Καπετάν Μιχάλης - Kapitan Mikhalis



TỪ VŨ
phóng dịch

để kính tặng những người
còn thực sự nhớ đến những chữ :
Đoàn Kết - Độc Lập - Hoà Bình - Hạnh Phúc - Tự Do cho dân tộc Việt Nam
Và cũng để ước mơ một ngày ,
một nhà văn Việt Nam nào đó có đủ khả năng
viết lên được một tác phẩm văn chương lớn như
Καπετάν Μιχάλης - Kapitan Mikhalis - Tự Do hay Chết

TỪ VŨ
Troyes, ngày 04.02.2010

LƯỢC TRUYỆN :

Nối tiếp nhau, từ đời cha cho tới đời con, người dân đảo Crète (Hy Lạp) truyền lại cho nhau nỗi căm hận quân xâm lược Thổ , những kẻ đã chiếm đóng , đàn áp các sắc dân không theo Hồi giáo tại khắp các quốc gia trong vùng Balkan kể từ ngày thành phố Constantinople (Istanbule hiện tại) bị người Thổ đánh chiếm : gần bốn thế kỷ thù hận, nguồn gốc của những cuộc kháng chiến và đàn áp, tàn sát không ngừng lặp đi lặp lại.
Năm 1821 đánh dấu bởi sự vùng dạy dành độc lập của các nước láng giềng. Tại Hy Lạp nói chung , tại Crète nói riêng, những người dân đảo Crète tự hỏi : Bao giờ mới tới lượt mình?
Mỗi mùa xuân, mùa của sự đổi mới, câu hỏi làm tâm trí mọi người Hy Lạp ở Crète chao đao hơn bao giờ hết và chỉ cần một sự kiện thật nhỏ nhặt cũng đủ là một nguyên cớ cho toàn đảo Crete phải bùng cháy. Tại các thị trấn và tại dinh thống đốc, người thống đốc Thổ và người lãnh đạo dân Thiên chúa giáo địa phương phải có trách nhiệm ngăn ngừa trận "hỏa hoạn" này.
Đó là lý do vì sao, không bao lâu trước mùa Phục Sinh năm 1889, Nouri Bey có bổn phận triệu tập Kapitan Mikhalis và bảo ông ta phải quở trách em ông, Manousakas, về việc đã dẫn một con lừa vào nhà thờ hồi giáo như cố tình ngạo báng. Và nhân dịp này, cũng muốn xoa dịu người khách được mời, Nouri Bey gọi người đẹp của ông ta , Emine Hanoun , đến hát mừng chào đón một cách danh dự người khách được mời : Chính đấy lại là tia lửa châm ngòi cho thùng thuốc nổ và tạo nên một trong những thời kỳ bạo lực dữ dội nhất trong cuộc chiến dành độc lập chống lại quân xâm lược Thổ do các nhân vật của tiểu thuyết sử thi này cầm đầu .

Καπετάν Μιχάλης - Kapitan Mikhalis - Tự Do hay Chết - La Liberté ou La Mort - Freedom or Dead , là một trong những kiệt tác của văn học Hy Lạp và đã được chuyển dịch sang hầu hết các thứ tiếng trên thế giới.

Newvietart hân hạnh giới thiệu tiểu thuyết Καπετάν Μιχάλης, lần đầu tiên, được chuyển dịch sang Việt ngữ của Từ Vũ .

KỲ THỨ 11

CHƯƠNG XIII


Mọi người chờ đợi, yên lng. Ông nội ra dấu cho Kosmas.

- Lấy một cái ghế đẩu, ngồi xuống,  đứng làm gì cho mệt cháu ạ. Hãy nghe. Cháu có hiểu được gì hay không ?

- Dạ  ! thưa ông cháu hiểu . Kosmas lúc này cũng đã ngồi sát đất, đôi chân đánh vòng kiềng , trả lời.

Yanacos trở lại với một chiếc ba lô, đặt xuống chân cha anh ta. Kapitan Mandakas cúi xuống mở, lấy ra một cái chai có  cổ thật lớn đóng thật kín bng một cái nút da.

