Chương 8


    Thăng Long mùa xuân 1434.

    Thiệu Bình năm thứ nhất.

    Ngày mồng một, tháng giêng, vua Lê Thái Tôn dẫn các quan đến bái yết Thái Miếu. Ngài cầu siêu thăng tịnh độ cho Tổ tiên vọng tộc và nguyện cầu Tiên đế phù trợ cho ngài vững bước cùng triều đình xây nền bình trị, nối dõi tổ tông.

    Ngài lo việc bang giao với nhà Minh chu đáo. Ngày mồng bốn Tết đã sai Môn hạ tỵ lang Nguyễn Phú , cùng Hữu hình viện lang trung Phạm Thì Trung đi với sứ Bắc là bọn Từ Kỳ, Quách Tế sang nhà Minh trả lời về số vàng phải đem cống.

    Ngày mồng sáu, sai bọn Tuyên phủ sứ Nguyễn Tông Trụ, Trung thư hoàng môn Thái Quân Thực, kỳ lão Đái Vương Bật mang tờ biểu và lễ vật địa phương sang nhà Minh cầu phong vương cho ngài.

    Lê Thái Tôn sớm biết phải bang giao với nhà Minh trong tư thế độc lập tự chủ, nhưng không thoát ra khỏi những luật lệ đã được qui định từ thời Lê Thái Tổ.

    Về đối nội, Lê Thái Tôn lệnh chỉ cho văn võ đại thần lớn nhỏ trong ngoài.

    Đạo làm tôi cốt có hai điều. Trên thì yêu vua, dưới thì yêu dân. Yêu vua phải hết lòng trung. Yêu dân phải hết lòng thành, thế thôi. Tất cả các quan được trẫm tin dùng, nếu có ai không hết lòng trung thành, bỏ bê phận sự, thì nhà nước đã có luật pháp.Mới rồi, tìm người hiền để giúp việc trị nước, đã có lệnh cho mọi người tiến cử người mình biết. Nay đã lâu rồi mà chưa có ai theo lệnh tiến cử một người nào để đáp lại lòng trẫm là cớ làm sao?”

    Ngày 13 tháng giêng, lệnh bổ các quan lớn nhỏ, trong ngoài là bọn Lê Trãi cả thảy một trăm năm mươi sáu người.

    Ngày rằm tháng giêng vua cùng các quan tế cáo Trời đất, núi non danh tiếng và sông lớn. Giết ngựa trắng, lấy máu cùng thề.

    Thái Tôn lo lắng sốt ruột về việc tìm hiền tài để củng cố triều chính. Hơn một tháng, sau lệnh cầu hiền, vua lại ra lệnh chỉ cho các quan văn võ.

    “Những người mà các ngươi tiến cử, những lời mà các ngươi tâu lên, chả lẽ ta không biết hay sao? Song những lời của các ngươi chẳng có mưu hay kế lạ gì có thể dùng được, những kẻ được tiến cử đều là bọn tầm thường dung tục. Các ngươi nếu có lòng vì nước, lại càng phải để ý xét hỏi rộng khắp, xem có ai còn ẩn dật chốn núi rừng hay nương náu nơi thôn dã, chưa được triều đình xét dùng tới, hãy tiến cử lấy một vài người giúp trẫm lo việc trị nước, như thế thì mới có thể là tận trung với nước, sẽ được thưởng vượt bậc”.

    Nguyễn Trãi cùng Nguyễn Thị Lộ lật đật thu xếp đồ đạc, từ Côn Sơn lên thuyền lướt đường sông về kinh đô, theo lệnh vua vời. Nguyễn biết từ nay, ông sẽ không còn được thảnh thơi cùng mây trời trăng gió, nghe thông reo suối hát cùng Nguyễn Thị Lộ như những ngày ở Côn Sơn. Những ngày hạnh phúc một đi không trở lại.

    Giờ đây ông và nàng sống nhờ trong một căn nhà ngang hẹp của một đại thần, là bạn xưa của ông đã hưu quan.

