“…Chúa
ơi, xin Ngài tha thứ tổng giám
đốc Jeef Bezos ( b. 1962 , d.----- )
đừng vội ngắt hơi thở, để anh ta
được sống lâu hơn, mãn nguyện cung cách làm giàu trên
xương máu các tác giả, và tiếp tục thực thi dài dài
kiểu” piracy- copyright infringement”
– thu lượm quả ngọt trên cành , lại quên khuất công
lao kẻ trồng!. Amen !”
….Nguyễn
Hiến Lê, Giản Chi, Nguyễn Đức Quỳnh,
Thượng Sỹ, Nhà
xuất bản
Thế giới, Quách Thoại,
Thế
Phong, Phan Quang Bổng , Đàm Xuân Cận…
Cornell University Libraries…
Gặp Nguyễn Hiến
Lê lần đầu từ bao giờ thì đành chịu, nhưng mài
mài nhớ lại- tôi gặp ông tư gia , 50 đường Monceaux,
Tân Định vào một buổi sáng. Tiếp tôi ở căn phòng nhà
ngoài, nơi cô giáo dạy tư, nhưng buổi này không
có lớp. Khi tôi đang nói chuyện với ông, thì một
khách đứng tuồi, thân hình mập mạp, khuôn mặt chữ điền,
từ ngoài đường bước vào- ông Lê giới thiệu ,đó là
ông Nguyễn Hữu Văn, công chức Bưu điện, mới di cư vào
Nam. (Nguyễn hữu Văn, tên thật
Giản Chi) Ông này là tay dịch truyện Lỗ Tấn, chí
đứng hàng sau của nhóm Hàn Thuyên là Đặng
Thái Mai mà thôi. Tôi không hỏi ông Văn
dịch tác phẩm nào của Lỗ Tấn, song nhớ đích xác, ông
ta dịch một tập truyện Lỗ Tấn trước năm 1954 do nhà
xuất bản Thế Giới ở 112 Phố Huế, giám đốc
Nguyễn Văn Hợi in và phát hành.
Từ đó, tôi thường
đến thăm ông thường xuyên hơn, nhất là sau 1957,
tôi từ Rạch Giá trở về, với một va li đầy
ắp bản thảo- đã đưa một số bản thảo đến Nha
Thông tin Nam Phần xin cấp phépthì bị từ chối. Ấy là
tôi không phải kẻ xa lạ, vì giữa năm 1954- đầu 55,
từng tùy viên báo chí Tổng trưởng Thông tin và tuyện
truyền Phạm Xuân Thái , hẳn chẳng lạ lùng gì với giám
đốc Nha Thông tin Nam Phần Phan (?)Quang Bổng.. Tôi đưa
ý kiến này bàn bạc cùng Nguyễn Hiến Lê, liệu
có ban đầu với chính quyền. Ấy là tôi đã có
cuốn truyện đầu tay “ Tình sơn nữ “do Hoa Mai(
Saigon) xuất bản cuối 1954, và đầu năm 1955, Thế Giới
( Saigon) lại in và phát hành” Muốn hiểu chính trị”
hay là” Tổ chức chính trrị
thế giới” ( chủ soái nhóm Hàn Thuyên, nhà
văn Nguyễn Đức Quỳnh viết tựa dưới bút danh
Hà Việt Phương). Ông Lê đọc bản thảo xong,
trao “ Lược sử văn nghệ
Việtnam / Nhà văn hậu chiến 1950-1956” với giấy phép
đã cấp của Nha Thông Tin Nam Phần.,(*).
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
-(*)
Tập này dầy 232 trang, khổ 21x27, in rô
nê ô, năm 1996, bán 200 đồng/ cuốn
– và tới 1996, nhà phê bình Thượng Sỹ
( 1906- 1997) tặng lại
với hàng chữ nguệch ngoạc”
Kính tặng lại nhà văn Thế Phong, 1996
– Saigon ngày… THƯỢNG SỸ
“…
-Tập này hiện cũng
được lưu giữ tại Cornell University Libraries:
( Southeast Asia Catalog / Volume 6/ Vernacular Monographs : Burma,
Cambodia, Vietnam, Chinese, Japanese * Serials / Asia, Burma,
Cambodia/ G.K.Hall & Co., 70 Lincoln Street, Boston Massachusetts,
1976.(U.S.A.) :
--------------------------------------------------------------------------
WASON
PL
Thế Phong, 1932-
4380
Lược sử văn nghệ
Việt-Nam.. 1965-19
T38+
(Card 2 )
Contents---Continued
tập 4, Nhà văn hậu chiến 1950-1956, --- tập 5.
Tổng luận 1900-1956.
1.Vietnamese literature--- History and
Criticism
II Title.
12
NIC
-----------------------------------------------------------------
-vậy là thư viện
này có gần đủ bộ phê bình văn học của tôi, hình
như chỉ thiếu tập “Lược sử
văn nghệ Vietnam/ Nhà văn khang chiến chủ
lực 1945-1950 +Nhà văn miền Nam: 1945-1950”. Ngoài ra còn
đôi ba ô đóng khung ghi tiểu sử, bút hiệu một tác
giả dùng nhiều bút danh.
: Chẳng hạn ở “
ô khung 1 “ ghi:
-
Đỗ-mạnh-Tường, 1932-
…
Thế-Phong, 1932.
-khung 2
ghi:
Đường-bá-Bổn, 1932-
…
Thế-Phong, 1932- )
- đọc giả biết
được tác giả Thế Phong,
Đường bá Bổn là bút danh của một
tác giả , có tên thật Đỗ mạnh Tường sinh năm 1932-
.
- và một số
ô khác, ghi:
-WASON
PL4389/ N 61Z77 / 1965 - Thế-Phong. Frederick Nietzsche và
chủ nghĩa đi lên con người…
Thẩm định về triết học siêu nhân. ( tái bản lần 2]
[ Saigon, Đời Mới, 1967, 140p.19cm. ( Tủ
sách Đại nam văn hiến).
– 1. Nietzsche, Friedrich Whilhem, 1844-1900. I. Title.
---------
-
WASON / PL4389/ N61Z77 / 1965 / Thế-Phong. Hàn mặc
Tử, Q úach thoại, nhà thơ siêu thoát. Phụ
lục của Quách Tấn.
( In lần 2)]Saigon, nhận định,
Đại Nam Văn hiến [ 1965] / 115p.port. 21cm.
– 1. Nguyễn –trọng-Trí, 1912-1940. 2. Quách-Thoại, 1929-1957.
I. Quách Tấn. II. Title. 117p.
19cm. Contents.---Khu rác ngoại
thành – Con chó liêm sỉ ,---Đêm dài tình
ái.
I. Title .
- WASON / PL43 80 T38 +
Thế-Phong, 1932- Lược sử
văn nghệ Việt Nam / Thế
Phong. Saigon ; Vàng Son. 1965-19 v. 20-33cm.
Vols have imprint : Saigon
: Đại Nam Văn Hiến. Contents
: tập 1. Nhà văn tiền chiến 1930-1945, nhận
định văn học ---
12
---------
-WASON
PL
Thế Phong 1932- Lược sử
văn nghệ Việt Nam.. 1965-19
Contents---Continued
tập 4: Nhà văn hậu chiến 1950-1956,---tập 5.
Tổng luận 1900-1956.
4380
T38+
---------------------------
WASON
PL4389
Thế Phong.-
T38 K5
Nhà văn tác phẩm cuộc đời;
1970
tự sự kể
Đại Ngã [1970]
I. Title.
----------------------------------------------------
WASON
PL 4389
Thế Phong.
N 5615Z7
Nhận diện vóc dáng Nguyễn
Đức Quỳnh; truyện ký. [ tái bản lần 2]
1964-
Saigon, Đại Nam Văn Hiến [ 1964]
1.Nguyễn Đức Quỳnh, 1911-
1. Title.
-----------------------------------------------------------
WASON
Thế Phong, pseud.
PL4389
Nửa đường đi xuống; truyện
T 38N8
[Saigon, Đời Mới, 1968]
518p. 19cm. [tủ
sách đại nam văn hiến]
1. Title.
--------------------------------------------------------------
WASON
Thế Phong,
PL4389
Thủy và T6; truyện [ Saigon]
738T5
Đại Nam Văn-hiến, 1969
143p. 19cm. ( Tủ sách
Đại Nam Văn hiến).
1. Title.
----------------------------------------------------------------
WASON
Thế Phong
J71
Tổ chức chính trị
thế giới. Có phần bình luận. Tựa của Hà
Việt Phương.
T37
[Saigon] Thế
Giới [1956]
Cover title : muốn hiểu chính-trị.
1. Political science .
I Title.
---------------------------------------------------------------------------------
WASON
Thế-Phong, 1932
P14389
Tôi đi dân vệ Mỹ; ký
sự [ của]
T38T6
Đinh Bạch Dân [pseud] . Saigon,
Đại Nam
Văn Hiến, 1967]
95p. 20cm. [ Tủ
sách Đại Nam văn hiến].
