DẠO QUANH HỒ HOÀN KIẾM  



Tôi ở Hà Nội từ 10 đến 15 tháng 5 năm 2011. Sau đại lễ nghìn năm Thăng Long-Hà Nội, quanh Hồ Hoàn kiếm có thêm Vườn hoa Lý Thái Tổ, có biểu tượng nghìn năm văn hiến, có biểu tượng thành phố hòa bình. Cả ba đều ở phía phố Đinh Tiên Hoàng. Ở Vườn hoa Lý Thái Tổ có tượng Lý Công Uẩn (974-1028). Ông là vua sáng lập ra Triều Lý nên gọi là Lý Thái Tổ. Năm 1010, Lý Thái Tổ xuống chiếu dời đô từ Hoa Lư ra thành Đại La, đặt tên là Thăng Long. Vườn hoa có sân rộng, nên thanh niên sáng sáng ra chơi cầu lông, bóng đá. Hai bên cổng vào đền Ngọc Sơn là biểu tượng Hà Nội - Thành phố Hòa Bình, biểu tượng Hà Nội Ngàn năm văn hiến. Hồ hoàn kiếm có chu vi là 1.750 mét. Tên gọi hồ Hoàn Kiếm xuất hiện vào đầu thế kỷ 15, gắn với truyền thuyết vua Lê Thái Tổ - vị vua khai sáng nhà Hậu Lê (Lê Lợi, 1385-1433) trả lại gươm báu cho Rùa thần. Theo bản đồ thời Hồng Đức một phân lưu sông Hồng chảy qua vị trí của các phố ngày nay như Hàng Đào, Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Hàng Chuối, tiếp đó lại đổ ra sông Hồng . Nơi rộng nhất phân lưu này hình thành một hồ lớn. Chúa Trịnh cho ngăn hồ lớn thành hồ Tả Vọng và hồ Hữu Vọng, hồ Tả Vọng chính là hồ Hoàn Kiếm.

Quanh bờ hồ là chỗ tập đi bộ, tập Thái cực quyền của người dân vào các buổi sáng. Ở khu vực quanh bờ hồ có Đình phả Trúc Lâm. Trước cửa đình là Café’ Nhân có từ năm 1946. Ở đây bạn có thể uống café’ đen truyền thống (đặc quánh, đắng, rõ mùi café’) hoặc uống café’ nâu (đặc quánh, màu nâu, rõ mùi café’). Bạn có thể uống café phin hay cà phê cốc, uống nóng hay với đá. Món ăn sáng theo lối Âu với dăm bông , bơ, pho mai hay đơn thuần bánh cuốn Thanh Trì. Phố Bảo Khánh và Ngõ Bảo Khánh có nhiều Nhà hàng ăn Âu-Á . Phố Bảo Khánh tiếp giáp với phố Hàng Trống. Phố Hàng Trống so với năm 2009 thì có nhiều thay đổi. Một số nhà mới xây trên nền nhà cũ. Ở Hàng Trống có nhiều Phòng bán tranh sao chép. Những tranh như Napoleon, Người đàn bà xa lạ, hay thiếu nữ Việt Nam trong trang phục truyền thống khi xưa với quần thâm, yếm đào có bán ở đây. Nhà Thanh Trâm bán tranh Đông Hồ, nhưng Nhà bán tranh Hàng Trống là nhà Hiệp Hưng.

Trong lần ra tháng 5 này, tôi có gặp “nhạc trưởng” của Hội văn nghệ dân gian Việt Nam- Gs. Ts. Tô Ngọc Thanh.Theo ông, ngày xưa trong tiếng Việt không có từ Lễ, chỉ có từ Hội thôi , “hội là một không gian và thời gian chứa đựng đậm đặc năng lượng thiêng của cả vũ trụ và thời gian. Với người Kinh không gian thiêng ấy được đặt vào cái sân đình, thời gian thiêng chung là các thời điểm của mùa xuân. Cho nên, kẻ giàu, người nghèo nô nức đến Hội trước hết để được đắm mình trong không gian thiêng và thời gian thiêng đó, để được tiếp nhận năng lượng thiêng của cả trời đất, quá khứ, hiện tại và để được trải nghiệm sự thăng hoa trong không-thời gian thiêng liêng ấy,mọi người dự hội, không phân biệt giàu nghèo. Đến dự hội, mỗi người đã thoát ra khỏi cái thân phận thường ngày của mình”.