    Nguyễn thị Lộ như chim bị nhốt trong lồng. Nàng vào ra sớm tối, lo cho Nguyễn từng bữa ăn, giấc ngủ. Thấy chồng trăn trở những đêm sâu, nàng phải mua tâm sen sắc nước an thần cho Nguyễn uống, mát tâm thận.

    Nguyễn trở nên trầm lặng, ít chuyện trò ngâm vịnh cùng vợ. Nhiều lúc, Nguyễn buồn bã thốt thầm:

    Chân chẳng lọt đến cửa vương hầu

    Ấy tuổi nào thay, đã bạc đầu

    Liệu cửa nhà xem bằng quán khách

    Đem công danh đổi lấy cần câu

    Thân đà hết luỵ thân nên nhẹ

    Bụt ấy là lòng, bụi há cầu?

    Bui một quân thân ơn cực nặng

    Tơ hào chưa báo hãy còn âu.

    Nguyễn Trãi đã tham dự các buổi thiết triều. Nhưng hồn Nguyễn đâu còn hào sảng như ngày xưa nữa. Trở lại cung đình hầu hạ một ông vua trẻ, với các vị đại thần già cỗi, lúc nào cũng vênh vang với chiến công quá khứ cùng Lê Thái Tổ. Bọn hắn không chịu học hành, tu tâm dưỡng trí, nay thi nhau thao túng vị vua nhỏ tuổi. Bao nhiêu lời tâu đều nhằm mục đích thâu tóm quyền lực và của cải vào cái hầu bao của chúng. Nguyễn nghĩ mà buồn nôn. Bầu không khí của cung đình những ngày đầu của triều đại Lê Thái Tôn bị bọn họ làm vẩn đục, đầy xú uế.

    Nguyễn buồn. Nhớ Trần Nhân Tôn ngày xưa đã tu ngay trên ngai vàng của mình. Nguyễn cũng học tập Người. “Bụt ấy là lòng”. Phật tại tâm. Nguyễn tự nhủ ao sâu, bùn đất đục ngầu, hoa sen vẫn nở thơm tinh khiết. Nguyễn giờ đây còn nặng lòng ơn vua, muốn báo đền, nên phải chịu đựng thở chung bầu không khí đầy ô trược này, nhưng luôn giữ tâm mình trong sáng.

    Nguyễn Trãi nghe chỉ dụ cầu hiền của Lê Thái Tôn, mỉm cười.

    Nhớ ngày xưa Lê Lợi về Thăng Long cũng xuống chiếu cầu hiền, nghe có vẻ chân thành lắm, mà kết cục chẳng ra gì. Lưỡi gươm của đức vua quay ngược về phía hiền tài.

    Nay ý chỉ của đức vua trẻ có phần tích cực, nhưng cũng nông nổi. Vua tỏ ra sốt sắng chiêu phục hiền tài. Nhưng hiền tài hiện ngay trước mắt, chắc gì vua đã biết. Ngài đâu hiểu lòng các vị cận thần lâu nay bám quanh Lê Lợi nhằm hưởng bổng lộc, vinh thân phì gia. Đời nào họ lại tiến cử người tài giỏi để thay thế họ! Họ đang cố tình bám chặt lấy chức vị của mình. Có chăng, họ tìm cách đưa con cháu họ hàng của mình vào. Đức vua làm sao hiểu được tấc lòng đen tối của họ.

    Nguyễn nghĩ vậy, nhưng không dám hé nửa lời cùng ai. Ông cảm thấy mình xa lạ với đám quan đại thần này. Ông chỉ nung nấu một điều là đem hết tài lực của mình, giúp vua trở thành bậc minh quân cho dân Đại Việt được nhờ. Mặc dù chức tước Lê Thái Tôn ban cho ông còn kém chức Lê Thái Tổ ban. Nhưng Nguyễn bỏ qua tất cả. Kể cả bổng lộc, nhà cửa, ruộng vườn, Nguyễn chẳng có gì. Ông và Nguyễn Thị Lộ về kinh đô, đang phải đi ở nhờ. May mà, Nguyễn Thị Lộ không ham hố vật chất, nên luôn chia sẻ cùng ông những khó khăn trong đời sống hằng ngày, cùng Nguyễn ngày đêm dùi mài chữ, dồn sức cho công việc triều đình, mà Nguyễn có trọng trách được vua giao gánh vác.