1. Title.
WASON
Thế-Phong.
PL 14389
Tuyển truyện. Siagon . Hoa Phương
Đông
T38T8
1963.
155p. 16cm.
1. Title.
1-2 / 23/65 2-3
15/65
----------------------------
-bản tiếng anh, ghi:
-------------------------------
WASON
Thế-Phong, 1932 –
PL 4389
A brief glimpse at the Vietnamese literary scene [ 1900-1956] / Thế
Phong, ---Saigon,
L9+
translated by Đàm Xuân Cận ,---Đại Nam Văn Hiến Books,
1974
1974
42p. 27cm
Translation of Lược sử
văn nghệ Việt nam, Tổng luận 1900-1956, phê
bình.
1.Vietnamese literature --- History and criticism. I.
Đàm Xuân Cận, tr. II. Title.
12
III. Thế Phong,
1932- Lược sử
Văn nghệ Việt Nam
Tổng luận 1900-1956,
NTC
phê bình. Eng
lish.
-----------------------------------------------------------------------
WASON
Thế Phong.
PL 14389
South Vietnam, the baby in the arms of the Amaerivan nurse.
T 38 N2 +
Nam Việt Nam, đứa trẻ thơ của vú
em Huê Kỳ; Translated by Dam Xuan Can.
1969
[ Saigon, DNVH Press [ 1969]
62 1. 26 cm.
English and Vietnamese.
1. Americans in Vietnam ---Poetry, I. His
Nam Việt Nam, đứa trẻ thơ
của vú em Huê Kỳ--
English, II
Đàm-xuân-Cận,tr. III Title.
-----------------------------------------------------------------------------------
WASON
The-Phong, 1932-
PL
The Vietnamese literary scene from 1900 to 1956; by The
Phong.
4380
Translated from the Vietnamese by Dam Xuan Can.
T38
[Saigon; Dai Nam Van Hien Books, 1970]
L 8+
67p. 26cm.
1970
Translation of Luoc su văn nghệ
Việt-Nam, Tổng luận 1900-1956, phê
bình.
Luoc Su Văn nghệ Việt-Nam. Tổng luận 1900-1956, phê
bình . English.
II. Title.
NIC
SbF 08, 174
20 Wal
giám mục… Ngô
Đình Thục, tổng
thống
Diệm, nhà
sách Portail
,
Đại
Nam văn hiến xuất
bản cục,
Khải Triều, Nhật Tiến,
Đỗ Phương Khanh,
Diễm Châu, Phạm Thị Sáng,
Hoàng Trọng Miên, quán sách báo
cô
Nguyệt,
Journal d’
Extrême Orient
,Nguyễn Hiến Lê,
Thanh Hữu, Hoài Thanh,
Vũ
Ngọc Phan, Triều Đẩu, Phạm Phạm,
Đỗ Mạnh Tường, Võ
Văn Trưng…
tạp chí Bách Khoa…
In xong, ngoài việc
gửi cho 30 độc giả mua dài hạn, tôi đem một số sách
ký gửi tại nhà sách Xuân Thu,
( Portail cũ -
do gia nhân gíam mục Ngô Đình Thục mua lại Portail
của Pháp- Cảm ơn Chúa, vô cùng , vì họ nhận
gửi bán và trưng bày sách ngoài tủ kính lớn trông ra
mặt đường Tự Do, ai đi qua đều nhìn thấy,
Nhưng số sách bán ra ít hơn nhiều, nếu so với
sạp bán sách báo của cô NGUYỆT ( góc đường Công Lý
và Lê Lợi Saigon 1).
Ngoài việc ký gửi
sách ra, tôi còn gửi thư tới một số văn hữu quen, báo
tin Đại Nam văn hiến xuất bản cục
do tôi chủ trương, hàng tháng sẽ xuất bản 1 đến 2 cuốn
sách in rô nê ô, yêu cầu mua ủng hộ ( sách dưới
100 trang với ấn phí 30 VNđ, trên 100 trang 50 VNđ
– thư gửi đi, nếu không hồi
âm trong vòng tháng , mặc nhiên văn hữu chấp
nhận mua sách.. Sách , thư
từ, tiền bạc gửi qua Hộp thư
1123 Saigon, Đường bá
Bổn đứng tên quản nhiệm, bưu phiếu
đề tên Đỗ mạnh Tường.).
Con dấu Đại Nam
văn hiến rất lớn, khoảng 7cm x 7cm,- như một thách thức
ngạo mạn so với con dấu khá lớn Phủ Đầu Rồng
của Tổng thống Diệm - ở g dấu, tôi dùng một skectch
của họa sĩ Ngọc Dũng phác họa đôi nam nữ qua vài nét-
hàng chữ ĐẠI NAM VĂN HIẾN, SAIGON VIỆT NAM viền
xung quanh. Hồi đó, thời Đệ nhất Cộng hòa, muốn
khắc dấu phải có Giấy giới thiệu, chẳng hiểu
lý do nào chủ khắc dấu trên đường Nguyễn trung Trực
(Saigon 1) nhận làm mà không đòi Giấy giới thiệu.? Tiền
khắc dấu do thi sĩ Khải Triều (Nguyễn Văn Tuy)
chi trả , còn địa chỉ Đại Nam văn hiến xuất
bản cục đặt tại địa chỉ 504 Hồng Thập Tự (
Saigon 3), buộc phải in trên bìa sách-(nhà
văn Nhật Tiến và
Đỗ Phương Khanh đồng ý cho mượn
)– cũng như sau này chuyển về 201/ 11 Nguyễn Huệ-
Phú Nhuận, được thi sĩ Diễm Châu và phu nhân Phạm Thị
Sáng gật đầu chấp thuận.
Tập 1 “ Nhà
văn tiền chiến 1950-1956” được ký tặng đầu
tiên ngày phát hành gửi tới tạp chí Bách Khoa,
160 Phan Đình Phùng ( Saigon 3), báo Journal d’
Extrême Orient , nhật báo Ngôn Luận, tạp chí
Sinh Lực …- như một tín hiệu thông báo cho
giới báo chí, làng văn Saigon biết. Riêng về quảng
cáo đ8ang hàng ½ trang báo Bách Khoa, chủ biên Lê Ngộc
Châu đăng ròng rã khoảng 16 năm, không lấy một đồng
quảng cáo. Lời cảm ơn muộn tặng Lê Ngộ Châu ,
được ghi trong sách” Nhà văn hậu chiến 1950-1956”
bản giấy nhũ (chưa in ).
Văn hữu đầu tiên
tán đồng nhiệt tình việc in sách rô nê ô , đó là
Nguyễn Hiến Lê.. Thư tay gửi, anh viết: :
”…điều thứ ba:
Sự phán đóan của anh gần hợp với
ý của tôi; phần nhiều những
tác phẩm anh khen thì tôi cũng nhận là
có giá trị, những nhà văn anh chê
thì tôi cũng không thích. Những nhận xét của anh về
Triều Sơn, Hoàng Thu
Đông(Hoàng Trọng Miên- TP chú
thích) đều đúng cả. Anh không nên ghi nhiêu chữ
Pháp quá. Đó là những nhận xét của tôi. Tôi nhắc lại,
tôi phải phục sức đọc, sức viết và
sức nhớ của anh. Cảm ơn anh một lần nữa…”
( thư riêng đề 17/ 4 / 1959).
Nhà văn Thanh
Hữu (bút danh Lê Công Tâm)
viết trên tạp chí Sinh Lực:
“….Có lẽ đã lâu lắm, từ
ngày Hoài Thanh và Vũ
Ngọc Phan ‘ mác xít hóa”
tác phong; bộ môn phê bình cảo luận vắng teo những người”
hướng đạo” cho du khách vào thăm vườn văn nghệ
Việt Nam. Nói như vậy cũng không
có nghĩa rằng, giới” hướng
đạo” cho du khách đã giải nghệ: họ
chỉ lẳng lặng rút lui về một
nhiệm vụ khác tương đối ít trách nhiệm hơn,
điểm sách như chúng tôi đang
điểm sách, một cách tùy hứng trên báo chí, tập san văn
nghệ .(….)
Phi thường vì
chắc không dám bỏ 3 năm cặm cụi bên
đèn để làm một công việc theo
ý tưởng của mình, không một hy vọng mỏng manh hay
một sự tán trợ nào, trong khi công nợ
eo sèo và thêm phận mình nghèo” rớt mùng tơi”.. (….)
Không
đi vào chi tiết; chúng tôi chỉ
muốn đưa ra những ý kiến có
tính cách giới thiệu và tổng luận. Rất có thể
ý kiến của tôi sai lầm hay còn nhiều
điều tôi chưa đề cập. Một
điều đáng quí: anh dám làm. Lại còn dám làm trong suốt
3 năm ròng rã với kiên nhẫn của các cụ
già và lòng hăng hái của tuổi trẻ, dám vượt lên bao
nhiêu trở lực ngổn ngang trong sự
nghèo túng của mình- đó là
một việc làm đầy sĩ khí đáng ca tụng. (….)
