Chân dung Cẩm Uyên
CẨM UYÊN – TRI KỈ VĂN CHƯƠNG HIẾM CÓ CỦA ĐỜI TÔI
KỲ 1
(Trích hồi kí “Thăm Thẳm Một
Đời” của Kiều Văn)
Chương
sách này lẽ ra tôi chưa định thực hiện bởi
vì tôi cảm thấy hãy còn quá sớm khi tình tri kỉ
giữa tôi với Cẩm Uyên đang còn hứa hẹn sẽ
cống hiến cho cuộc đời này những hoa thơm cỏ lạ mà
chỉ riêng nó có. Thật không may, căn bệnh về tuyến giáp
tiềm ẩn từ lâu trong nàng cộng với những cố gắng quá
mức trong những hoạt động xã hội đã tiêu hao rất nhiều
thời giờ và sức lực của nàng. Tôi có lỗi lớn vì biết
mà không quyết liệt khuyên can nàng từ bỏ những ham hố
không đáng có. Than ôi, tôi – đệ tử của Lão Tử, từng
dày công nghiên cứu về Đạo Trời – chỉ vì quá tôn
trọng quyền tự do và tự quyết của nàng để đến nỗi
nàng sa vào vực thẳm. Đó là bài học đắt giá cho tôi,
kẻ đã không thực hiện được châm ngôn “kiến nghĩa
bất vi vô dũng dã” ngay với tri kỉ của mình. Khi căn
bệnh của nàng kịch phát, tôi mới thực sự vào cuộc.
Tôi quyết đi tìm diệu kế từ những sức mạnh siêu nhiên.
Tôi đã tuyên chiến với định mệnh để cứu nàng. Trong
buổi viếng thăm nàng lần cuối cùng ở bệnh viện, tôi
đã cầu nguyện các đấng linh thiêng và mạnh dạn truyền
nhân điện vào các luân xa cho nàng. Lúc ấy, một điều
kì diệu đã xảy ra. Mọi người xung quanh thấy gương mặt
nàng bỗng trở nên sinh động, đôi mắt nàng sáng lên vui
vẻ, và nàng đã nhoẻn cười đưa tay ra bắt tay tôi lúc
tôi chào nàng để ra về. Tôi nói với nàng lời sau chót:
– Anh đã nối liền em với vũ trụ. Từ nay em sẽ vận động
trong guồng quay của vũ trụ ấy với sự dìu dắt của
trời phật thánh thần. Em sẽ được nhận lãnh một giải
pháp tối ưu. Xin em đừng lo lắng gì cả.
Tin
ở tôi, nàng tỏ ra vui mừng và yên lòng. Thế
rồi, có lẽ đúng như tôi nói, Trời Phật
đã có quyết đoán tối hậu về nàng: nàng
được mãn kiếp ta bà chỉ sau đó vài ngày.
Mặc
dù thấu hiểu lẽ trời, tôi vẫn không sao tránh
được cảm giác bị hững hụt khủng khiếp, giống
hệt như cảm giác khi tôi bị mất nàng Ngọc Huyền
của tôi vào 24 năm trước. Đó là cảm giác về
sự đứt đoạn vĩnh viễn của một mối quan hệ
sâu sắc tận trong não tuỷ. Thế là tôi đã bị mất đi
người tri kỉ văn chương hiếm có nhất của tôi trong quãng
đời hơn 20 năm sống ở Sài Gòn. Riêng trong địa hạt
tình cảm, tôi đã bị mất đi con người hiểu biết, yêu
quý và tôn thờ tôi nhất trên thế gian trong lúc này. Chính
vì vậy, đột nhiên tôi trở thành kẻ cô đơn nhất: tôi
có nhiều bạn bè thân thiết và tài năng, nhưng người
bạn mà tôi có thể chia sẻ cả những tâm tình sâu kín
nhất lẫn những ý tưởng cao diệu tột cùng thì không
còn nữa. Cái đỉnh tình cảm cao nhất
trong buổi hoàng hôn của đời tôi thế là sụp đổ!
Tất
cả những điều đó là lí do tạo ra một
đột phá: tôi không thể không lập tức viết một
chương hồi kí về nàng. Lâu nay tôi vẫn thường
nói rằng cuộc đời tôi là một huyền thoại,
thì đây chính là huyền thoại mới nhất.
Sài
Gòn 9 tháng Sáu Tân Mão (9/7/2011)
Em
Cẩm Uyên thân thương!
Đây
là lễ vật văn chương của Kiều Văn bạn em viếng hương
hồn em trong ngày đưa tang em. Xin em khôn thiêng hãy nhận
chút quà kỉ niệm của con người mà em từng ưu ái dành
cho biết bao là quý mến và trân trọng, khi em phải dời
gót ra đi sang một thế giới mới. Anh mong rằng tác phẩm
nhỏ viết bằng tâm huyết này đi theo bên mình em sẽ xoa
dịu những đau thương, sầu khổ và cô đơn của em trên
suốt chặng hành trình. Em hãy tin rằng những tri kỉ của
em như anh và bác Hoàng Hữu Đản (người đã quá đỗi
thương tiếc em) sẽ mãi mãi giữ gìn hình ảnh quý báu
của em trong trái tim mình.