    Ngày mồng một tháng năm.

    Hôm nay phải nghỉ buổi chầu.

    Tối hôm trước, Thái sử Bùi Thì Hanh tâu đức vua:

    - Muôn tâu bệ hạ, ngày mồng một tháng năm có tinh vượn đen ăn mặt trời. Hôm ấy sẽ có nhật thực. Có nhật thực thì trong nước có tai biến. Nếu bắt được vượn sống đem giết để trấn yểm thì có thể chấm dứt được tai biến.

    Đại tư đồ Lê Sát tin là thực, tâu xin ra lệnh cho quan lại các trấn Tuyên Quang, Thái Nguyên đốc thúc dân chúng bủa lưới săn lùng khắp rừng núi khe hang, bắt vượn khỉ đóng cũi gửi về nườm nượp không ngớt.

    Ngày mồng một tháng năm nghỉ chầu, làm phép chấn yểm trong cung cấm. Các quan không một ai được biết. Thì Hanh chỉ tâu cho Lễ bộ thị lang Trình Toàn Dương, trước là đạo sĩ, cùng làm phép với mình. Hai người được thưởng rất hậu.

    Mùa hạ năm nay, trời hạn hán. Đã lâu không có một giọt mưa nào. Cánh đồng khô nẻ. Vua sai các quan rước Phật chùa Pháp Vân ở thôn Vân Giáp, huyện Thường Tín về Đông Kinh để cầu mưa.

    Nguyễn Thiên Hựu dâng sớ tâu:

    - Bệ hạ sửa đức, tha tù oan, thả bớt cung nữ mà trời không mưa thì xin chém đầu thần để tạ Trời Đất.

    Hạn nóng tới mức kinh thành bị cháy, lửa lan ra thiêu mất vài trăm nhà.

    Nguyễn Trãi soạn tờ tâu, bọn Nội nhập viện Nguyễn Thúc Huệ và Lê Cảnh Xước muốn đổi vài chữ.

    Nguyễn Trãi giận nói:

    - Bọn các người là hạng bề tôi vơ vét. Nạn hạn hán này là do các người gây nên cả.

    Thúc Huệ tức tố cáo với Đại tư đồ Lê Sát và đô đốc Vấn. Sát và Vấn tức lắm, trách Trãi:

    - Làm nên nỗi có thiên tai không là phải do lỗi của bọn ấy, lỗi của vua và tể tướng thôi, sao ông trách nhau quá như vậy?

    Nguyễn Trãi từ tạ nói:

    - Thúc Huệ chỉ vì chút tài vét thuế mà chiếm chỗ then chốt của thiên hạ. Mỗi khi có sổ sách tâu vào đều muốn vơ của dân về cho quan, để mong hợp ý vua. Cho nên tôi nhân việc này mà nói ra thôi, không dám chê bàn gì đến vua và tể tướng cả.

    Lê Sát vẫn chưa nguôi giận. Nhưng bản tâu vẫn như của Nguyễn Trãi. Bọn ấy không sửa được một chữ nào.

    Đại tư đồ Lê Sát đằng đằng sát khí.

    Công việc xây chùa Báo Thiên rất nặng nhọc. Sư Đãng phải làm việc quần quật, đã nói vụng rằng:

    - Thiên tử không có đức, để đến nỗi hạn hán. Đại thần ăn của đút, cử dùng kẻ vô công, có gì là thiện đâu mà phải làm chùa to thế.

    Sư Đãng không ngờ có kẻ tố giác. Đại tư đồ Lê Sát giận lắm.