Hôm nay Thế
Phong còn có thể có
ít nhiều nhầm lẫn. Nhưng với khả
năng rạt rào của tuổi trẻ, với lòng yêu văn nghệ
đến đam mê, anh còn tiế
nhiều bước đi ngạc nhiên nữa trên lãnh vực này,
để đào xới lại mảnh
đất hoang phê bình cảo luận, bị
bỏ quên trong nhiều năm.
Sự
cố gắng của Thế Phong là
sự cố gắng hoàn toàn văn nghệ, của một người
văn nghệ biết mỉm cười cho chiều
đi văn học sử. (….)
…
đôi lúc Thế Phong phê phán có
vẻ độc tài và tàn nhẫn nữa; nhưng ta vẫn thấy rằng
đó là một sự độc tài và
tàn nhẫn không có tính cách tự
cao, tự đại hay dao to búa lớn gì; mà
nhiều tinh thần thẩm mỹ - dĩ
nhiên là chủ quan nữa. Ta
quí sự nhận thức ấy, vì anh dám nói cũng như những người
dám cãi hay không là quyền của họ…” (….)
( tạp chí
“ Sinh Lực”- chủ nhiệm Võ
Văn Trưng, Saigon 1959).
Nhật báo tiếng Pháp
duy nhất ở Saigon, tờ
Journal d’ Extrême Orient
( sau này tôi mới biết, đó là nhà báo , nhà văn Phạm
Phạm chấp bút) thì anh viết như
thế này :
“…Lược sử văn
nghệ Việtnam, Histoire de la littérature viêtnamienne par Thế
Phong).” Histoire de la littérature vietnamienne,
òu l’auteur passé en revue les
écrivains d’avant guerre 1930-1945. Cette oeuvre tirée sur
ronéo avec une triage limité, fruit de minutieuses recherches et
d’une riche documentation donne une vue d’ensemble
des diverses sépoques et tendances des
écrivains, des poètes du Viet Nam, de leurs oeuvres, d’une
littérature riche de plusieurs millénaires suivant le cours de l’
histoire. C’est une synthèse remarquablement coordonnée, annotée
par le critique literature éminent qu’est Thế
Phong qui l’ achevée dans les derniers jours de Juin 1956.
. ( Jeudi, Décembre
1959 ).
Văn sĩ
nhà báo Triều Đẩu cộng
tác với tạp chí Bách Khoa, cấm cuốn sách phê
bình nhà văn hậu chiến 1950-1956 tới tận 504 Hồng
Thập Tự đòi gặp tác giả. Cô
Chi ( em vợ
nhà văn Nhật Tiến)
thấy một trung niên mặt mày bậm trợn, vẻ
tức giận, đòi gặp Thế Phong, cô
trả lời cách sỗ sàng:”
ông gặp tác giả để làm gì,
ông ấy đi vắng rồi!”
Ít lâu sau trên báo
Bách Khoa , một bài ngắn viết về” Lược sử
văn nghệ Việtnam-Nhà văn hậu chiến 1950-1956”:
“…
Ông Thế Phong vừa cho ra một loạt phê bình văn học.
Đó là điều ai nấy đều mong
đợi, bởi vì sau một thời gian, chưa có
người tiếp tay Vũ Ngọc Phan, chốc
đà đằng đẵng 15 năm trời
– đúng một thời gian luân lạc của cô
Kiều . Ông Thế Phong đã có
thiện chí làm việc tiếp tay
ông Vũ Ngọc Phan, mặc dầu giữa thời
đại đáng lẽ tiến bộ về
mọi phương diện này, ông đã không
được may mắn có những phương tiện
ấn loát và trình bày như Vũ Ngọc Phan, Lỗi
đó nhất định không phải hoàn toàn
ở ông rồi. A ha ! Thời cuộc !...”
(Bách khoa số
56).
Nguyễn- Trần Huân,
Maurice. M. Durand
, Bùi Xuân Bào,
Phạm Xuân Ninh- Hoàng Trinh,
Tô
Kiều Ngân, Bíelinsky,
Nguyễn Đức Sơn - SaoTrên Rừng,
Ý Nhi, Đoàn Thêm,
T.Q.V.,
Đỗ Thích,
Thái Ngọc San,
tạp chí
Sông Hương….
Tôi còn biết thêm được đôi ba chi tiết khác ở
Pháp, nhắc tới bộ sách phê bình văn học này:
- giáo sư Maurice M. Durand và bác sĩ Nguyễn-Trần Huân
trong cuốn” Introduction à la littérature vietnamienne-
tủ sách UNESCO xuất bản năm 1969 ( Paris), ghi chú:”
Lược sử văn nghệ Việt Nam- Histoite sommaire de
la littérature vietnamienne làm tài liệu tham khảo văn học
Việt nam hiện đại. .
-Giáo sư Bùi Xuân
Bào trong cuốn” Le Roman Vietnamien Contemporain, Saigon
1972) dùng cuốn
“ Lược sử văn
nghệ Việt nam-Nhà văn tiền chiến 1930-1945” làm tài
liệu tham khảo’ chính’ luận -án -phụ
tiến sĩ văn chương. ( Sorbonne 1960-1961 ). Dùng cụm từ”
tham-khảo-chính”- bởi ông Bào đã “ đạo”
khá nhiều tư liệu văn học, thoát dịch , đưa vào luận
án tiến sĩ văn chương từ đầu thập niên 60- nhật
báo “ Sóng thần”
thực hiện cuộc phỏng vấn” bỏ túi” phanh phui
chuyện làm nhức đầu đương kim Khoa trưởng Đại học
văn khoa Saigòn dạo nào
. .
Dư luận việc
in rô nê ô làm khó chịu không ít nhà văn. Hí dụ
giám đốc Nha ôp tuyến truyền thanh Saigon, Pham Xuân Ninh
nói thẳng vào mặt tôi - ( khoảng 1961 ở Câu lạc
bộ văn hóa, 142 Tự Do Saigon : “ đại để miền Nam no
ấm, phồn vinh, sao phải in sách rô nê ô, như vậy
làm mất mặt sĩ diện quốc gia là điều khó tránh khỏi?”
Chẳng bao lâu, Phạm Xuân Ninh đi tham dự văn bút
quốc tế - chẳng lẽ chỉ vác bộ mặt trần trụi
dự hội thảo sao? Vậy là tập thơ “ Tiếng hát
tự do” , ký bút danh Hoàng Trinh ra đời- điều đáng
nói tập thơ này in rô-nê- ô.
Vậy thì cổ nhân dạy đâu có sai, chớ”
cười người hôm trước, hôm sau bị
người cười!”
Cũng có văn hữu vin cớ bị nhức đầu mỏi cổ,
rướn mắt đọc sách rô nê ô, soi mói độc địa
hơn ,cho rằng tác giả trẻ tuổi háo danh, chẳng nhà xuất
bản nào thèm in sách , nên phải in rô nê ô.
Khi in sách rô nê ô, tôi đã có vài tựa sách in ty pô xuất
bản: Tình sơn nữ ,( truyện , Saigon 1954), “
Đợi ngày chiến thắng”, (truyện ,Saigon 1955), Muốn
hiểu chính trị ( Saigon 195.5)
Một văn hữu khác, rất nhiều tài” vặt”, viết
truyện cũng được, làm báo chẳng kém ai, ngâm thơ,
thổi sáo được trả cachet cao , viết báo được
mời đòi trả nhuận bút sộp, chế độ lính
tráng thì từ lính lác leo tới cấp tá-
tuy chưa đứng hàng” văn thám gia nô” , nhưng ngón
nghề trị” bọn văn chương làm loạn” giao cho anh ta thì
đàn áp rất hiệu quả ! Đó là Tô kiều Ngân, có một
lần nói với tội:
:” .. sao TP ra được
nhiều sách rô nê ô thế! Chẳng cần phải
sai phái bọn viết báo” gia nô” viết chửi bới
làm gì cho tốn giấy mực, cứ tòm thằng cha
nào cung cấp giấy stencil , giấy in duplicateur
là xong ngay! “
Cũng có khi túng tiền
mua giấy stencil, cả thức ăn hàng ngày, tôi tới
nhà, dạm hỏi Nguyễn hiến Lê có chịu mua sách quí hiếm
không? Anh gật đầu , tôi đem “ Textes philosophiques”
của Biélinsky (Nhà
xuất bản ngoại văn Mạc tư Khoa ấn hành)
gả bán, bây giờ không thể nhớ là được anh trả bao
nhiêu?
Lúc này Sao Trên Rừng
đến xin ở với tôi, anh em thổi cơm, đun
nước, quét nhà , ta đều chung nhau gánh vác, kể cả gạo
hết thì tôi phải xoay mua gạo bằng được đổ đầy
khạp. Tôi rất ngại khi đi vay tiền, hoặc phải cấm tiền
của bạn bè- vậy là tôi nhờ Sao Trên Rừng cầm sách
Bíelinsky , kèm thư gửi ông Lê ở 123/ 3C Kỳ Đồng;
dặn Sơn rất kỹ, nhớ cầm tiền về cho đủ.
