con người hành động. Con người hoàn toàn tự do khi hành động. Nhưng con người luôn phải sống trong một hoàn cảnh. Tự do của con người là tự lựa chọn mình trong hoàn cảnh đó. Đó là chủ nghĩa hiện sinh hành động của Jean - Paul Sart (1905-1980). Năm 1964 ông từ chối không nhận giải Nobel về văn chương.
_________________________________
 
Hồ Gươm 2007.
© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng tải theo nguyên bản của tác giả từ Hà Nội ngày 21.08.2011.
Trích đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com