Dưới
đây là những trang anh đã và đang tiếp tục viết
về em trong cuốn hồi kí “Thăm thẳm một
đời” mà buồn thay, vì cho rằng hãy còn nhiều
cơ hội nên anh chưa đưa em đọc một dòng nào.
Một
học giả đã nói “Một con người cũng như một tác
phẩm đều có số phận riêng của nó”.
Năm 1997, tôi lo lắng nhận thấy kiệt tác thơ Nôm “Cung
oán ngâm khúc” của Nguyễn Gia Thiều đang đứng trước
nguy cơ bị rơi vào quên lãng. Tôi cho rằng chúng ta có thể
quên lãng một điều gì đó nhưng không thể quên lãng một
kiệt tác văn chương được viết bằng ngôn ngữ dân tộc.
Vì sự thôi thúc của lương tri, tôi quyết định giới
thiệu, chú thích và xuất bản lại tác phẩm cổ điển
đó. Tôi viết trong lời nói đầu: “Cung oán ngâm khúc
là tác phẩm thơ trường thiên mang vẻ
đẹp của một cung điện vàng son lộng lẫy thời cổ,
được kiến tạo bởi bàn tay của một bậc văn hào tiền
bối kiệt xuất. Chúng tôi nghĩ
rằng bỏ mặc một cung điện quý
báu nhường ấy cho thời gian phủ
bụi, vừa là một lỗi lớn
đối với tiền nhân, vừa là
một thiệt thòi lớn cho chính con người Việt Nam chúng
ta hôm nay… Điều tuyệt diệu hơn cả
chính là tác phẩm đã đặc tả
thế giới nội tâm sâu sắc, rất mực nhân bản của một
cung nữ thời xưa bị giam cầm suốt
đời trong cung cấm, trong cô
đơn và phụ rẫy, khi mà tâm hồn tuyệt
đẹp và tinh tế của nàng còn
đang dạt dào tình yêu và nhựa sống.”.
Tuy
nhiên, mặc cho sự cổ xuý đầy nhiệt huyết
của tôi, số bạn đọc ngó ngàng đến kiệt
tác này vẫn chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Tôi
buồn rầu trộm nghĩ: ngay lúc còn sống Nguyễn Gia Thiều
đã chủ trương thoát tục, đến khi chết đi ngó lại trần
gian có lẽ ông càng thêm ngao ngán và muốn bỏ đi biệt
tích sang hành tinh khác không biết chừng! Tôi càng hiểu
thấu vì sao thi hào Pushkin đã phải thốt lên rằng “Nước
Nga của chúng ta thật đáng buồn” khi nghe Gogol đọc tác
phẩm “Những linh hồn chết” cho các bạn của ông nghe.
Về
thơ của tôi, trừ một số bạn hữu sành điệu
thưởng thức văn chương như nho y Vũ Ngọc Lung,
Hoàng Thuỵ, Trần Hữu Vị, Nguyễn Thế Hùng, Cẩm Uyên
và các nhà thơ như Huy Cận, Hoàng Hữu Đản, Thanh Tùng,
Đặng Nguyệt Anh, Mai Văn Hoan, Bùi Anh Tuấn, và gần đây
là Từ Vũ…, còn lại khá đông những người khác, nhất
là những nhà thơ thời thượng thì hoặc không thể cảm
nhận được nó, hoặc đã phần nào hiểu nó nhưng rồi
cố tình ngoảnh mặt đi coi như không biết. Bởi vì họ
đang cần phải dành hết hồn vía cho trường phái thơ “độc
vị” (trăm bài đều cùng một kiểu suy tư, cùng một giọng
điệu) của bọn họ. Thì ra ở mỗi thời điểm thường
sản sinh ra một chủng loại thơ đặc thù được muôn người
hùa theo. Có lẽ chính vì vậy mà trước kia Nguyễn Khuyến
đã phải than rằng: “Câu thơ nghĩ
đắn đo muốn viết, viết đưa ai ai biết mà
đưa?”. Còn người dân quê Việt Nam thông minh và chân
thật thì đáo để nói toạc ra rằng: “Đàn
đâu mà gảy tai trâu, đạn đâu bắn sẻ, gươm
đâu giết ruồi?”.
Vì
tiên cảm thấy điều đó về số phận
riêng của thơ của mình nên ngay từ những ngày
đầu tiên bước chân vào nghiệp thơ, tôi đã viết
hai câu kết trong bài Sầu ca:
Thơ
rơi lạc giữa bụi đời,
Một mai
có tới tay người thanh tao?