Ít lâu sau, ông Lê
viết thư hỏi, đã bán sách rồi ,còn hỏi vay thêm tiền,
mà sao không thấy đề cập trong thư? Ông khen tập
thơ in rô nê ô” Những bài tình
đầu” của tác giả trẻ Sao Trên Rừng , khá nhiều
ý tưởng mới- nhưng” anh xác
định là vay thêm tiền thì tôi mới
đưa!”.
Chẳng còn nghi ngờ gì nữa, ‘ thi sĩ Đoàn
Thêm” cũng từng nhắc khéo, có
anh bạn trẻ cầm thư tới, nhân danh em của
Thế Phong đòi vay tiền.” Chàng đổng lý Phủ Tổng
thống xem ra thạo đời, biên thư hỏi lại, xác định đúng,
thì món tiền vay sẽ được trao ngay!Tuy không vay tiền,
tôi vẫn chịu ơn “ tay nhà
giàu làm thơ thì chau chuốt, dịch sách rất
hoàn hảo , biên khảo thật giá
trị’- sau giải phóng, một vị đã qua đời đã
mượn tạm sách khảo luận của Đoàn Thêm
đưa vào tác phẩm. Một bài báo nhỏ ‘ bóc trần”
vụ này, vị’ đạo văn” can đảm nhận , nhưng
đổ tội cho con gái làm ở thư viện quên ghi chú thích
. Quả:” ở đời muôn sự
của chung / có hay là đã biết dùng hay không ?”- “
Nghĩa tử nghĩa tận”, ông ấy qua đời , nên xin chỉ
ghi tắt tên ‘ đạo văn” kia là T.Q.V v. Lại còn một
tay nữa, trẻ hơn, háo thắng, ngông nghênh, hãy còn sống
,viết biên khảo , sách luận về phê bình văn học (cuộc sống
ngông nghênh chẳng kém gì văn chương)
đã từng “ đạo sách dịch Đoàn Thêm” làm của riêng.
Tôi nhớ anh ta mang họ Đỗ, không hiểu có phải cùng tổ
tông Đỗ Thích không ? - nhưng cùng họ Đỗ với tôi là
điều chắc chắn.
Tôi rất giận Sao
Trên Rừng- khi Đại Nam văn hiến mới in xong tập
thơ cho cậu ấy- tiền nợ nhà in rô nê ô chưa trả
xong, mà cậu ấy làm vậy thì chẳng ra sao cả. Cậu
về tới nhà là leo lên cây trứng cá phía trước sân,
tay ngắt trái chin , tay kia lùa vào miệng nhóp
nhép , nhằn hột rất khéo léo . Mời cậu xuống
hỏi chuyện một chút, hỏi thẳng cậu cầm thư tôi tới
ông lê, ông thêm, saio cậu lại nhân danh em của thế
Phong vay thêm tiền, nhưng chưa kịp viết trong thjư
tay? Cậu rất can đảm, gật đầu; tôi vốn nóng tính,
bợp tại một cái, phán : “ … hai chục năm sau hãy
trở lại gặp tôi”
. Tới thập niên 90, tôi
mới gặp lại Nguyễn Đức Sơn ( Sao Trên Rừng) ở
Chi nhánh Hội nhà văn tại phía Nam- nữ thi sĩ Ý Nhi
, hình như biết chuyện xưa kia tôi từng bạt tai STR, chị
cười cười giới thiệu,::”.. hai anh
bắt tay nhau đi, vì bây giờ
mới có cơ hội gặp lại, phải không
? ”. Đành gật đầu vui vẻ ,bắt tay thân thiên , tuyệt
nhiên không nhắc chuyện xưa- tuy vậy , trước đó , tôi
đã đọc một bài viết về ‘ cái bạt tai mà
Nguyễn Đức Sơn phải gánh chịu, từ
bàn tay hộ pháp Thế Phong, từ
trước giải phóng”- do văn hữu trẻ “ nằm vùng”
Thái Ngọc San viết trên tạp chí “ Sông Hương”(
Huế) dạo nào !
…
Cao Mỵ Nhân, Phan Văn Thức,
Bùi Tiến Khôi- Huy Lực,
Diễm Châu – Phạm Văn Rao ,
Thiết Tố-Đinh Hoàng Trọng,
Vị
Ý, Phạm Văn Sơn ,Mai Thảo,
Trần Dần, Phùng
Quán,
Văn Nguyên Dưỡng,
Ninh Chữ,
Cao Thế
Dung, R. Tagore,
Kiều Thệ
Thủy,Phan Nghị,
Hoài Khanh,
tổng thống Diệm,
Trần Trọng Phủ,
Triều Đẩu,
Nhị
Thu, Đào Minh Lượng,
Bùi Khải Nguyên,Uyên Thao,
Liên Hoàn,
Khải Triều, Yvor Winter,
Jaques Prévert,
Nguiễn Ngu Í,
sạp sách báo cô
Nguyệt,
tạp chí
Văn Mới, Trình bày , Sáng tạo…
Từ 1961 trở
đi đến 1963 , in được nhiều tác phẩm rô nê ô,
nào” Những bài tình đầu” / Sao Trên Rừng, “
Thơ Mỵ / Cao Mỵ Nhân , Người
đàn bà không tóc/ Thế Phong , 11 nhà
thơ mới nhất hôm nay/ Đường Bá Bổn, Nhận diện
vóc dáng Nguyễn Đức Quỳnh / Thế Phong, và hai , ba tập
thơ của Thiết Tố (Đinh Hoàng Trọng).,Năm chương tự
ngôn (hối ức Triều Đẩu), Sau 20 năm ( hồi
ký lịch sử của Mai Lâm -Nguyễn Đắc Lộc., Hồi
chuông tắt lửa / Thế Nguyên , Miền lưu
đầy / thơ Ninh Chữ , Vun xới vườn tình/ thơ
R. Tagore- Liên Hoàn dịch, vv..
Văn hữu thường tới
thăm tôi ở xóm đạo Tân sa Châu khi ấy là
thi sĩ Hoài Khanh từ Biên Hòa về, Cao Thế Dung, Khải
Triều, Uyên Thao, Nhị Thu , Cao Mỵ Nhân , Đào Minh Lượng,
Triệu Bá Thiệp , Vị Ý, Thế Nguyên, Diễm Châu, Kiều
Thệ Thủy, vv…
Còn vài ân nhân nữa
cấp stencil và giấy in rô nê ô - nhiều nhất là giám
đốc Phan Văn Thức tòng sự tại Bộ Canh Nông, 58 Nguyễn
Bỉnh Khiêm ( Saigon 1), sếp của kỹ sư Bùi Tiến
Khôi (anh làm thơ ký Huy Lực) . Đôi lần tôi lai tìm sếp
thức, nếu không gặp, kỹ sư Khôi thường giắt tôi
xuống căng tin uống cà phê.
Một sĩ quan cấp
tá khác, chỉ huy trưởng trường Quân báo Cây Mai thường
sai trung úy tùy viên Nguyễn văn Dưỡng (thi
sĩ Văn Nguyên Dưỡng , tác giả
một thi tập rất độc
đáo) đem tặng
tôi hàng chục ram giấy duplicateur. Phải cảm ơn ân
nhân thôi, đó là soạn giả” Việt sử
tân biên” , tập đầu có` tựa của giáo sư Nguyễn
Đăng Thục.
Nhóm tạp chí
“ Văn Mới” của Thế Nguyên, Diễm Châu-
Phạm văn Rao trước 1963- tiền thân nhóm “Trình bày”
(sau 196 của Tổng thống Ngô Đình Diệm.
Mời cùng đọc một bài
viết Trần Trọng Phủ đăng trên” Văn Mới” số
2:
“….. Không”
Sáng tạo”, không” Bách Khoa”
, nhóm thanh niên rất gần Tô
thùy Yên; qua những tạp chí “ Sinh Lực”
‘ Sống” (Ngô Trọng Hiếu chủ nhiệm) và trong những
ngày gần đây qua loại sách quay rô nê
ô của” Sùng chính viện”
do Uyên Thao chủ trương và”
Đại Nam văn hiến” do Thế
Phong làm chủ biên đã đòi hỏi sự
chú ý của những người yêu Thơ. Một sự
đòi hỏi chính đáng.
Tủ
sách” Sùng chính viện”
của Uyên Thao giới thiệu Nhị
Thu với” Mây Hà Nội”, Hoàng Nguyên tức
Bùi Bình Hiếu với” Thiết tha”,
Đào Minh Lượng với” Vô cùng” và Thế Phong với
“ Sai Biệt”… thì ngưng hoạt
động.
Thế
Phong vốn sẵn dùng phương tiện”
ronéotypé” này từ trước, nay lại tiếp tay với Uyên
Thao trong loại sách” Sùng chính viện”, khổ
nhỏ hơn những tác phẩm trước do”
Đại Nam văn hiến”, cho quay ronéo rẻ
hơn qua những thi phẩm mà Uyên Thao cho ra
đời- Thế Phong giới thiệu chính mình qua”
Vương miện Mai- A”, và giới thiệu Cao Mỵ
Nhân qua” Thơ Mỵ”..