- Cái gì ở trong đó vậy? Kapitan Sifakas ngóc đầu lên thử nhìn.

Kapitan Mandakas mỉm cười.

- Đó chính là câu trả lời cho ông hả ? , ông nội  tức giận hỏi. Cái chai gì đó?

- Thường thì một người đàn ông mỗi khi đi xa, để bánh, rượu, thịt trong ba lô. Tôi, tôi đem bánh, rượu, thịt và cái chai mà ông thấy đây...

- Cái gì trong đó ? Ông nội lại hỏi. Tôi chng trông thấy gì cả.

Kapitan Mandakas đưa chai dí sát mt ông nội. Ánh sáng màu cuối cùng của ngày, màu tím , rọi qua thân chai.

- Ông có thấy gì chưa ? Kapitan Mandakas vừa hỏi vừa xoay xoay cái chai ông đang cầm trong tay.

- Tôi thấy có những miếng thịt, ông nội đáp. Những miếng thịt ngâm trong nước.

- Ông già Sifakas ơi, không phải là thịt đâu, đó là những cái tai. Mà cũng không phải là nước đâu, đó là  chất cồn . Từ cái ngày mà một thng  Thổ làm tôi phải ngã  và ăn mất một cái tai của tôi, năm 1821 đó, tôi thề rng sẽ bỏ vào  chai  một cái tai của bất cứ một tên Thổ nào mà tôi giết được...Để tôi kể chuyện của tôi cho ông nghe, Kapitan Sifakas, tôi chỉ cần nhìn từng cái tai đang nm trong chai rồi cứ thế mà nói. Tôi biết rất rõ cái tai nào là của tên nào. Này nhé, cái tai đầy lông lá nm dưới đáy chai là của một kẻ thù ghê gớm của người Thiên chuá giáo chúng ta, thng Ali Bey... Chính nó đã sát hại em tôi, Panayis và sau đó, nó đi tới một biệt thự của nó nm ở ngoài  Réthymno  để tiệc tùng với bầy tỳ thiếp . Nó còn cho treo đèn lồng sáng rỡ như chứng tỏ với mọi người rng hn đang tiệc tùng ăn chơi . Tôi, tối hôm đó, tôi ngồi hút điếu ống ở môt quán cà phê Thổ trên đường vào Réthymno. Tôi bảo với tên chủ quán: Hãy mang lại đây cho ta một cục than đá, điếu của ta sp tt mất rồi." sau đó  tôi nhẹ nhàng cuộn cái ống hút và lẻn ra ngoài. Ngay khi vừa ra khỏi quán, tôi đi như bay qua cánh đồng, tới nhà thng Ali Bey. Tôi lẻn vào, lên phòng nó thì gp ngay lúc nó đang ở trên giường với một con  nô tỳ , tôi lao lên người thng Ali Bey, cứa đầu  nó  rồi ct lấy một cái tai  bọc trong chiếc mùi xoa đút vào túi sau đó quay trở lại quán. Chng một ai biết là tôi vng mt. Ngày hôm sau, khi tin tức loan truyền về vụ sát hại thng Ali Bey, tên tổng trấn Thổ hất đầu nói : "Đó , đó lại là ngón đòn của Mandakas, nó đã nói rồi mà. Chính Mandakas giết Ali Bey." Nhưng tất cả bọn Thổ ở quán tối hôm trước đều thề rng Kapiant Mandakas đã ở chơi, hút thuốc  suốt đêm trong quán của Hassan nhất định không phải là ông ta được.

Dứt lời, Kapitan Mandakas đưa chai, chỉ ngón tay cho Kapitan Katsirma coi :

- Ông có nhìn thấy không ?. Đây là cái tai của thng Ali Bey.