Sau
nhiều trăn trở, rốt cuộc tôi đã ngộ ra rằng
mỗi tác phẩm văn chương đều có những độc giả
riêng của nó, và tôi đã cố gắng lí
giải như sau:
“Lòng
yêu thơ giống như tình yêu trai gái, phải hợp duyên mới
yêu được, trái duyên thì chẳng những không yêu mà còn
ghét. Một tác phẩm văn chương nghệ thuật được ưa chuộng
hay không phần lớn tuỳ thuộc ở thị hiếu của độc
giả. Người xưa nhất phát hiện chân lí ấy chính là đức
Khổng Tử. Ông viết: “Hạnh phúc không
ở trên tầm con người; hạnh phúc cũng không
ở dưới tầm con người; hạnh phúc
ở ngang tầm con người”.
Thơ “Cung oán” của cụ Ôn Như Hầu là thơ thượng thặng
vậy mà vẫn ít được người ngày nay ái mộ chỉ vì cái
tội nó ở cao hơn tầm của họ. Nhưng đối với những
khách tri âm như tôi thì thơ ấy đích thị là “một cung
điện vàng son lộng lẫy”.
Tôi
tập viết thơ từ khi còn nhỏ nhưng suốt một
thời gian dài không có một đột phá nào, chứng
tỏ thơ tôi thuộc loại “chửa voi” hoặc
loại “trái cây chín muộn”. Mãi đến năm 1996
tập thơ đầu tiên của tôi mới ra đời mang tên “Khoảnh
đời huyền thoại”. Tôi gửi tặng hai nhà thơ tiền chiến
là Huy Cận và Tế Hanh. Ngày 15/9/1996, trong thư gửi cho tôi,
nhà thơ Huy Cận viết:
…
Trang 2 này là nói với nhà thơ Kiều Văn. Tôi tán thành
anh khi viết “Đòi hỏi gắt gao nhất
đối với thơ Việt Nam hiện nay là sự
phát hiện những điều ẩn náu của tim và của óc, của
số phận con người đương thời”.
Đọc
tập “Khoảnh đời huyền thoại” của anh, tôi thấy có
một số bài thú vị trong đó anh
đã hoà quyện được ý và
tình (cấu tứ là như vậy, ta không nói
“cấu ý”). Bài “Thạch Sanh”
ý và tình gắn quyện, thôi thúc nhau. Bài
“Hoa hồng hoang” cũng có ý hay, mới và tình cảm
đẹp trong một đề tài gần như cũ. Bài
“Đêm quê hương” nhẹ nhàng và
đằm thắm. “Lời thuỷ thủ” là một lời dào dạt,
gởi một ý đời, một ý biển.
“Cô gái và biển cả” là một bài có thể
“hoá thành muối mặn”…
Năm
2005, khi “tập thơ một đời” của tôi mang
tên “Thơ trữ tình và Trường ca Lê
Đan” được xuất bản, thực tế đã trả
lời rằng chỉ có một số bạn đọc thuộc
diện “khách kén” đã hiểu và mến mộ nó, trong
đó nổi bật một người: cô giáo Cẩm Uyên. Kì lạ thay,
người phụ nữ này đã cảm thụ và hiểu thấu giá trị
của tập thơ không thua kém tác giả của nó. Nàng đã say
mê đến nỗi dù đọc bao nhiêu lần cũng vẫn không cảm
thấy đủ, và mỗi lần đọc nàng lại phát hiện thêm
những ý vị mới. Phải chăng Thượng Đế đã ưu ái ban
cho tôi vị độc giả số một của mình? Ngay sau khi đọc
xong tập thơ, nàng đã phản hồi nhanh như một tia chớp
bằng một bài thơ đáp lại bài “đề từ” của tôi.
Đề từ của tác giả
Có
ngày nào khách hành hương háo hức
Bước
tới miền xa vắng của hồn tôi
Chợt ngỡ
ngàng trước mênh mông kì
tuyệt
Đọng
ảnh hình một thế giới sục sôi?
Đáp lại “Đề từ”
Đã có ngày khách hành hương háo hức
Vào khu
rừng xanh thẳm ngút ngàn
Bởi hoa lạ, hương thơm, ngọc quý
Hay bởi
hồn ai đầy nhựa sống dâng tràn.
6–2005
Nữ độc giả Cẩm Uyên
Vô
cùng cảm kích trước nhân vật nữ lưu mẫn tuệ này, qua
điện thoại tôi đã thẳng thắn nói với nàng: “Thấu
hiểu thơ tôi đến mức ấy, một
độc giả như bạn sánh bằng nửa thế giới này cộng
lại”.
Và
để đáp lại cái ơn tri ngộ của nàng, tôi
đã tặng nàng bài thơ sau:
Tặng mắt xanh
Hằng thế kỉ thơ anh mòn mỏi
Chờ mắt xanh trong cõi nhân gian.