Những tập thơ” Mây
Hà Nội”, “Thiết Tha”, và ”Vô cùng” hiện nay
rất khó kiếm. Bạn đọc có
thể có một ý niệm sâu rộng về” Mây Hà
Nội” và “ Vô cùng”, hiện nay rất khó
kiếm. Bạn đọc có thể có
một ý niệm sâu rộng về “
Mây Hà Nội” và” Vô cùng”, qua nhận
định của Thế Phong- Đường Bá Bổn / Mưới
hai nhà thơ mới nhất hôm nay”:
“…” Mây Hà Nội”
gồm những bai thơ lục bát, năm chữ, thơ
mới. Tuy có mang đề tài bất khuất với xây dựng cuộc
sống mới cách mạng, nhưng kỹ
thuật quá hiền lành, âm thanh, từ
ngữ tròn trịa kiểu thơ tiền chiến.
“ Vô cùng” của
Đào Minh Lượng hùng hồn hơn, xác
định vị trí một người trí` thức trẻ
tuổi mang trong mình hoài bão, cũng như
nỗi thống khổ của cuộc sống hiện tại. Tâm trạng
Đào Minh Lượng dẫn ông tới tư
tưởng siêu hình rất dễ dàng,(nhưng)
kỹ thuật đặc sệt lối viết thơ
Jacques Prévert. Còn ý tứ thơ
cũng chưa vô cùng đủ…….
(nhưng dầu sao) .“ Vô cùng” ( vẫn)
là một trong những tập thơ
đáng được tìm đọc nhất hôm nay…”
Còn
ông Hoàng Nguyên- Bùi Khải Nguyên với
tập” Thiết tha”, đã cho người
đọc thấy rõ tâm hồn tha thiết tác giả
đối với cuộc sống lý tưởng, tình yêu và
xã hội. Từ những bài
đầu tha thiết như “ Tóc mun”
, ông đã đưa người đọc vào một thế
giới của nổi loạn. Màu sắc xã
hội rõ rệt nhất trong nhà thơ
này là tập”
Thiết tha”.
Tuy vậy,
ở một vài bài, Bùi Khải Nguyên quá
lộ liễu, khiến ngưới
đọc có cảm nghĩ là ông tuyên ngôn thơ nhiều quá.
Những bài thơ ghi lại kinh nghiệm
đớn đau , uất hận, cũng là
cách giãi bày như” Ẩn ức” có sức chiêu dụ tột
độ…
Đến Thế Phong,
một tiểu thuyết gia cách mạng lãng mạn của Hà Nội 1948-1954,
một cây bút bình luận dưới bút hiệu
Đường Bá Bổn, một người hoạt
động vô cùng, tưởng như anh hùng không biết thấm mệt
;trong mấy năm gần đây ở Saigon, còn là
một nhà thơ. “ Thơ” và” Sách”
của ông từ giai đoạn ông viết LƯỢC SỬ
VĂN NGHỆ VIỆTNAM tới nay đều
đưiợc quay ronéo. Việc quay ronéo này không có
gì lạ ở ngoại quốc, như ở
Mỹ chẳng hạn, thi sĩ kiêm phê
bình gia Yvor Winters quay tờ báo”
The Gyrocope” bằng ronéo. Từ
đó (ở Saigon) việc quay bằng ronéo, chỉ
thấy ở Thế Phong- Đường Bá Bổn là
tha thiết hơn cả. In với giá
bán 100 đồng, 200 đồng- một tác phẩm quảng cáo không
công cho những hãng kính thuốc ! Tới nay,
ông nghiên cứu quay những tập ronéo, với những mẫu bìa
hấp dẫn hơn, và gía rẻ hơn; thì
kết quả có phần khả quan hơn trước. Chúng tôi
được một người bạn của Thế
Phong tiết lộ: “ ít lâu nay con số
các thi nhân mới tìm tới Thế
Phong cậy in tác phẩm ngày càng
đông.”
Thế
Phong đã cho quay ba tập thơ
tất cả:” Nếu anh có
em là vợ”, “Sai biệt”,”
Vương miện Mai A”. Thế Phong
đối với cách mạng, với những hoài bão
xây dựng lại cuộc đời. Và
cuộc đời nhược tiểu được sắp xếp lại, theo nhà
thơ, thì:
“…Nhân loại ấy anh có em là vợ
con nhà cách mạng chính trị
gia
và khi ấy hai ta
anh và em
chúng ta trẩy hội
chúng ta ra biển cả
chúng ta lên rừng khơi
chúng ta khắc thơ lên
đá
em mỉm cười
nhìn nhân loại đại đồng…”
Giai
đoạn 1959 này (chịu) ảnh hưởng Trần Dần, Phùng Quán.
Chúng tôi bỏ qua thi phẩm”
Sai biệt”
(chúng tôi mới có
dịp lướt qua, nên chưa
đủ thâu nhận một thi phẩm hiện nay không thề
kiếm( ra) được).
“ Vương miện Mai A”
là thi phẩm thứ 3 của Thế
Phong, không phải là lối thơ
của nhóm” Sáng tạo”, nó
chẳng khác gì về sự tước bỏ
niêm luật; nhưng khác ở chỗ
ý tứ. Gay gắt hơn, thấm thía hơn, tha thiết và
đậm tin tưởng ở tương lai,
ở cuộc đời hơn. (Bởi) Thế
Phong vẫn tự hào là cách mạng
đến xương tủy –trong thời gian giao tiếp với một
lãnh tụ văn nghệ ở đây,
(nói
về Nguyễn Đức Quỳnh, chủ
soái” Đàm trường viễn kiến
“ - TP chú thích)
Thế Phong mang thêm trong thơ ý
tưởng đập phá, với cái lối coi con người như
một phương tiện.
Mối tình
của Thế Phong với một nữ
sĩ hiện nay đã xuất ngoại
cũng khiến ông viết được mấy bài thơ
cảm động (
nói về nữ văn sĩ Linh Bảo- không cần phải che giấu
nữa, bởi Tạ Tỵ đã viết ra rồi- TP chú
thích) , Hãy
tim đọc” Dạy dỗ” trong”
Vương miện Mai A” để thấy cái khí
phách và nhân bản tính ở một cá
nhân đầy rẫy điều tiếng như
Thế Phong- Đường Bá Bổn.
Đừng đòi hỏi ‘ thơ”
ở Thế Phong.
Hãy coi
ông làm cách mạng.
Nhà
thơ được Thế Phong giới thiệu trong”
Loại sách “ Đại Nam văn hiến”
là cô Cao Mỵ Nhân.
Thực ra, tập “Thơ MỴ” này, Uyên Thao
đã định in ở” Sùng chính viện”. Nay Thế
Phong lựa lọc những bài thơ
mà ông cho là hay nhất của cô
Cao Mỵ Nhân để trình bày với
độc giả. (*)
“Thơ MỴ” in rõ
những nét đời sống của cô. Những bài lục bát của
cô mạnh dạn như thơ của nam giới, cô còn viết những
bài thơ kiểu tiền chiến nói về
cây cỏ, đất nước, tình yêu.
“Cây cỏ”,” đất nước”…
được nhìn qua con mắt hướng
đạo viên. Tình yêu thì nhỏ nhẹ, tha thiết, nhưng
đôi lúc len vào một thoáng hoài nghi và lắm khi lại xen
cả những tình ý bạo dạn, liều lĩnh.
Đôi khi thơ cô có điệu già
nua, vay mượn. Tưởng thế
thôi, chứ đọc tiếp, ta vẫn lại phải nhìn nhận rằng
những nét già nua chỉ là thoáng bắt, và
diễn tả lý thú hơn cả tính
độc lập trong cuộc sống của Cao Mỵ
Nhân.
Tóm lại,
“ Thơ MỴ” giản dị,
đáng yêu”[]
TRẦN TRỌNG PHỦ
(**)
(*) THƠ
MỴ, Đại Nam văn hiến, Saigon 1961.
(**) TRẦN TRỌNG PHỦ
là bút hiệu chung 2 người: THẾ
NGUYÊN và DIỄM CHÂU- bài viết thường
đăng trên tạp chí VĂN MỚI ( trước 1963), từ
1970 trên tạp chí” Trình bày”
,’ Đất Nước”…vv Khi tác phẩm
“ NGHĨ GÌ?” do Nxb Trình bày xuất bản, chính Thế
Nguyên ký tên trên sách
đề tặng tôi. Riêng bài viết trên
đây (Văn Mới) , tôi tin chắc
đó là bút pháp của Diễm Châu hơn là Thế Nguyên.
(TP chú
thích).