    Quan thẩm hình Nguyễn Đình Lịch nói:

    - Nó dám nói càn đến việc nước, nên chém.

    Nguyễn Thiên Hựu và Bùi Cẩm Hổ đều xin tha tội chết cho sư, vua đang chuẩn bị nghe theo, thì Sát nói:

    - Trước đã nghe bọn Thiên Hựu không giết Nguyễn Đức Minh, để rồi nó bỏ thư nặc danh vu cho nhau. Nay lại định tha thằng này thì làm thế nào cho đứa khác răn sợ?

      Bọn Thiên Hựu không dám nói nữa. Sư Đãng bị chém.

      Ngay hôm ấy có cơn mưa nhỏ.

      Sát nói:

      - Nếu nghe lời ngôn quan, làm gì có trận mưa ấy.

      Lê Ngân nói:

    - Giết nhiều kẻ ác thì được mưa nhiều, chỉ có điều, xương người chất đầy đường khó đi thôi.

    Đồng tri hạ tịch Bắc đạo Bùi Ư Đài thấy trời sinh nhiều tai dị, dâng sớ nói bốn điều:

    “Điều thứ nhất xin bệ hạ bên trong thì kén chọn các bậc hoàng huynh, quốc cữu, các vị bô lão am hiểu điển chế xưa, giữ làm nhập thị để khuyên răn nhắc bảo mình, bên ngoài thì đặt chức sư phó để làm cột trụ, chỉ huy trăm quan.

    Điều thứ hai những quan viên văn võ, quân lính và dân chúng trước kia bị tội đày đi các nơi, đó là cách trừng trị của Tiên đế đối với chúng. Nay lại thấy chúng trở về làm quan, nắm quyền coi trị dân, thế là trái với ý của Tiên đế, không hợp với đạo của trời đất”.

    Đại tư đồ Lê Sát thấy sớ giận lắm, sai người chép hai điều đó tâu lên và nói:

    - Tiên đế cho bọn thần là bề tôi cũ lâu đời, vả lại đã cùng với Tiên đế vất vả trong mười năm trời ra vào chốn muôn chết một sống, để lập nên triều đình này. Tiên đế vốn biết bọn thần là hạng chất phác, ngu độn, cho nên lúc sắp mất, đem bệ hạ ký thác cho bọn thần. Nay Ư Đài nói thế, có ý ngờ bọn thần chuyên quyền làm bậy, mà xui bệ hạ lập người thân thích khác để phòng giữ, xin giao nó xuống cho ngục quan xét hỏi việc này hư thực thế nào. Nếu Ư Đài quả đúng là ly gián vua tôi thì phải trị hắn theo phép nước, không tha.

    Vua nói:

    - Những điều Ư Đài nói ra, có chỗ trúng, chỗ thiết yếu, nhưng đâu đến nỗi thế.

    Sát không nghe. Tâu đi tâu lại vài bốn lần. Kết quả Ư Đài bị điều đi châu xa.

    Đại tư đồ Lê Sát dựng xong hai chùa Thanh Đàm và Chiêu Độ , có đến chín mươi gian.

    Mùa thu. Tháng bảy. Lê Thái tôn ra lệnh chỉ cho tướng hiệu vệ quân các đạo và các quan lộ, huyện, trấn, sách, xã rằng:

    “Phép trị nước lấy hình pháp gọn nhẹ làm gốc. Trẫm thấy các quân nhân đều tâu báo vượt cấp, câu kết nhau để đi kiện người, bỏ phế mọi việc của dân, quấy rối triều đình, không gì tệ hơn. Từ nay, quân hay dân, nến có vụ kiện nhỏ thì tới chỗ xã quan của mình trình bày… Ở dưới không giải quyết được thì mới tâu lên. Các quan xử phải giữ phép công bằng, không được nhận đút lót mà làm sai, để có người bị oan uổng.”