Dứt lời, ông lại chỉ ngón tay vào một chiếc tai khác nói :

- Cái tai lớn này, đen thủi đen thui có cái vòng khuyên đó, nó là của một thng mọi đen. Tên nó là Ramadan. Một kẻ thù khác cũng rất nguy hiểm của  người Thiên chúa giáo, cầu trời cho nó bị xuống địa ngục!. Nó hay ra lệnh cho những người đàn bà phải qùy trước một cái rương mỏ toác , bt họ phải đặt tỳ cả hai vú của họ trên thành rương sau đó khép rương lại rồi đặt đít ngồi lên trên  ... Ông cứ tưởng tượng sự man rợ của nó. Một đêm, tôi chạm trán với nó. Nó chỉ đi có một mình trên bãi biển ở Trypiti, bên ngoài thành Candie. " Này Ramadan, tôi chọc tức, mày không sợ trời phạt mày hay sao ?" - " Trời phải sợ tao chứ không phải là tao phải sợ trời! vì tao là Ramadan!. Thng chó chết đó  trả lời tôi. " - " Còn tao là Mandakas,  tôi vừa đáp lại vừa rút dao ra khỏi tht lưng . Hãy rút dao ra chơi với tao. ""Tao không đem theo, may mn cho mày vì bữa nay tao không có dao!" " Tao, tao có hai con, mày lựa con nào cũng được!" Nói xong tôi lôi từ tht lưng ra và  vứt cho nó một con dao khác. Thế là trận đấu khởi diễn trên nền đá cuội, ngay bờ biển. Trấn đấu diễn ra rất lâu, cả mấy giờ đồng hồ...Đêm đã xuống từ lâu. Máu trên người cả tôi lẫn nó tươm chảy, mồ hôi nhễ nhại. Người nóng bỏng tới độ cả hai thỉnh thoảng phải ngưng lại, lội xuống nước cho mát rồi lại tiếp tục. Chng ai rỉ răng nói một lời mà chỉ thỉnh thoảng vì đau phải rên nhẹ. Một tên bạn của thng mọi đen xuất hiện. Đó là một thng da đen bc phi châu . Nó vội vàng chạy tới định tiếp sức thng mọi đen. " Tao xé thây mày hệt như xé một con cá mòi nếu mày can thiệp vào đây. Cút đi!" " Mày ngon Ramadan ạ, mày là một đứa có can đảm, tôi khen nỏ ' Mày cũng thế, Kapitan Mandakas, nó đáp lại. Cả hai đứa mình đều là loài mãnh hổ. Nhất định một trong hai đứa sẽ có một đứa phải chết!".

  Tôi lợi dụng  một phút yếu đuối của nó để nhẩy chòm lên gáy nó rồi đâm một nhát cực mạnh vào chính giữa cổ họng  như người ta thường đâm một con heo. Nó ngã xấp mình xuống nền đá, tôi ct lấy một lỗ tai , đó , cái tai này!.

  Kapitan Mandakas lại chỉ ngón tay vào một lỗ tai khác. Ông đã có trớn để nói,  kỷ niệm một thời mà ông đã tạo nên những kỳ tích như sống lại, hâm nóng  tâm trí ông.

- Cái tai này, nó bt đầu xanh tím , đó là của thng đồ tể Moustafaya. Còn cái tai này, ở giữa chai , là của một thng người Albanie. Cái khác, gần đó, hơi xeo xéo đó, là của một thng thầy cả đạo Hồi . Thng này có một giọng rất tốt hệt như giọng chuông, nhưng đáng tiếc cho nó phải bỏ thây dưới tay tôi. Lẽ ra tôi phải nghĩ tới chuyện ct lưỡi nó để ngâm vào cồn. Bây giờ thì tất cả đều chấm dứt. Cái tai nhỏ  quăn quéo như một cái vỏ ốc đó  là của thng Pertef Effendi. Thng này quả thật  là đẹp trai, thng khốn, nó đẹp  như thánh Georges. Cũng tại lỗi nó mà ra cả!. Nó cưỡi ngựa thả dong vào những khu của người Thiên chúa giáo, rù quyến phụ nữ. Ít người thoát khỏi được miệng lưỡi dẻo quẹo của nó. Tội nghiệp cho các phụ nữ nhẹ dạ. Thế là , một đêm, tôi lẻn vào nhà thng qủy dâm dục này, trận đánh diễn ra ngay trong phòng ngủ của nó nhưng tên này thực là yếu đuối nên chống cự lại tôi chỉ được một thời gian ngn rồi để tôi ct họng  lấy tai nó, cái tai đẹp mà có nhiều viền đó!. Mỗi cái tai là một câu chuyện. Trong cái chai tôi đang cầm đây có tất cả những cuộc cách mạng ở đảo Crète của chúng ta, đó là tôi chưa tính tới những cái tai mà tôi đã ct trong những trận đánh, nếu không tôi sẽ chng thể nào kể lại hết được nữa! Tất cả các cuộc cách mạng, cuộc cách mạng năm 1821, 1834, 1854, rồi năm 1878... Nhưng bây giờ thì tôi cũng đã già nên chng thể ct lỗ tai đứa nào được nữa...