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Năm 1962 tôi cho xuất
bản tập thơ” Cho thuê
bản thân” (in ronéo, không xin cấp phép), phổ biến
hẹp trong anh em văn nghệ- tuy nhiên một số
bản vẫn gửi bán ngoài phố; duy nhất
ở sạp bán sách, báo của Cô
Nguyệt dám nhận(
ngã tư Lê Lợi + Công Lý, trước của Pharmacie Diệu Tâm
- , Saigon 1)
– có một cuốn bán rất chạy,
đó là” Nhận diện vóc dáng Nguyễn Đức Quỳnh”.
Sách in chừng 100 cuốn,
bán hết vèo, cô Nguyệt
đòi giao thêm – mà
tôi lại chưa dám trở lại tiệm Ronéo in tiếp- vì
tôi nhớ rõ ngày phát hành là
ngày 19 tháng 5 năm 1963- từ
khi tôi đem sách từ nhà in về, chở trên chiêc xe hơi
Hillman cà tàng của Đào Minh Lượng;
đến đoạn đường tàu nằm trên
đường Võ Tánh thì bị cảnh sát
ách lại tra hỏi giấy tờ. Thường ra và các ngày
lễ 19/5/ 19 tháng 8, hoặc 2 tháng 9 vv…- ngày lễ
phía bên kia- lính thì bị cấm trại, cấm quân; còn dân
chúng ra đường thường bị
ách lại kiểm tra giấy tờ. Cũng may lần này, Tòa Lượng
chở sách in ronéo không giấy tay
chào, cung kính mời thẩm phán
Đào Minh Lượng lên xe, không cần khám xét nữa.
Hú vía thật rồi !
Giả
thiết thôi nhé, nếu tôi chở
đi một mình, bữa ấy chắc chắn sẽ
cùng 100 cuốn ” Nhận diện vóc dáng
Nguyễn Đức Quỳnh” vào Tổng Nha Cảnh Sát là
điều khó tránh khỏi!
Lại nhớ
có lần, tôi tới chỗ
quầy báo cô Nguyệt nhận tiền bán sách; cô
cho biết- một ông i
có dáng dong dỏng cao, mặt dài như
mặt ngựa, ăn vận lại chỉnh tề,
đi bộ, tay cầm chìa khóa xe hơi tung tẩy, ghé
quán báo, cầm cuốn” Nguyễn
Đức Quỳnh” ngắm nghía, kêu gói lại, xong rồi ton ton
cầm đi một mạch. Không thấy khách trả
tiền, cô Nguyệt ới lại, chưa kịp
đòi, thì ông khách cười cười, nói:
- Cô
không biết tôi là ai à ? Không phải tôi không có
tiền trả hay là quên không trả
tiền đâu, “ thằng tác giả
“ này nợ tôi nhiều lắm. Cứ
nói rằng nhà văn Mai Thảo lấy một cuốn
, anh ta biết ngay tôi là
ai thôi ?
- Cô
Nguyệt hỏi tôi :
- Vậy chú
có biết ông ấy không? Tên Thảo
… Mai chi đó..
- không phải
Thảo Mai đi bán tơ đâu?. Chủ
nợ của tôi đấy , vì từ 1955,
ông ta cho mượn một chiếc máy chữ
cũ xì Remington đánh bản thảo. Tôi không trả
máy, đem tới tiệm cầm đồ
lấy tiền
“ mua cơm xã hội”! Cô cứ
việc trừ tiền cuốn ấy nhé.
Tòa Lượng
vừa lái xe, vừa nói bâng quơ:
“ … thằng cha này giàu lắm,
“ tiền cho gái rất “
sộp”, còn mua sách có 50 đồng , bủn xỉ lại
mua thiếu ?
Nhà
báo Phan Nghị viết điểm sách trên báo
“ Mới” (ngày 18/3/1963), viết thế
này:
- “…Cuốn”Nhận
diện vóc dáng Nguyễn Đức Quỳnh” chỉ là một bản
thảo in rô-nê-ô như tất cả
những cuốn từ trước tới nay do Thế
Phong tự xuất bản: “ dạy học được đồng nào bỏ
ra in sách hết”. Đọc”
Nhân diện vóc dáng Nguyễn Đức Quỳnh”,người ta có
cái khoái, là biết được rất nhiều cái sự
bí mật về nhóm Hàn Thuyên và
tên mật thám Cút- Xô, về ông Nguyễn
Đức Quỳnh, người khác mệnh danh là”
tay phù thủy văn nghệ” và nhiều thứ vv… khác;
nó là mối tương quan giữa ông Quỳnh và các tay tổ văn
nghệ khác ở Saigon.
- Cuốn”
Nhận diện vóc dáng Nguyễn Đức Quỳnh” chỉ in
100 số. Thiên hạ thi nhau
đọc và mượn loạn cả lên.”[]
- một tập thơ
khác của tôi được tác giả”
Khi người chết trở về” bình:
“….
…” CHO THUÊ BẢN THÂN”- Thế
Phong – Đại Nam văn hiến xuất bản cục
, Saigon 1962- 28 trang in rô-nê-ô- khổ
21x 26- Giá 50 đồng.
Hai mươi tám bài thơ, nhưng mà
đọc từ bài đầu đến bài cuối, hai mươi tờ
thơ in rô-nê-ô này chiếm thì
giờ người đọc bằng cả
trăm bài thơ in ty-pô.
Ấy là với tập thơ
này, kĩ thuật đánh máy và
quay rô-nê-ô của tác giả, kiêm giám
đốc, kiêm người chạy giấy của
Đại Nam văn hiến xuất bản cục
đã tiến bộ nhiều lắm rồi.
Nhưng có
ai chê trách chi nhà xuất bản, có
ai chê trách tác giả, khi mà
lòng say mê Nghệ Thuật và
ý chí trình diện những
đứa con tinh thần của chính mình, của các bạn thân mình
nó thiết tha đến nỗi không nề
lỗ lã, chẳng ngại chê cười, cứ
hàng năm, lại có vài tập hoặc thơ, hoặc truyện,
hoặc khảo luận ra đời với phương tiện thủ
công, với cái bề ngoài bà con nghèo, và
cứ thế đều đặn đã mấy năm nay.
Và
nay, trong tập thơ mới nhất của Thế
Phong, chúng ta thấy càng rõ
dấu vết của cuộc đời lạ
lùng, chật vật cùng những ý
tưởng không giống người của tác giả, thì
âu đó cũng là điều quá dĩ
nhiên.
Và
những ai thích thơ Đường luật, từng mê
thể lục bát… cho rằng thơ
phải du dương, phải dễ hiểu thì
xin đừng tìm đến Thế Phong. Vì
chắc chắn rằng các bạn ấy sẽ
bỏ cuộc sau ba bài !
Xin chớ
tưởng rằng đây là văn xuôi, tuy trong
Cho Thuê Bản Thân cũng có
đôi bài không có lấy một vần, hoặc rõ
ràng; hẳn là văn xuôi đi mất ( rồi), như bài” Chàng
ơi! Chàng đừng quên em !”.
Nhưng thơ
Thế Phong là một thứ
ngựa rừng, đã không chịu mang yên, ngậm vàm, mà
lại thây kệ những con đường mòn có
sẵn.
Mời các bạn
hãy đọc qua một bài thơ mà
tác giả chọn làm tên cho toàn tập :
“ Ngày hôm nay sao dài dằng dặc
tám tiếng đồng hồ làm quần quật chưa
đủ kiếm cơm
vì anh tin công việc làm còn phải mạng”
đăng ten”
đôi giầy da Thụy Sỹ vẫn cần xi
đánh bóng
thiếu tiền mua tặng nem chiếc
áo bông màu
một con búp bê quà sinh nhật tặng sinh nhật con gái
đầu lòng
mà đêm qua em không nói…
anh hiểu nó tủi thân khóc miết..”[]
Bản thân nhà
thơ , buồn, cực, chẳng ra gì,
gần như bất lực; thì Thế
Phong có cho ai thuê đi, ta cũng chẳng lạ; nhưng mà
còn Nguyễn Du, vì sao Thế Phong lại cho thuê
đi nốt vị thi hào khả kính dân Việt ?
“…. Tôi hy vọng học trò
không bằng lòng lời tôi khen giảng
áo cổ cồn thắt vòng cổ
tôi đấm tôi trong gương soi
cho thuê Nguyễn Du
sự cần thiết không lấy bồi thường
thì
ra tác giả đem Nguyễn Du ta giảng giải cho học trò,
và thấy rằng Nguiyễn Du không xứng
đáng:
….tôi khinh tôi ra mặt chót khen tràn cổ
nhân
tôi phỉ nhổ tôi thực sự phê
bình Kiều danh tiếng
trong văn học sử tôi sổ
toẹt tên thi hào vỏ
chỉ đại diện cho một góc cạnh nhìn
đời nho nhỏ…
(Cho thuê
Nguyễn Du)
Thơ
Thế Phong thiếu nhạc, thiếu cả
tiết điệu, do đó
khổ đọc là điều ta phải chiu khi muốn làm quen với
thơ Thế Phong. Nhưng độ sống lắm chiều của tác giả,
những ý tưởng ngược đời của người thơ cũng phản
ảnh được cái gì của cái thời hỗn tạp hậu chiến.