Chợt chiều trở gió
thu sang
Tri âm tới
trái tim vàng
lệ hoen...
2/7/2005
Sau
chuyến hành hương ra Bắc trở về Sài Gòn, tôi
tới thăm nàng thì được nàng trao cho một cuốn vở
trong đó nàng viết như sau:
Tập này Cẩm Uyên viết cho Kiều
Văn và Nàng (tức nhân
vật Ngọc Huyền trong tiểu thuyết Cùng khốn một tình
yêu), thỉnh thoảng
có kèm theo một vài lời dẫn. Những phần viết cho Kiều
Văn, ngoài sự cảm phục, đôi lúc còn mang tính con nít
đến tức cười, chẳng hạn:
Anh đi, em ở nhà mài bút
Đợi lúc anh về nói chuyện vui
Rằng em giờ đã ôn bài kĩ
Thầy có khen em “giỏi quá đi”?
Có
điều theo bảng điểm mà Uyên tự đặt ra khi đọc
thơ Kiều Văn là phải có
cỏ lạ, có hoa thơm, có ngọc quý, và
quan trọng là có lửa thì thấy bài tập của mình chẳng
được xếp vào loại nào cả. Buồn quá!
Uyên
phân tích bài thơ Uyên viết dưới đây chủ yếu
là để qua đó nêu lên những nhận định về
tập thơ trữ tình độc đáo của Kiều Văn, không
biết bài tập này được mấy điểm?
DỰ CẢM
Lạc lối vườn xanh của bạn hiền
Cái gì níu bước ta triền miên?
Cỏ lạ? hoa thơm? hay ngọc quý?
Hay lửa tim ai cháy vạn niên?
Bây
giờ Uyên xin mời tất cả mọi người hãy cùng
Uyên đi tìm cỏ lạ, hoa thơm, ngọc quý
và đặc biệt là lửa trong tập thơ này.
*
Trước hết chúng ta hãy quan sát những hình ảnh được
diễn tả hết sức tài tình: trăng thả
tình yêu xuống tặng đời; hoa bỏ
cành hoa rụng trôi theo; cô em cắt cỏ, má
sao ửng hồng; nắng ngập ngừng lướt nhẹ
trên ngàn hoa; gió bạt ngàn nâng tiếng hát bay xa; suối
nắng hoàng hôn cuốn xôn xao, trên những vòm cây 1á
động rì rào; đường nhớ ai lạc bước ngẩn ngơ; rồi
có lúc biển trời ngớt tạnh, mi bay về cánh rách xác xơ;
sao Hôm chìm đáy nước, thuyền ai
đi chưa về; cánh bướm mơ choàng tỉnh giấc; biển rộng
không cùng có mình em, như ngôi sao sáng lạc trong
đêm; nước biếc non xanh chiều loang nắng; ngọn lửa nồng
nàn thức đã tàn đêm; dáng con tàu lê
mình buồn bã giữa đêm đông; chùm sao khuya rớt xuống
đêm nao trên biển cả; khi ta vỗ
cánh bay trên đường đời dang dở; một mảnh trăng tan
trong lòng sông bạc; mắt em trong biếc, còn
đọng nguyên đêm trăng vàng tha thiết; nghe dưới chân lênh
láng một biển khơi; một cánh
đại bàng mà bão táp đã ném lên bờ
cát…
Những
hình ảnh ấy chính là hoa thơm
mà chúng ta được thưởng thức.
*
Thứ hai, chúng ta hãy để tâm hồn hoà quyện vào với
những câu thơ tả tình, tả tâm trạng hết sức sâu xa
của con người trong một tập thơ trữ tình mang phong cách
rất riêng, rất đắt mà chúng ta hiếm khi nào bắt gặp
được:
Đêm nghe tiếng quê hương, rì
rào cây rung lá, đâu ngày thơ
ấu xưa, đâu mảnh tình xứ
lạ?; vì chưng trận bão năm xưa, quất cho vườn nhãn xác
xơ tiêu điều; những đêm say hồn trên bến nước mênh
mông; (gió thu) thổi xáo xác những lũng sâu thương nhớ;
(biển) lặng ngắt như giờ hoàng hôn chết, bởi vết thương
lòng quá đỗi xót xa; đêm nay day dứt anh hoài, như sóng
cồn day dứt biển không thôi; bao hồn
đau trong tối tăm mọi rợ, đã vì em thổn thức buột lời
ca; Ôi đêm nay chìm trong gió cát, anh nhớ nát lòng em có
biết Biển ơi?; Khi chợt nghe tiếng em réo gọi, sóng cồn
cào xô vách đá chơi vơi; có
trái tim trôi dạt lênh đênh,
đang cố ngoi ra ngoài vực thẳm buồn tênh; ngày
ấy cơn bão đời, lùa cánh anh xơ
xác, anh bay tới bên em, cả mùa thu tan tác.