    Vua mở hội Vu Lan, tha cho năm mươi tên tù tội nhẹ và ban tiền cho các sư tụng kinh. Tháng tám, vua cho các giám sinh Quốc Tử Giám và sinh đồ các lộ huyện, được mang mũ áo và cho Giáo thụ Quốc Tử Giám cùng các chức giáo lộ, huyện được đội mũ cao sơn.

    Sớm nay, Nguyễn Trãi dậy sớm. Nguyễn Thị Lộ bưng bát xôi lúa nóng thơm hương cho chồng ăn sáng. Nhấp chén trà mai thoảng chát ngọt, Nguyễn tỉnh táo mỉm cười, vui vẻ nói với vợ:

    - Đức vua vời ta vào Cấm thành gặp riêng. Nàng có đi cùng ta không?

    Lâu lắm mới bắt gặp giọng nói đùa vui của chồng, nàng mỉm cười đùa lại:

    - Thiếp chẳng dám mơ được sánh vai cùng chàng gặp gỡ đức Thượng hoàng.

    - Có gì đâu mà nàng nghĩ xa xôi thế. Ngày xưa, nàng đã từng chăm bẵm cậu bé Lê Nguyên Long luôn ngơ ngác vì mất mẹ quá sớm đó sao?

    - Đúng là ngày xưa, thiếp cùng với nhũ mẫu là cung phi, bạn của Phạm Thị Ngọc Trần thương Lê Nguyên Long mồ côi mẹ mà ôm ấp vỗ về trong lòng thay mẹ cậu. Nhưng nay, khi chiếc vương miện đặt lên đầu Lê Nguyên Long, thì trở thành quan hệ vua tôi. Thiếp không dám phạm thượng.

    Nguyễn đội mũ cánh chuồn, mặc áo thụng xanh vào gặp đức vua. Nguyễn Thị Lộ sửa búi tóc của ông gọn lại. Nàng tiễn chồng một đoạn. Nguyễn phải đi bộ vì không còn là quan đại thần, nên không được đi cáng nữa. Nguyễn thong dong đi qua mấy con phố nhỏ gần hồ Tây vào Ngọ môn. Những cây cơm nguội vàng, cây bàng già, cây liễu mềm tha thướt… thả gió quấn theo chân Nguyễn. Đi bộ dạo phố phường là một thú vui với Nguyễn. Ngày xưa, cũng nhờ dạo bộ một mình lãng đãng quanh Hồ Tây mà Nguyễn gặp Nguyễn Thị Lộ. Cô nàng ngồi bán chiếu gon, hai má ửng hồng, đôi mắt đen linh lợi trong sáng. Nguyễn dừng lại ý tứ đùa trêu:

    Nàng ở đâu ta bán chiếu gon

    Chiếu gon mình bán hết hay còn

    Xuân xanh chừng độ bao tuần lẻ

    Đã có chồng chưa, được mấy con?

    Không ngờ cô nàng mỉm cười rất duyên và đối lại:

    Thiếp ở Tây Hồ bán chiếu gon

    Cớ sao mình hỏi hết hay còn

    Xuân xanh đang độ trăng tròn lẻ

    Chồng còn chưa có nói chi con

    Nguyễn ngỡ ngàng mê say nàng ngay từ phút ấy. Nàng quyến rũ ta ở vẻ đẹp thánh thiện và tâm hồn thi sĩ. Nàng không phải là cô gái bình thường như bao cô gái khác mà ta gặp trong đời…

    Lan man trong ký ức, Nguyễn quên là mình đang vào Cấm thành. Có tiếng chuông trống đâu đó. Hình như Lê Thái Tôn đang chờ ông. Có thể mình đã đến chậm chăng. Nguyễn bước vội hơn.

    Nguyễn bước vào điện riêng của Lê Thái Tôn. Đức vua đang ngồi trên sập vàng, thấy Nguyễn cúi mình quì lạy, Thái Tôn vội bước tới:

    - Khanh là bậc công thần của Tiên đế. Ta miễn lễ.

    Ngài nói với hoạn quan:

    - Truyền ban rượu cho quan Hành khiển.