Trắng trợn, sỗ
sàng, tàn nhẫn, ta đều thấy
đó đây trong thơ Thế
Phong; nhưng sự chân thành, không bao giờ
vắng mặt. Âu đó cũng là
một điều đáng kể cho người tự
cho mình là kẻ bị lưu đày:
“ Tôi mang sự
lưu đày tù ngục giam trong
đôi ngươi
ra đường mình kẻ xa lạ mọi người
khi bản án chung thân tự
mình ký nhận
khi chán chường không thể
bộc lộ cho đời…”
Một nhân vật tự
lưu đày của J. Paul Sartre (
Frank trong Les Séquestrés d’ Altona ) khi ngồi
trong phòng kín, thường lên tiếng trần tình trước một
bầy cua. Nhân vật đó tự
dối mình, dối người, dối cả
bầy cua, là những sinh vật duy nhất chịu nghe những lời
lảm nhảm. Thế Phong cũng tự
cho mình là người tự lưu đày. E sợ
người đồng thời không hiểu nổi mình, anh xoay lưng lại
cuộc đời, ghi lấy thi thần,
để giãi bày những từ khước, những chối cãi, những
phủ nhận, những mộng ảo…
Kể
ra làm thi thần của kẻ
tự lưu đày cũng là
điều khổ hạnh lắm thay !
“[]
NGUYỄN NGU
Í
( trích báo” Tin sách”
( Saigon) / chủ nhiệm:
Nguyễn Ngọc Linh, số tháng 10 / 1962)
Tác giả
“ Thơ điên”, truyện”
Khi người chết trở về”, sách biên khảo” Sống
& Viết” với… “ ký
Nguiễn Ngu Í (*)”-
anh nhắn tin , lại còn muốn
được phỏng vấn thêm một lần nữa
– hình như tôi từ chối –
thật sự vì không thể trả
lời; vì đã không còn ý định tiếp tục viết
“ Có một nền văn nghệ
Việtnam trong tương lai ?”- mà
độc địa thay, thiện ý chót loan tin vội vã
tới bạn bè, báo chí- quả thật
đây là một điều dại dột không tưởng ?! Cúi
đầu xin lỗi bạn văn, cả
bạn thù, và bạn đọc thân mến !
Xóm đạo Tân Sa Châu- Saigon-
đầu tháng 2 / 1962.
(- đọc lại có sửa chữa, bổ
sung).
THẾPHONG.
(*) Nguiễn Ngu
Í( 1921-1979 Saigon). Tên thật
Nguyễn Hữu Ngư, quê quán: Hàm Tân,
tỉnh Bình Thuận. Các bút danh khác: Nghe Bá
Lý, Trần Hồng Hùng …Học trường Pétrus Ký
Saigon, và năm 1942 đã cộng tác
với” Nam Kỳ Khởi Nghĩa”
(chủ nhiệm: Hồ Biểu Chánh),”
Phương Đông” 1954 (chủ
nhiệm: Hồ Hữu Tường)(Saigon) vv…Tác phẩm chính:
“ Khi người chết có mặt”,( Saigon 1962),
“ Sống và viết với…” ( Saigon 1966),
“ Hồ Thơm-Nguyễn Huệ / Quang Trung”
( Saigon 1967),” Có những bài thơ” ( Saigon 1972,”
Khi người chết trở về” vv…
Thái Tú
Hạp, chủ nhiệm báo Saigon Times (Huê
Kỳ) nhận xét về Nguiễn Ngu
Í :
”…Trước thời
điểm lịch sử đầy nghiệt ngã,
đau thương 1975 – trong những sinh hoạt văn nghệ gây nhiều
chấn động bất thường nhất
ở miền Nam, là hiện tượng Nguiễn Ngu I , Nguyễn
Đức Sơn (Sao Trên Rừng), Thế
Phong và Bùi Giáng…”
(Thái Tú Hạp / Giang sơn một gánh dị
thường / web Xứ Quảng. com / Sunday, 22 May 2005).
---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
(trích lại từ “
Hiện tình văn nghệ miền Nam: 1957-1961 / Thế
Phong / Đại Nam văn hiến xb, Saigon 1962)
.. Phạm Duy, Phạm
Quang Huyến, Hoàng Trọng Miên, linh
mục Mai Ngọc
Khuê,
Cao Thế
Dung, kịch
sĩ Năm
Châu, Thế Phong, báo Tiếng Dân,
Cũng khó quên
‘ kẻ thù ta đâu có phải là
người” , nói như Phạm Duy- ấy là một cách
không quên tác giả Hoàng Trọng Miên, soạn giả”
Việt Nam Văn học toàn thư” , bị lên đoạn đầu đài
tội ” đạo văn” , khi tôi viết bài lên án trên
báo “Văn hóa Á châu”- anh ta trả thù ,bằng cách
viết bài trên báo” Văn hữu” – lên án việc
in ảnh thật lớn trên bìa sách , là có thâm ý, chẳng
hạn khi bị đưa đi ” chỉnh huấn” thì có
kẻ thương nhớ nhìn thấy mặt. Hình như phong
trào in ảnh lớn trên bìa tác phẩm chưa ai hơn tôi , thời
Đệ nhất Cộng hòa Tổng thống Diệm- nếu so
sánh, ảnh in trên bìa sách , họa chăng chỉ thua bích -chương
- ảnh các vị dân biểu, thượng nghị sĩ dán la liệt trên
tường , mỗi lần tranh cử mà thôi. Có lần tôi đã nhắc
chuyện nhật báo ” Tiếng Dân”,
trung tá Nguyễn văn Châu chủ nhiệm, loan tin 2 cột trang
1: kịch sĩ Năm Châu , nhà
văn Thế Phong bị đưa
đi chỉnh huấn tại Vĩnh Long”- bản tin tiếng Pháp,
Anh, Việt / ViêtNamsố 4019 ra n đề ngày 23/3/1963 đính
chính :
“D’après le journal
“Tiếng Dân” lancé la nouvelle que l’essayiste Thế
Phong est actuellement détenu par les autorités Vietnamiennes pour
lavage de cerveau. Les mensonges des communistes ont fait long feu
“ Tiếng Dân” souligne que le monde peut voir Thế
Phong dans ses promenades journalìeres rues Lê
Lợi et Tự Do….”.
Đó là năm 1961, khi tôi
đang thuê nhà ở xóm đạo Tân Sa Châu, cha xứ nhà thờ,
linh mục Mai Ngọc Khuê vẫn thường mặc áo choàng đen đi
bộ qua nhà trọ tôi, thuộc địa hạt
Ngài cai quản Tiếp tục ở đây được vài tháng nữa,
đã 3 tháng không trả tiền thuê nhà. Không một nơi
nào đăng bài để có tiền độ nhật, tôi bị
đẩy vào thế bí nhất- người yêu đã mang lon chuẩn úy
ra trường, đổi đi miền Lục tỉnh- thôi thì đành
phải trốn thôi. Bó thư tình của người yêu
xem chừng nặng tới ba ký, gọi bán ve chai thì không
nỡ- tôi đem thư ra gốc cây trứng cá đốt, chừng
đâu cả nửa tiếng đồng hồ, bỗng một cơn gió lốc
thổi ào tới báo mưa giông, than mỏng thư tình bay
tỏa khắp vườn.
Cũng đành phải giã từ
xóm đạo Tân Sa Châu - , thôi thì đành bỏ lại nơi nhà thuê
tủ quần áo, sách vở - sáng mai mua vé xe đò
trực chỉ về Bà Rịa, nơi ẩn trú tạm thời tại
nhà bà cô ruột, chú dượng ở. Bà Rịa vậy.
Thời kỳ in sách rô-
nê ô đã không phép, lại còn gửi tặng sếp thông
tin , thật chẳng khác gì:”
lạy ông tôi ở bụi này”- vì thế một công văn
khẩn từ Nha Tổng Giám đốc Thông tin trực thuộc Bộ
Công Dân Vụ gửi tới - đề ngày 10/ 7/ 1963:
“….Quý
Ông đã có nhã ý gửi tặng tôi
( Tổng giám đốc Thông tin) bản dịch”
La Cravache” của Gheorghiu do “
Đại Nam văn hiến” phát hành, chúng tôi xin kính gửi
lời chân thành cảm tạ.
Song le, trên phương
diện kiểm duyệt, Nha tôi nhận thấy”
Đại Nam văn hiến xuất bản cục”
đã hiển nhiên vi phạm vào luật lệ hiện hành, vì
đã không nạp duyệt tác phẩm trước khi xuất bản.
Ông Giám
Đốc ( ý nói
về Thế Phong - TP chú thích)
cũng đã thừa rõ những phiền phức có
thể xảy ra với hành vi phạm pháp trên
đây. Nhất là, khi nhận được lá thư gửi
‘Anh, Chị làm nghệ thuật và
độc giả”- Nha chúng tôi đã tùng tại công văn số
3491- CDV-TT / HĐKD ngày 2 tháng này, lưu
ý yêu cầu ông Giám Đốc gửi duyệt những
tác phẩm mà Đ. N. V.H.X.B.C. định cho ra mắt
độc giả.