Ở
đây tôi muốn đặc biệt nhấn mạnh hai câu thơ kì lạ
mà thi sĩ đã thốt lên trong một tâm trạng sầu đau:
Ngủ đi em, ngủ ngon lành,
Trở trăn một trái tim anh đủ rồi.
Có
thể so sánh hai câu thơ này với câu thơ
“Dãy phố xám hết nằm trong gió lạnh, Em
đi xa em trở lại rồi” của Lưu Quang Vũ, và về tầm
cỡ thì hơn! Thật cao thượng làm sao, tài tình làm sao!
Không thể bắt chước được, vì thật nhẹ nhàng và không
tốn một viên đạn mà hàng loạt trái tim gục ngã. Những
“cái chết” êm ái mà chứa đầy sự sống ở phía sau…
Trong
tập thơ này, thơ tình yêu chiếm một dung lượng
đáng kể. Trong làng thơ hiện nay có lẽ không một nhà
thơ nào không viết về đề tài tình yêu. Công tâm mà nói,
chúng ta đã được đọc không ít bài thơ tình hay và thành
công. Thế nhưng nhìn chung, cái thiếu ở hầu hết các bài
thơ đó chính là sự độc
đáo, là phong cách riêng, một yêu cầu cần thiết
trong thế giới thơ. Tôi nhận thấy thơ Việt Nam hiện nay
chỉ có hai phong cách thơ tình, trong đó thơ tình Kiều Văn
chiếm trọn một phong cách, còn phong cách thứ hai thuộc
về tất cả những nhà thơ khác. Nguyên nhân nào gây ra
sự khác biệt về phong cách đó? Tôi xin trả lời: bởi
vì chỉ trong thơ tình Kiều Văn mới có sự hoà quyện nhuần
nhuyễn của chất thơ đương
đại và chất thơ cổ
điển (chất thơ đã trở thành bất hủ trong lịch sử
thi ca nhân loại). Trong khi đó thơ tình của những nhà thơ
khác hiện nay, do thoát li hoàn toàn với nền thơ cổ điển
nên chỉ có độc một chất “đương đại” mà thôi.
Theo quan điểm của riêng tôi, chính một chút sắc thái
“cổ điển” đã mang lại cho thơ tình Kiều Văn một
tư chất cao sang và có nhiều hi vọng đi vào bất tử. Còn
những bài thơ đương đại trần trụi có thể rất hay
nhưng vẫn không chắc gì “sống mãi với sử xanh”. Xin
mọi người hãy suy ngẫm về điều đó.
Dưới
đây tôi xin chứng minh đơn giản bằng cách trích dẫn những
câu những đoạn thơ tình của Kiều Văn với đặc
trưng “hiện đại hoà quyện với cổ điển” để bạn
đọc chiêm nghiệm và đánh giá.
Nào ai hay dưới trăng vàng đêm ấy
Hai đứa mình tê tái biệt li nhau?
Anh lại đi theo ngàn trùng sóng biếc,
Em trở về lặng ngắt dưới trăng thâu.
*
Anh vẫn nghe tình em đằm thắm
như suối dâng thầm lặng giữa rừng sâu.
*
Hãy giữ tình yêu đó
Tươi sáng mãi nghe em
Như ngôi sao Bắc Cực,
Rực cháy giữa trời đêm.
*
Hỡi em yêu từng tái ngắt sững sờ
Chứng kiến phút hồn anh tan từng mảnh
Tả tơi như đám mây gió đánh.
*
Anh bàng hoàng soi tận đáy mắt em
Ôi mắt em trong biếc
Còn đọng nguyên đêm trăng vàng tha thiết
Hai ta ngồi trên mỏm đá chơi vơi
Nghe dưới chân
lênh láng một biển khơi
Nghe gió lộng
hút tận hồn sâu thẳm
Nghe sương khuya tưới tình ta
ướt đẫm…
*
Ơi những hôn nồng sẽ làm tan đi hết
những vị buồn se đọng trên môi em
Và sóng cồn của hạnh phúc sẽ trào lên
Đền cho em những tháng ngày khô khát.
*
Anh sẽ đi xa,
đi đi mãi,
bỏ em ở lại
bên bờ khơi sóng vỗ phũ phàng.
*
Vì sao anh mải miết ra đi
vùi sâu mãi vào đáy cùng quên lãng,
cả tình em dịu dàng như trăng sáng
và ảnh hình em, một đoá hoa tươi?
Vì sao em buồn khổ khôn nguôi,
để tả tơi nhành hoa hạnh phúc
mà một ngày nao quệt ngang nước mắt
thắt con tim em cúi lượm giữa đời?
*
Em ở đâu, anh sẽ tìm lối rẽ,
những lối mờ huyễn hoặc bóng trăng
Đôi mắt anh nhìn xuyên đêm tối,
Trái tim anh bật đuốc soi đường.