Kapitan Mandaks nói, hình ảnh đảo Crète dâng tràn người ông,  đầu óc ông như bốc lửa .

- Tôi là một con mãnh thú, quả đúng như thế, xin  đất trời  thứ tha cho tôi. Lúc mà một cuộc cách mạng bùng nổ là tôi bỏ ngay nhà cửa, vợ con, vườn nho, đồng lúa của tôi để nhảy lên mình ngựa rong ruổi đi tìm vị chỉ huy của tôi, Kapitan Korakas.

Ngưng lại một giây, Kapitan Mandakas nhớ lại hình ảnh vị kapitan lừng danh của ông,  thở dài tiếp tục :

- Những người như ông ấy, ngày nay thực là hiếm. Bên cạnh ông, bọn ta chng là cái quái gì cả !.

" Ông ấy nói rất ít, Kapitan Korakas và những câu nói của ông qủa thực vô cùng đúng đắn; chưa một ai được nghe ông ấy nói đùa. Đôi mt ông ta tròn xoe, đen thẫm và dữ tợn hệt như cp mt diều hâu. Chng có một khuyết điểm nào, không uống rượu, không chửi thề, không trai gái. Trong chiến tranh , ông thúc ngựa lao vào đám lính Thổ, chng cần nhìn lại sau lưng có ai theo tiếp trợ hay không và cũng bất cần biết hàng ngũ kẻ thù nhiều ít bao nhiêu. Những viên đạn bn như mưa như cũng chng thể  đụng được vào mình ông. Ông ấy chng phải là một người, đúng, chng phải là người. Là một vị  tướng nhà trời !.

Kapitan Mandakas lại tiếp tục :

- Là một thiên tướng, chỉ còn thiếu đôi cánh nữa!

Cụ chủ nhà vừa nghe vừa bồn chồn nhúc nhích người trên tấm nệm đang nm. Nhưng ông cố kiên nhẫn, gãi gãi trái chanh bng mấy móng tay rồi đưa lên mũi ngửi. Sau cùng, hết chịu được nổi nữa, bng một giọng  tức bực Kapitan Sifakas lên tiếng :

- Thôi ! Bỏ dùm cái chai vào ba lô của ông đi , ông Kapiatan Mandakas ơi !. Sự tàn ác của loài người thật chng còn có một giới hạn nào nữa. Bỏ cái chai vào ba lô ngay đi, hãy trả lời cho tôi điều mà tôi hỏi đây :  Tất cả những cái tai mà ông đã ct nó đã cho ông học được điều gì ? Ông trông thấy cuộc sống ở trong chai này à, nếu thế thì cho tôi biết : con đường mà ông đã theo đuổi là đúng, là tốt hay sao ? Tất cả những cái gì ông đã làm, có cái gì làm cho ông phải hối hận  không ?

