PHỐ NHỎ, NGÕ NGANG NGÕ DỌC
Ở HÀ NỘI 36 PHỐ PHƯỜNG  



Hà Nội 36 phố phường hình thành từ những làng quê, ngày nay, hình như dấu ấn “làng” ấy hiện rõ nét nơi phố nhỏ, nơi ngõ ngang ngõ dọc uốn lượn, quanh co, ngoằn ngoèo như đường làng trong lòng một Hà Nội hiện đại, sầm uất. Thủ đô Hà Nội đầu thế kỷ 21 có nhiều đường to, phố lớn tráng lệ. Nhưng đậm chất Thăng Long - Hà Nội vẫn là quận Hoàn Kiếm, nhưng nơi để hoài niệm tận chiều sâu tâm hồn, để lắng nghe tiếng gọi của Thăng Long ngàn xưa lại là ngõ nhỏ. Hà Nội có nhiều ngõ, thậm chí ngõ nối ngõ, trong ngõ còn có ngách, trong ngách còn có hẻm. Có ngõ dài, ngoằn ngoèo như một mê cung . Nhìn thấy phía trước một ngôi nhà, tưởng ngõ đến đó là kết thúc thì lại thấy khoảng sáng nơi ngõ tiếp tục kéo dài lắt léo, ngoằn ngoèo. Hai bên ngõ là nhà dân- nhà chồng hộp diêm - với muôn vẻ khác nhau mà chỉ có ở Hà Nội 36 phố phường. Ngõ là nơi ẩn chứa những bất ngờ thú vị mà chưa có ai thống kê, kể cho chúng ta biết. Bài này chỉ là một thoáng qua, nếu bạn muốn thưởng thức hương vị thám hiểm nơi đất chật người đông Hà thành thì nên ghé qua các ngõ sau:

Ngày nay, nếu nói đến nhà cổ ở Hà Nội 36 phố phường thì chúng ta chỉ có thể tham quan nhà đặc trưng ở phố buôn bán là nhà 87 phố Mã Mây, nhà đặc trưng ở phố buôn bán, nhưng có vườn ở đằng sau là nhà 115 Hàng Bạc. Chữ đặc trưng ở đây theo nghĩa, đó là những căn nhà đáng tham quan, Nhà 87 Mã Mây khang trang, kiến trúc tiêu biểu cho nhà ở phố Mã Mây (dưới nhà là cửa hàng, rồi có sân, tiếp đến là bể nước, bếp, chủ nhà ở trên gác). Nhà 115 Hàng Bạc khang trang, kiến trúc tiêu biểu cho nhà ở phố Hàng Bạc (nhà có hai cổng, mặt ở phố Hàng Bạc là nơi buôn bán, mặt sau ở số 6 phố Đinh Liệt để người nhà, người giúp việc đi.) Khi xưa, những nhà giàu đều ở những nhà mặt tiển rộng 4 đến 5 mét, sâu trên 30 mét. Đó là những nhà ăn thông từ phố nọ sang phố kia Ngôi nhà hai tầng 87 Mã Mây được một gia đình xây dựng vào khoảng thế kỷ 19. Sau năm 1954 có 5 gia đình sinh sống tại ngôi nhà này. Việc cải tạo xây dựng của các hộ gia đình đã phá vỡ cấu trúc truyền thống. Năm 1999, chương trình “Cải tạo, bảo tồn Phố cổ Hà Nội” hợp tác giữa UBND Hà Nội và thành phố Toulouse (Pháp) đã tiến hành cải tạo lại ngôi nhà này theo nguyên trạng ban đầu. Ngôi nhà này không ai ở, chỉ mở cửa để khách du lịch tham quan.

Phố Mã Mây chạy theo hướng nam lên phía bắc rồi lại quay sang phía tây. Đầu phía nam của phố cắt phố Hàng Bạc, đầu quay sang phía tây nối vào phố Hàng Buồm. Phố Mã Mây là phố ghép hai phố- phố Hàng Mây và phố Hàng Mã. Phố Hàng Mây thuộc đất của giáp Hương Tượng, phường Hà Khẩu; phần phố Hàng Mã thuộc thôn Dũng Thọ, Đền của giáp Hương Tượng ở 64 Mã Mây, thờ Nguyễn Trung Ngạn. Đền được dựng từ đời Trần.

Thời xưa Phố Hàng Mã chuyên bán các loại đồ cúng bằng giấy cho các đám tang, đám rước, giấy vàng. Phố Hàng Mây chuyên bán các đồ dùng chế biến từ mây và cả sợi mây nguyên liệu.

Hiện nay gần như toàn bộ phố Mã Mây là các nhà nghỉ, khách sạn cho khách thuê, văn phòng các công ty du lịch, và các quán ăn, cửa hàng chuyên phục vụ khách du lịch.