Anh sẽ bỏ nếp đời tẻ ngắt
Tìm khắp biển bờ, mò xuống vực sâu
Nơi trái tim em náu mình lặng lẽ
Mà dáng nét em không chút phai màu.
*
Biển có thấu chăng là biển hỡi?
Có vì em mong đợi tháng ngày?
Biển ơi lòng suối thơ ngây
Lắng muôn dòng lệ vơi đầy vì ai?
*
Và cuối
cùng hãy xem thi sĩ nói về nỗi nhớ:
Từ cõi nhớ nhung em yêu chợt đến
Giữa tim anh đang khắc khoải đợi chờ
Làm vang vọng cả một miền sâu thẳm
Những dư âm chưa dứt của tình thơ…
Chưa
có ai tả nỗi nhớ rộng mênh mang và nặng
kí đến như vậy!
Còn
một điều khá rõ khác phân biệt thơ tình
của Kiều Văn với thơ tình của những nhà thơ cùng thời:
thơ tình của hầu hết các nhà thơ thuộc phái nam hiện
nay chỉ có mỗi một giọng điệu dịu dàng, nhún nhường,
tha thiết (như dỗ dành, như tìm mọi cách để cốt làm
vừa lòng người yêu). Chỉ trong thơ tình của Kiều Văn,
ngoài giọng dịu dàng, tha thiết ra, chúng ta còn bắt gặp
một giọng điệu hoàn toàn khác, đó là giọng điệu anh
hùng, hiệp sĩ và có gì như kiêu ngạo, đôi khi thật dữ
dằn, tạo ra một sắc thái lạ và một sức hấp dẫn mãnh
liệt đối với phái đẹp (còn gọi là… phái yếu):
Nhưng hỡi tình yêu em có nghe
Tim ta nóng bỏng đập say mê?
Rồi nữa ta bay theo bão táp
Em có cùng ta trọn ước thề?
*
Tình yêu kia là nơi tôi nương náu
Hay nương náu tim này
Tình yêu mới bình yên?
*
Đến hôm nay, suối vẫn chảy bất tuyệt
Dù hồn tôi bợt hết sắc xanh.
Nhưng sao trái tim em cũng rạc hết lửa thiêng?
Cũng héo quắt như cây dầm sương giá?
Hãy nói đi em:
Đã bao lần em muốn chôn xuống lỗ
những ngu si và rồ dại của em?
*
Vĩnh biệt nhé, hỡi đoá hồng kiều diễm
Khiến tôi khinh bao cỏ dại hoa hèn.
Không còn ngự trên cánh thơ vời vợi
Em có lạc loài trong vực thẳm đêm đen?
*
Nhưng em hỡi có mong anh tha thiết
Có chờ anh, ngọn lửa trong đêm
Thiêu đốt hết những màu đời xám ngoét
Toả sáng hồn và làm rực máu em?
*
Có phải em
Cây vạn niên thanh tươi tắn ngây thơ
Cây vạn niên thanh với thiên chân kì lạ
Sống suốt đời bằng mặt trời và nước lã?
*
Hãy hát lên em như ngày xưa nồng cháy!
Mặc cuộc đời theo số kiếp phôi pha
Cũng như ta nốc cạn li tuyệt diệu
Khi mộng chưa thành đau đáu đốt thiêu ta!
*
Em có đổi những gì cao diệu nhất
Từng khiến em cảm rung ngây ngất
Để lấy chính cuộc đời ta chán ghét, em ơi,
Để mặc thây anh mãi mãi nghẹn lời?
*
Sao em không chờ thêm, chờ thêm chút nữa
Em sẽ thấy một ngôi sao rực lửa
Xé chân trời bay đến trước mặt em?
*
Anh bỗng dứt khỏi em, điên dại
Mặc tâm hồn rách nát đớn đau.
Nhưng lạ kì, như từ thạch hút nhau
Em hớt hải bước theo anh không gì cản được
Giữa một vườn nắng chiều vàng rực.
*
Ôi mắt phượng hoàng
Đừng cúi trông em hỡi
Đáy vực kia tối tăm tàn lụi
Những kẻ khát yêu như bóng xám vật vờ
Tìm chút lân tinh trên khắp bãi bờ
Nhóm những ngọn lửa tình man dại.
*
Hãy uống men nồng giữa ngàn cơn giá buốt!
Hãy vui chơi bên vực thẳm hãi hùng!
Hãy ở bên anh chẳng chút bận lòng!
*
Đời đàn bà như bóng đèn dễ vỡ
Như bông hoa dễ nát dễ nhàu
Như con mắt long lanh kì diệu
Bỗng đui mù sau va chạm thương đau.
Vâng,
chủng loại thơ trữ tình đặc sắc nói trên xứng
đáng được coi như ngọc quý để chúng ta chiêm
ngưỡng.