Hiện nay ,một số nhà nghiên cứu Việt Nam “nhìn nhận Hội làng theo tư duy : hội thì vui vẻ giải trí. Người ta đã dung tục hóa và lạm dụng từ Lễ Hội và vì thế khi dịch sang tiếng Anh, Hội là Festival, là liên hoan, là vui chơi. Trong khi, đúng ra phải được dịch là Ceremony vì tính thiêng là đặc trưng cơ bản nhất của hội làng xưa. Vì thế, Hội làng là một tinh hoa văn hóa, được kết tinh qua sáng tạo hằng ngàn năm kết tinh lại và là biểu tượng của mỗi làng.Đó là niềm tự hào và lòng thành kính của mỗi làng và mỗi người dân làng.”

“Ngày nay những người tổ chức không hiểu bản chất tốt đẹp của Hội” và ứng xử trong hội theo ”thói vụ lợi vật chất của ứng xử theo tư duy kiểu kinh tế thị trường”

Trong lần này tôi may mắn gặp tác giả tiểu thuyết Dòng đời, ông Nguyễn Trung không phải là nhà văn, nhưng những gì ông chuyển tải thì chưa thấy nhà văn hiện đại của Việt Nam làm được. Ông thuộc thế hệ thứ nhất của Việt Nam học Ngữ văn Đức ở Trường Đại học Karl Marx thành phố Leipzig, Đức. Thế hệ năm 1958 có Phan Bình, Nguyễn Trung, Nguyễn Ngọc Lượng, Đỗ Ngoạn, Nguyễn Ngọc Châu. Thế hệ này 100% là cán bộ nhà nước cho đến khi về hưu. Chúng tôi thuộc thế hệ năm 1968. Thế hệ thứ hai có Ttrương Thị Phương, Bùi Đức Lâm, Nguyển Đình Hy, Lương Văn Hồng, Mai Kim Thuần , Nguyễn Đình Cấp, Thân Danh Nỵ, Nguyễn Đức Thắng, Đinh Cao Phong, Nguyễn Văn Hoài. Khi mở cửa năm 1986 thì 75% của thế hệ 1968 này ra ngoài làm thương gia, phiên dịch, hướng dẫn viên du lịch .v.v. Đây là dịp để cả hai tâm sự chuyện đời riêng. Ông Trung dừng đúng lúc đủ tuổi hưu, để sống cuộc đời an nhiên tự tại của “mưu sĩ”, viết những điều về quốc kế dân sinh, viết những điều ông suy nghĩ về nhân tình thế thái. Tôi đương làm Trưởng khoa Ngữ văn Đức xin thôi, giới thiệu Phạm Đình Hùng thay, rút về Khoa Ngữ văn Việt Nam dạy 60 tiết Văn học Đức một năm cho hơn hai trăm sinh viên năm thứ ba ngành văn học, sống cuộc đời “ẩn sĩ”. Một năm chỉ có ít giờ dạy học trên giảng đường để có thời gian để làm những gì mình thích như dịch Truyện cổ Grimm toàn tập, viết Lịch sử văn học Đức, Tiểu sử, giai thoại của 412 danh nhân cổ kim, đông tây, Lãng du trong các nền văn hóa, Thiên chức văn học .v.v.







© Tác giả giữ bản quyền .
. Cập nhật trên Newvietart.com ngày 29.05.2011 theo bản gởi của tác giả từ Sài Gòn.
Đăng tải lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com