- Hối hận à ? Kapitan Mandakas hét lớn, phẫn nộ. Nếu phải làm lại , Kapitan Sifakas, ông hãy nghe đây, tôi sẽ cũng chỉ cưới người đàn bà đó, tôi cũng sẽ chỉ giết những thng Thổ đó - có thể còn nhiều , nhiều hơn nữa - tôi sẽ cũng chỉ mc những cái quần đó, tht sợi giây nịt đó, mang những đôi ủng đó ! ... Tôi sẽ chng thay đổi cuộc sống của tôi dù chỉ một ly một tấc! Rồi khi nào phải trình diện trước Thượng đế, cũng sẽ với cái chai của tôi này trong nách tôi, tôi sẽ nói : " Hoc là Ngài cho phép tôi vào Thiên đàng với cái chai này, hoc tôi sẽ chng vào !"

- Như thế là ông sinh ra chỉ là để giết chóc, lão Mandakas ơi! Chc vì là chỉ để giết chóc mà ông trời đã gởi ông xuống mt đất này hả ?.

- Không, tôi không thích giết người, lão Sifakas ơi, ông muốn bới móc gì đây. Tôi không phải là một kẻ khát máu, không, tôi giết không phải chỉ để giết. Nhưng...Nói tới đây, Kapitan Mandakas ngừng lại, đưa tay gãi chiếc đầu sói của mình để suy nghĩ, rồi, bất thần la lớn :

- Nhưng...tôi chiến đấu để dành sự Tự Do!

Kapitan đã nói được ra, những ý niệm cũng đã được sáng rõ  hơn trong đầu ông. Ông bt đầu hiểu :

- Đúng rồi, đúng rồi. Ông đã hỏi tôi con người chúng ta  từ đâu tới rồi sẽ đi về đâu. Tôi đã không biết để trả lời. Nhờ nói nhiều từ nãy tới giờ, đầun óc tôi sáng sủa ra. Từ thân phận Nô Lệ  mà ta sinh ra  để ta sẽ đạt được hai chữ Tự Do. Sinh ra là nô lệ và ta chiến đấu suốt đời ta để trờ thành những con người tự do. Đối với chúng ta, những người đảo Crète này, chỉ có một phương cách duy nhất để có tự do, đó là phải giết chóc. Đó, đó là để trả lời vì lẽ gì mà tôi phải giết mấy thng Thổ. Ông đã hỏi tôi, tôi đã trả lời. Giờ thì, tôi đã già, tôi đã rửa dao gác súng và khoanh tay bất động để chờ thần chết cứ tự nhiên  tới rủ tôi đi là xong mọi chuyện !

Dứt lời, Kapitan Mandakas quay lại vừa đưa cái chai đựng lỗ tai vừa nói với người con trai nuôi :

- Yanacos, để lại chai này vào ba lô  cho ta!.

- Đúng! Đúng ! Rất là đúng ! ông nội la lên, Kapitan Mandakas, ông nói rất chí lý, hoan hô cả tay chân lẫn  miệng lưỡi của ông đó. Tuy ông đã phải để một thời gian dài nhưng cuối cùng ông  đã hiểu ra chuyện. Ông đã đi được con đường mà ông muốn đi. Đi cho tới cuối đường, làm tròn bổn phận của ông. Nhưng, chớ có nên  nghĩ rng chỉ có duy nhất con đường đã đi của ông mà thôi, còn những con đường khác, ông sẽ trông thấy ngay bây giờ. Dứt lời Kapitan Sifakas quay nói với Kapitan Katsirmas, người cướp biển :

- Tới phiên ông !.

Con sói biển siết  cht bàn tay ông ta. Đôi mt trở thành đỏ ngầu.

-Tôi không ưa cái kiểu như thế này, ông già Sifakas ạ. Ông mời bọn tôi tới đây, trong sân nhà ông, ông viện cớ là ông lớn  hơn tụi này hai hay ba tuổi, ông muốn làm sếp rồi hạch hỏi tụi tôi. Không, tôi sẽ chng  nói năng gì cả !

- Đừng nóng nảy như vậy, đồ nửa điên nửa gàn ạ! Ông nội hét . Không phải là vì tôi già hơn mà tôi làm sếp, mà là vì tôi sẽ phải ra đi đầu tiên hơn nữa đang gấp gáp nữa. Tôi không muốn chết...phải giải thích như thế nào cho ông hiểu nhỉ? Tôi không muốn chết trong mù quáng. Tôi mời các ông tới để giúp tôi, các bạn già  ơi, vạch rõ cho tôi hiểu. Nói thế ông đã hiểu chưa, Kapitan Katsirmas?.