* Cao hơn, là những câu thơ có thần bút, đanh và sắc,
để lại ấn tượng sắc nét trong tâm hồn người đọc:
Đại bàng
ủ cánh trong hang
Thèm nhớ
nắng phóng đôi mắt sắc
Nhìn thủng
màn đêm và thấy xa tít tắp
Vài ngôi
sao đã chết mặt tái xanh;
khi sắc
đẹp bất kham còn ngạo nghễ
trên ngai đời; nàng tiên trên mặt bể, vớt những linh
hồn chết đuối giữa bão giông,
đưa qua biển sóng hãi hùng; chàng thi sĩ
đang tuyệt vọng, đột nhiên rũ
sạch ưu phiền, khi nghe tiếng hát em cháy bỏng; Thấy chăng
em nơi thiên thần đang đứng, chỉ
một màu vũ trụ trong xanh?; Nhưng vì
đâu khi anh còn say khát, uống giọt nắng vàng sau chót của
hoàng hôn, sóng sánh trên môi em tươi thắm;
Đá vặn mình điệu múa tiên, bủa muôn ma lực giữa miền
chiêm bao; Với tình yêu khi đã chọn một lần, em hãy sống
đến giờ phút chót;
Ngươi đừng tưởng trái tim ta chói lọi
Không lu mờ theo bóng xám thời gian!
Ngươi đừng tưởng giai nhân kia tuyệt sắc
Không tàn phai qua sóng gió phũ phàng!
Thiết
tưởng một khi nhắc đến những câu thơ thần
bút, chúng ta chỉ nên cảm nhận mà không cần bình
luận gì thêm.
*
Và sau cùng là những câu thơ có lửa:
Mây
ngang tàng bay lượn khắp
đại dương; trên những đỉnh cao chất ngất ghê
hồn, nào ai biết có những tâm hồn
đang ngự trị?; Sao giông tố
của ngươi không ào ào xuất kích, xé
đêm đen cho nắng xối tràn trề, cho trí
tuệ vụt đứng lên sáng chói, gìm những
điên rồ xuống đáy ngươi tăm tối?; gương mặt
đời sẽ trở nên gớm ghiếc, trên sa mạc cằn khô
sẽ chỉ còn rặt những linh hồn chết;
Ôi có một mặt trời, nằm ngủ
trong viên ngọc hình tim; Đời biết
đâu đốm lửa nhỏ nhoi, từng
định cả gan thiêu cháy đời?
Chúng
ta thường gặp những câu thơ đầy trăn trở và
khát vọng của một con người mang trong lòng một lí
tưởng cao quý:
Nói gì với mai sau,
Để lại gì cao quý,
Hay chỉ bọt bèo thôi,
Của một đời vô nghĩa?
Đoạn
thơ trên được viết từ năm 1972 (tức 33 năm trước).
Và thực tế đã trả lời: những khát vọng lớn lao
và cháy bỏng của nhà thơ đến nay đã dần trở thành
sự thực. Người ta bảo “văn là người” chính là thế.
Dưới
đây là những đoạn thơ có lửa mang vẻ đẹp
huy hoàng và dữ dội:
Nắng tuôn xuống bãi cát vàng lênh láng
Cùng biển xoá tan sắc xám hồn tôi.
Giữa vũ trụ ngắt một màu thạch bích
Trái tim tôi như hòn ngọc sáng ngời.
*
Anh quằn quại giữa tột cùng khát vọng
Khác chi chàng cướp lửa ngày xưa
Quắc mắt trông vào định mệnh mịt mờ
Thân tan tác giữa ngàn cơn sấm sét?
*
Bỗng một hôm mặt mày xám ngoét
Lão run run nghe Thượng Đế phán truyền:
“Không lí gì ngươi chặn họng một giọng kèn
Chói lọi như tia nắng xuyên đồng nội!
Không lí gì trong bản đại giao hưởng chúc tụng ta
Huy hoàng, vang dội
Thiếu vắng tiếng kèn kia dũng mãnh thét gào
Giữa cơn lốc âm thanh cuồn cuộn dâng trào
Lôi bật rễ những thân cây già khụ
Cho thiều quang của ta tràn như thác lũ!”
*
Hay phải chăng
Kết thúc sự im lìm
Sẽ là cả chuỗi rền sấm sét
Làm sập đổ những tường xiêu vách nát
Làm bật lên ngọn lửa chói ngời
Từ những tâm hồn đang bỏng khát
bạn ơi?
Và
sau đây là một đoạn thơ viết năm 1971 khi
nhà thơ còn đang sống ở dưới đáy của cuộc đời:
Sau tiếng sét kinh hoàng
Tôi bỗng nhận ra tôi
Thằng bạn anh
Cho đến ngày gục ngã
Không đổi chác những gì vô giá
Mà bao thế kỉ qua đã chắt lọc cho y.