Vì
lẽ đó mặc dầu tôi rất quí
trọng ( Tổng
giám đốc Phan Văn Tạo còn là
tác giả tập truyện ngắn”
Cái bong bóng lợn”- TP chú thích)
các văn phẩm, Tôi không thể
nào với tư cách Tổng giám Đốc Thông Tin, nhận gủi tặng
một tác phẩm không kiểm duyệt, dù
là bản này in ronéo.
Tôi xin phép
được trả lại quý Cục cuốn sách trên.
Tôi cũng lại xin dành
quyền hành động, theo các
điều 6 và 7 nghị định số
275- PTT/ TTK ngày 5/4/1954 ấn
định thể lệ kiểm duyệt các
ấn loát phẩm trong nước.
Vài lời thành thực
mong Ông Giám Đốc thông cảm và
xin trân trọng kính chào ông
Giám Đốc .[]
Kính thư
PHAN VĂN TẠO
(đã ký và đóng dấu)
Chế độ Ngô
Đình Diệm chấm dứt vào cuối năm 1963
. Từ 1964, tôi được
cấp giấy phép cho xuất bản, in ty pô dăm cuốn:
Việt nam bi thảm Đông Dương ( dịch L. Roubaud), Nhận
diện vóc dáng Nguyễn Đức Quỳnh / Thế Phong,
Thiết Tha ( thơ Bùi Khải Nguyên, Đôi
kính tập kịch ngắn Đinh Xuân Cầu- hai cuốn
này đặt in tại nhà in siêu đẳng Kim Lai Ấn
Quán , do Lãng Nhân làm giám đốc và tổng lý Nguyễn
Doãn Vượng.. Thi sĩ thiếu tá Bùi Khải Nguyên
và chính trị gia Đinh Xuân Cầu nói:
- Ông cứ đưa
in linograph tại Kim Lai Ấn Quán, đắt bao nhiêu
ta trả đủ ,không thiéu một xu! Cho bõ xưa nay Đại
Nam văn hiến toàn phải in tác phẩm ronéo !
- Bìa 4 tập kịch”
Đôi kính” in chình ình dấu tròn 7cm x 7 – hàng chữ
ĐẠI NAM VĂN HIẾN to đùng, chắc không thua dấu tròn
bụi tre Phủ Đầu Rồng là bao ! ( họa sĩ
Ngọc Dũng cầm trên tay tập sách xít xoa khen vậy
đấy) !
Vào thập niên đầu thế
kỷ XXI, Amazon. com tung lên mạng nhiều cuốn sách chuyển
ngữ tiếng anh của tôi, do anh Đàm Xuân Cận dịch , in và
phát hành trước 1975.. heo tôi biết một số Thư viện Mỹ
đều có sách của tôi, chẳng hạn Cornell University
Libraries, Library of Congress, Thư
viện Đại học Iowa, SIU, Thư
viện Cộng đồng Houston ( bang Texas), Thư
viện Quốc gia Úc châu
vv… Ở Mỹ, nhà xuất bản chỉ vào thư viện lục ra đem
phổ biến, không cần xin phép tác giả, bị phát hiện ,
bị khiếu nại trả bản quyền , thì thủ thế im lặng
là đắc sách. “ Thephong by Thephong, the writer, the
work & the life- “ “ 1 use
from $64,99 và tung lên mạng Kindle Store, dạng ebook để
bán máy đọc sách.
-” Thephong by Thephong;
: The writer, the work & the life, autobiography; The Phong Books
(
www.amazon.com/Thephong-writer-work-life-autobiography/dp/B007
JUSLA 160K- CACHED SIMILAR ).
-A Brief Glimpse at the
Vietnamese literary scene, 1900-1956 / The…
Available in the National Library
of Australia Collection. Author ThePhong, 1932-
Format, 42 p.; 27 cm
ula.gov.au/cat-vn2 196750-
26k- Cached Similar
-Amazon.com Vietnamese literature
-Amazon.com: Vietnamese
Literature: Books A Glimpse of Vietnamese
Oral Literature: Mythology, Tales, Folkore by Loc…
Vietnamese Literature: A Brief Survey- by Nguyen Dinh Hoa ( Paperback-
1994)
-www.amazon.com/ s?ie
UTF8 & index books&field-keywords Vietnamese %
20 Literature & page
– 1- 160k- Cached Similar pages
một vài NXB
khác:
www.Booknear.com
; Dai nam Publisher Books ; Booknear.com
: A Brief Glimpse at the Vietnamese Literary Scene, 1900-1956 by The
Phong…
www
.Booknear.com/Dai-Nam-publisher_ihtm-19k Cached- Similar pagesqua Google/ Search …
còn hiển thị:
Book Cattalog: abri-vol.15
- A Brief Gl;impse at
the Vietnamese scene, 1900-1956, The Phong Saigon, Dai Nam
Van hien Books [ 1974], 42p. A brief grammar and vocabulary of the…col.bookmaps.org/a/abr_15html-
34-Cached Similar pages
tiếp theo,
ở : get CITED ThéPhong ( b.
1932, d.----)
-ALL PUBLICATIONS IN REVERSE
CHRONOLOGICAL ORDER
Author The Phong ( 1974)
A Brief Glimpse at the Vietnamese literary scene, 1900-1956 Saigon:
Dai Nam Van Hien Books
đến Open Library beta
[Edit][ History] last modified
April 1.2008
A brief
glimpse at the Vietnamese literary scene, 1900-1956
BUY
Published in 1974, Dai Nam
Van Hien Books (Saigon)
Not available for this book
CHANGE COVER
BORROW
Other titles: Vietnamese literary
scene from 1900-1956
Not available for this book
BROWSE
Google Book Search ( novices)
DATA COMES FROM AMAZON,
Library of Congress, and users likes you
By:
ThePhong; translated by Dam Xuan Can
Statement
:
Language :
English
Pagination:
42p.
LCCN:
76368219
Dewey:
895.9/22/09003
LC:
PL 4378.9.T562 B7 1974
Subject:
- Vietnamese literature – 20 century
-History and criticism.
--------
http://openlibrary.org/b/OL
4940841 M/brief-glimpse-at-the-Vietnamese-literary-scene
% 2Cmới nhất là
cuốn “ T.T.KH., Nàng là
Ai?/ Thế Nhật ( tức Thế
Phong) vẫn do Amazon.com tung lên mạng Kindle Store-
và bán 1 used from $30,00 , không xin phép tác giả,
tôi bèn gửi thư ngỏ khiếu nại tới Tổng giám đốc CEO
Jeff Bezos yêu cầu trả bản quyền , .
Ở California,
duy nhất một cơ quan báo chí thông tấn truyền thanh,
truyền hình CALITODAY.COM đăng “Thư
ngỏ gửi Amazon.com (lần thứ
2)- phổ biến trên mạng Amazon.com (ebook) T.T.KH., NÀNG LÀ
AI? / THẾ NHẬT ( THẾ PHONG) (ngày 20 June 2011)
-Ở trong nước,
duy nhất có web ‘ VĂN NGHỆ NGƯỜI SAIGON - trang
chủ: Nguyễn Việt. phổ biến trên mạng , vào
ngày 6 tháng 7 năm 2011.
- cũng mời xem
thêm tại < Google / Search / T.T.Kh., nàng là
ai?-amazon.com> hoặc < Google / Search / nhà
văn thế phong>
http://www.amazon.com/T-T-KH-nang-Mot-mghi-van/dp/B001UZBXFU
- và bây giờ, lại
tới số phận cuốn T.T.KH., NÀNG LÀ
AI ? lại vi phạm bản quyền một cách trắng trợn!
( piracy / the crime
of making and selling illegal copies of computer programs, books
- theo
định nghĩa từ điển American English-Mac Milan ) một cách tồi tệ đã làm-
như một Amazon.com của tổng giám đốc Jeef Bezos?!
Với tôi, chỉ
còn một cách duy nhất là dâng lời cầu nguyện:
- ” Chúa
ơi, xin Ngài tha thứ tổng giám
đốc Jeef Bezos ( b.1962, d.--- ) ,
đừng vội ngắt hơi thở, để anh ta
được sống lâu hơn, mãn nguyện cung cách làm giàu trên
xương máu tác giả , thực thi dài dài kiểu
“ piracy- copyright infringement”
– thu lượm quả ngọt trên cành lại quên khuấy công
lao kẻ trồng. Amen ! “[].
Saigon 27 July 2011
THẾ PHONG (real name ĐỖ MẠNH TƯỜNG)
25/ 39 A Trần Khắc Chân St.
Tân Định Ward, District I
Hồ Chí Minh City ( Vietnam)
__________________________________________________________________
© Tác giả giữ bản quyền.
.Cập nhật theo nguyên bản tác giả gởi ngày 28.07.2011.
. Trích đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com