Đinh Liệt là con phố nhỏ nối từ Hàng Bạc ra Cầu Gỗ. Phố dài khoảng 175 m, trong địa phận quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội, là nơi buôn bán các mặt hàng thổ cẩm và phục vụ khách du lịch. Phố được xây trên đất của hai thôn cổ là Gia Ngư và Hương Minh, đều thuộc tổng Hữu Túc, huyện Thọ Xương. Phố Đinh Liệt thời xưa được chia làm hai phần: đầu đi từ Hàng Bạc và đầu từ Cầu Gỗ. Cả hai đường đều dẫn vào khu dân cư xung quanh hồ Thái Cực (hồ Hàng Đào). Sau khu Pháp lấp hồ làm nhà cửa thì hai đoạn này được ghép lại với nhau làm đường, được Pháp đặt tên là Rue Od Endhal. Sau năm 1945, phố được đặt tên lại là phố Đinh Liệt, lấy tên một trong những khai quốc công thần thời Lê sơ. Phố ngày nay là điển hình của nền du lịch Việt Nam với các nhà nghỉ, khách sạn với các cửa hàng lưu niệm, bán len, chỉ.

Ngôi nhà 115 Hàng Bạc trước đây là chủ sở hữu tư nhân do cụ Phạm Văn Thanh (đã mất) và vợ là cụ Phạm Thị Tề (còn sống – 98 tuổi) đứng tên. Sau năm 1955, ngôi nhà được Nhà nước đưa vào diện cải tạo. Chủ sở hữu tư nhân sử dụng toàn bộ tầng 2 còn nhà nước quản lý toàn bộ tầng 1 và cho 5 hộ dân thuê. Từ đó gia đình phải dùng 6 Đinh Liệt làm lối ra vào nhà vườn.
Con trai cả của cụ Phạm Thị Tề - ông Phạm Xuân Giao kể, năm 1890 khi bắt đầu hình thành phố Hàng Bạc, gia đình cụ từ làng Châu Khê (Hải Dương) lên Hà Nội sinh cơ lập nghiệp, mang theo nghề kim hoàn gia truyền của làng mình. Năm 1920, thân sinh ông Giao đã mua mảnh đất 556m² với 2 mặt phố là Hàng Bạc – Đinh Liệt và xây dựng ngôi nhà vườn kết cấu 2 tầng 16 phòng. Khoảng năm 1940, gia đình ông Giao quyết định sửa sang lại ngôi nhà với sự giúp đỡ của kiến trúc sư Nguyễn Hoàng.

Nhờ sự tài hoa và tinh tế của ông Nguyễn Hoàng mà ngôi nhà vừa mang đậm dấu ấn của văn hóa Việt với những đầu hồi có gắn hình con rồng cách điệu, vừa mang phong cách kiến trúc nhà biệt thự với phòng ở rộng, tiện nghi. May mắn thay, căn nhà gần như vẫn giữ được những kết cấu chính: ban công hiên nhà được trang trí những họa tiết cầu kỳ; khuôn viên rộng trước cửa nhà trồng cây cảnh, đặt hòn non bộ, bể cá vàng; khu vườn rộng xanh mát với các loài cây cau, lộc vừng, tre đằng ngà, trúc quân tử...

Gắn liền với nhà vườn số 6 Đinh Liệt là nếp sống của một gia đình đậm chất Hà thành. Trong 8 người con của cụ Tề, trừ người con trai út sống ở TP.HCM, thì 7 cặp dâu rể hiện đều sinh sống trong ngôi nhà vườn này. Ngôi nhà vườn gồm 16 phòng, cụ Tề chia cho mỗi cặp vợ chồng con cái 2 phòng, riêng người con trai trưởng 3 phòng. Trong gia đình cụ, các con vẫn luôn giữ lề lối gia đình nền nếp, nho nhã, ăn ở kính trên nhường dưới. “Ông Giao cho biết, sau năm 1954 gia đình không theo nghề lọc vàng nữa, các thành viên trong nhà chuyển sang làm nhiều công việc khác nhau. Ông Giao theo nghề đông y, với bài thuốc gia truyền chữa các bệnh cột sống. Người lưu giữ ký ức sinh hoạt gia đình ở số 6 Đinh Liệt này là con gái thứ 3 của cụ Tề - họa sỹ Nguyệt Nga. Ông Thanh bố bà về già hay uống rượu. Người uống rượu trong tranh treo ở phòng khách là ông Thanh. Ở phòng khách còn treo tranh chân dung của các thành viên trong gia đình. Họa sĩ Nguyệt Nga có tranh khắc gỗ, tranh lụa, tranh sơn mài. Tranh của nữ họa sĩ có thể là hiện thực cuộc sống như tranh Hát ca trù, như tranh Đánh cờ, như tranh Cơn giông, như tranh Các sơn nữ, có thể là từ tứ thơ của nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp, hay ý tưởng lấy từ ca dao v.v.






© Tác giả giữ bản quyền .
. Cập nhật trên Newvietart.com ngày 22.05.2011 theo bản gởi của tác giả từ Sài Gòn.
Đăng tải lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com