- Tôi đã hiểu, đừng la lớn như vậy chớ. Nếu như ông là một con tầu đang gp nạn thì tôi lập tức nhổ neo vọt tới cứu ông. Tôi đã trải suốt đời tôi để chống chỏi với biển cả sóng dữ . Đời tôi, tôi chỉ biết  có sóng gió và biển cả ngoài ra thì tôi ... chịu thua. Vì như thế , lẽ gì mà ông lại  hỏi tôi được chớ, tôi trợ giúp ông được thứ gì nào ?

- Tôi đang sp chết đuối, ông nội rên rỉ ,  một kẻ sp  chết đuối chỉ còn biết bám víu vào chính  mình...

- Cứ bám vào chính  ông đi thì hơn, ông già Sifakas ạ, đừng bám víu gì vào bọn này. Ông đang đứng ở ngay ngưỡng cửa của cái chết thế mà ông còn sợ hả - ông gọi đó là một con sâu, còn tôi tôi gọi nó là sự sợ hãi - ông kêu gào với các chiến hữu của ông rng : "Chuyện gì đã đến với tôi, các ông ơi, tôi sẽ đi về đâu ? " Thật sự bọn tôi cũng chng còn biết được ông nữa, Kapitan Sifakas, bọn tôi cũng chng có thể nói gì được với ông để làm ông bớt đau đớn. Con người sống mù quáng, con người cũng sẽ chết mù quáng, như một con tầu không  bánh lái nhưng tất cả những cánh buồm đều vươn rộng . Những ngọn gió hung bạo sẽ đưa bọn ta tới nơi nào mà gió muốn. Con tầu ngập nước, cả ngày cả đêm chúng ta tận lực bơm nước ra khỏi tầu nhưng nước trong lòng tầu vẫn cứ dâng cao, những cái bơm bị rỉ sét rồi không còn có thể hoạt động được nữa và chúng ta bị chìm. Đó, cuộc đời là thế đó, ông cứ thả sức mà gào thét. Nhiệm vụ của chúng ta ư ? Đó là bơm và bơm, bơm ngày bơm đêm, chng một giây một phút ngừng tay cũng chng cự nự, rên rỉ. Như thế đó, như thế để luôn giữ được vẻ đáng kính của chúng ta, ông già Sifakas ơi? Bơm ngày bơm đêm, hết đêm rồi đến ngày, đó là những gì mà cuộc đời đã dạy tôi. Dù cho chúng ta có muốn hay không muốn , đời là thế đó !.

Vẻ tức giận, Kapitan Katsirmas quay về phía Kapitan Mandakas .

- Tôi không như ông, Kapitan Katsirmas ơi,  ông đóng đinh dính cht hai chân ông với nền đất,   đôi mt che hai mẩu da chn như một con ngựa, chỉ biết nhìn thấy duy nhất có bọn Thổ rồi ct lỗ tai bọn nó bỏ vào chai ngâm cồn và rồi cứ thế  chỉ hết cái tai này tới cái tai khác để lớn tiếng : Đây, cái chai này, là cuộc đời của tôi!

" Tôi đi đó đi đây, Kapitan Mandakas ạ, tôi đã được nhìn cả thế giới, được ngủ với tất cả mọi thứ đàn bà, tôi đã đi tới tận cùng Phi châu, nơi mà mt trời có thể nướng chín được bánh mì. Những hải cảng tôi thả neo tầu không thể kể được hết, tôi đã trông thấy hàng triệu người da đen, da vàng. ..

Lúc đầu tất cả mọi người đều làm cho tôi chán ghét, ngoại trừ dân đảo Crète này và những người theo Thiên Chúa giáo. Nhưng dần dà, lân cận tiếp xúc với họ đã làm cho tôi mở mt nhận được ra là tất cả mọi người đều giống hệt  nhau kể cả cái tốt cũng như điều xấu.