    Lê Thái Tôn hỏi Nguyễn Trãi làm thế nào để cầu hiền.

    Nguyễn tâu:

    - Thưa bệ hạ, muốn có nhân tài trước hết phải chọn lựa

    kẻ sĩ. Mà phép chọn lựa kẻ sĩ phải lấy thi cử làm đầu.

    Lê Thái Tôn cười rạng rỡ:

    - Khanh nói có lý đấy! Tiên đế ta từ thủơ xưa loạn lạc, người anh tài như lá mùa thu, bậc tuấn kiệt như sao buổi sớm. Buổi đầu dựng nước, Thái Tổ ta đã mở mang Nho học. Ngài dùng cỗ Thái Lao, đủ tam sinh, ba con vật tế là trâu, dê, lợn để tế Khổng Tử. Ngài rất mực sùng Nho, trọng đạo. Trẫm nối chí lớn người xưa, lo được nhân tài để thoả lòng mong đợi.

    Nguyễn Trãi thấy đức vua trẻ phong thái ung dung, đàng hoàng chính trực, nói những lời ngay thẳng, thầm mừng trong dạ. Nguyễn nghĩ nếu có đại thần trung thành tâm đức, tài năng bên cạnh, đức vua sẽ trở thành một minh quân.

    Lê Thái Tôn tiếp Nguyễn Trãi thân mật, khiêm nhường, nhưng hết sức mạch lạc:

    - Ta giao cho khanh viết Văn bia Vĩnh Lăng. Khanh đã viết những lời súc tích, ca ngợi công lao Tiên đế hợp ý ta và muôn dân. Ta thưởng rượu mừng khanh. Nay ta muốn giao cho khanh viết Dư địa chí khanh nghĩ sao?

    - Dạ muôn tâu bệ hạ, Thời Lý, nước Đại Việt ta có quyển Nam Bắc phiên giới địa đồ, là một tấm bản đồ về nước non Đại Việt. Nay bệ hạ muốn triều ta có Dư địa chí, là điều rất hay. Công việc này trong tầm tay của hạ thần. Thần từng đi khắp nơi trên đất Đại Việt, thấy “Núi sông bờ cõi đã chia/ Phong tục Bắc Nam cũng khác”. Triều đại Tiên đế đã đổ máu xương để giành lấy non sông Đại Việt gấm vóc, nay triều ta phải ghi lại để truyền con cháu mai sau ghi nhớ và xây nên văn hiến Đại Việt. Thần xin tuân chỉ.

    Nguyễn Trãi cáo lui.

    Trên đường về ông miên man nghĩ ngợi. Tạo hoá sinh ra mỗi người chỉ có thể làm một công việc mà thôi. Nguyễn đã dùng bút để phụng sự Lê Lợi, nay lại dùng bút phụng sự ông vua nhỏ tuổi này. Lê Thái Tôn cũng biết thế mạnh của ta mà giao đúng việc, thì cũng là sáng suốt.Ta như con ngựa già rong ruổi trên cõi đời đen bạc. Ta chán chức tước, nhưng ta cần hiến dâng ngòi bút của mình cho dân tộc của ta. Cho nên, việc ta quay trở lại cung đình là hợp lẽ trời.

    Lê Thái tôn ra chiếu chỉ định rõ thể lệ khoa thi, kỳ thi.

    Bắt đầu từ năm Thiệu Bình thứ năm 1438 thi hương ở các đạo, năm thứ sáu, thi hội ở sảnh đường tại kinh đô.

    Từ đấy về sau, cứ năm năm một lần thi lớn, coi đó làm qui định lâu dài, người nào thi đỗ, đều được ban danh hiệu tiến sĩ xuất thân.


    ... CÒN TIẾP ...

© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng tải theo nguyên bản của tác giả gởi từ Hà Nội ngày 12.08.2011.
TÁC PHẨM CỦA MAI THỤC CHỈ PHỔ BIẾN DUY NHẤT TRÊN HỆ THỐNG VIỆT VĂN MỚI - NEWVIETART