Ta
thấy gì qua mấy câu thơ trên? Một nhân cách cao
vời vợi, một tầm vóc của người khổng lồ tích
luỹ trong mình một khối lượng kiến thức khổng lồ của
nhân loại được chắt lọc qua bao thế kỉ, và lượng
tri thức đó đã hun đúc nên một nhân cách cao cường và
bất khả xâm phạm đến như vậy. Người đọc không thấy,
không tin chàng trai gục ngã, bởi vì với tầm vóc ấy,
con người này sẽ đứng lên và sẽ làm được nhiều điều
kì diệu.
Ta
hãy so sánh với một bài thơ cũng được dư luận
khen ngợi là “tràn đầy khí phách” –
bài “Trà” của Phùng Cung (có lẽ cùng thời
với Phùng Quán):
Quất mãi nước sôi
Trà đau nát bã
Vẫn ngọt giọng Tân Cương.
Người
đọc chỉ cảm nhận được khí phách của
tác giả theo một cung cách thụ động, bất lực,
không thấy có tầm vóc chứa đựng bên trong. Vì
vậy nó không mang lại sức sống cho người đọc như
những câu thơ có lửa của Kiều Văn. Nếu
truyền được ngọn lửa này qua nhiều thế hệ thì đó
chính là ngọn lửa vĩnh cửu, vì nó không thể tắt khi
đã một lần tồn tại trong lòng người.
Cách
nhìn nhận trên chỉ là dự cảm ban đầu về
tầm vóc của tập thơ qua phân tích một số khía
cạnh chính. Nó không phải là một bài viết hoàn chỉnh
như bài của Mai Văn Hoan (Quốc học Huế). Dù tác giả này
đã viết khá hay để bình tập thơ của Kiều Văn nhưng
tiếc thay ông lại không nêu được tầm vóc thật sự của
tập thơ. Những bài thơ và những câu thơ ông tâm đắc
đều thuộc diện thơ trữ tình nhẹ nhàng tha thiết chứ
không thuộc diện “thơ có lửa”. Trong khi đó, cái Thần
của tập thơ này chính là “THẾ GIỚI SỤC SÔI” của
tâm hồn Kiều Văn mà chính thi sĩ đã nhấn mạnh trong bài
đề từ: Đọng ảnh hình một thế giới sục sôi.
Vấn
đề đáng đặt ra là: Ai là người truyền lửa
và ai là người nhận lửa khi mà đại đa số
công chúng hiện nay có quá nhiều vấn đề
phải quan tâm không thuộc lĩnh vực văn chương mà chúng
ta đang bàn?
Đối
với những con người tinh anh như Cẩm Uyên, có lẽ không
gì đánh thức trái tim và trí tuệ của họ mãnh liệt bằng
một thứ thơ huyết lệ. Tôi không ngờ ở lứa tuổi bảng
lảng chiều hôm, ngoài cả mong đợi, tôi vẫn còn nhận
được những tình cảm nồng nàn từ một trái tim có những
phẩm chất hiếm có được đánh thức mà những bài thơ
sau đây của Cẩm Uyên sẽ nói lên tất cả. Đối với
tôi, đó chính là một diễm phúc bù đắp cho nỗi cô đơn
thăm thẳm của thơ tôi suốt mấy chục năm ròng trong cuộc
đời bạc màu và nhiều phi lí này.
Trong
buổi đưa tiễn nàng về nơi vĩnh hằng, tôi
chứng kiến không biết bao nhiêu giọt nước mắt đã nhỏ
xuống vì tiếc thương nàng. Cũng hệt như Ngọc Huyền của
tôi khi xưa, nàng đích thực thuộc diện
Giai nhân tự cổ như danh tướng,
Bất hứa nhân gian kiến bạch đầu.
(Người đẹp từ xưa cũng giống như các danh tướng: họ đều chết sớm chứ không để người đời thấy mình đầu bạc)
Vâng,
ra đi khi đầu còn chưa bạc, khi trái tim còn đầy những
thổn thức như trái tim thiếu nữ, nàng đã để
lại trong tôi, trong lòng dịch giả lão thành Hoàng Hữu
Đản, trong lòng những người thân và bạn hữu của nàng
một sự hững hụt khó bề bù đắp. Thật cảm động biết
bao: ông Đản (90 tuổi) kể với tôi rằng mấy lần lúc
nửa đêm chợt thức, ông đã hốt hoảng bấm mạnh vào
da thịt mình để kiểm chứng xem việc nàng mất có phải
là mơ không? Còn trong suy tưởng của tôi, nàng thuộc type
nữ sĩ như George Sand trước kia, chỉ khác ở chỗ nàng
là phụ nữ phương Đông, và mặc dù rất mẫn tuệ nàng
vẫn ưa sống ẩn mình trong cuộc đời thường, không hề
bị cuốn hút bởi những đốm sáng lập loè của vinh quang
thời thượng.
CÒN TIẾP 1 KỲ...
© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả gởi từ SaìGòn ngày 22.07.2011.
. Trích đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn newvietart.com
|