"Và tôi lao mình vào chuyện cướp biển. Tôi hiểu rng thế giới này làm bng  hai cái hũ : hũ làm bng đất nung  và hũ làm bng đồng , hai cái hũ đó va chạm nhau, chen lấn nhau, xô đấy nhau." Hãy là cái hũ bng đồng, ông bạn đau khổ Katsirmas ơi, tôi tự nhủ như thế, để không bị vỡ. Nếu vỡ thì coi như hết chuyện, chng còn có thể hàn gn gì lại được nữa."

Thế là tôi liên kết với bọn Algérie, kéo là cờ đen lên cột buồm, tấn công những tầu bè bt gp trên hải trình, bn, giết, cướp bóc ... Sau đó bọn tôi tới những hoang đảo để cất dấu  chiến lợi phẩm thu lượm được. Hn các ông còn nhớ lần đó, tôi đã đổ nguyên một tầu đầy khm đinh hương, quế, quả nhục đậu khấu ở Graboussa. Và toàn đảo Crète của chúng ta thơm nức những mùi hương qúy đó. Ông còn nhớ chứ , Ông già Sifakas ơi ? tôi đã sai người mang tới  ông một con lừa nng triũ lưng những giỏ đinh hương, quế... như một món quà tng của tôi gởi biếu ông .

- Tiếp tục, tiếp tục, Ông nội dục, nhưng nhanh lên. Ba hoa chích choè như vậy để làm gì chớ ?

- Ông sẽ biết rồi hiểu để làm cái gì ! Bọn tôi chng sợ bất kỳ ai, kể cả ông Trời. Tôi, một người Thiên Chúa giáo, bọn theo tôi, Hồi giáo, nhưng tất cả chúng tôi không hề để bất kỳ một chiếc tầu nào trên đường tới La Mecque hay Jérusalem, tất cả những kẻ đi hành hương đều bị bọn tôi giết hết. Tôi là một con thú hung bạo trong đám thú hung bạo đó? Cũng như những tên cướp biển người Algérie, đầu tôi cạo trụi  chỉ để lại một bím tóc nhỏ ở phiá sau gáy. Tôi thu hoạch được cả những thùng tiền đủ loại. Tôi chọn hai hay ba người đàn bà trong mỗi tầu để chửng dỡn, làm tình cho thoả thích sau đó vất xuống biển. Tôi là một con thú hung bạo mà, hung bạo hơn ông nữa Kapitan Mandakas ơi! Khi mà ông hỏi tôi là tôi có hối hận hay không, Kapitan Sifakas, tôi sẽ trả lời ông : Đời tôi đã xuôi chảy một cách rất thoải mái, rất oai hùng và cũng rất là chính nghĩa. Tôi chng hối tiếc gì . Ông Trời tạo ra tôi là một con thú hung bạo nên tôi đã sống như một con thú hung bạo. Ông ấy tạo ra tôi là một con chó sói, tôi phải ăn những con cừu. Nếu ông ấy tạo ra tôi là cừu thì tôi cũng đã bị những con sói ăn thịt. Đó là một quy luật . Chng phải lỗi ở tôi mà là lỗi ở kẻ đã tạo ra chó sói và cừu.

Người cướp biển già ngưng lại một chút, nhìn những người chiến hữu già . Ông ta, hình như, chờ đợi xem có ai hạch hỏi gì ông nữa hay không, nhưng chng một người nào lên tiếng. Ông tiếp tục:

- Bây giờ thì, các vị Kapitan ơi, tôi đã già, một bên sườn tầu của tôi đã bị nứt vỡ, tôi đang bị ngập nước, những cái bơm của tôi cũng đã hư hết rồi. Tôi lui về đất liền và sống ngu ngơ như những người đàn ông khác. Tại sao ? Bởi vì tôi không còn thể như thời còn trẻ ngày xưa nữa, tôi kiệt lực rồi. Răng tôi cũng đã thay phiên nhau từ giã  tôi. Bây giờ thì tôi chỉ là một con chó sói bị ghẻ lở , tồi tàn, rụng răng, tôi giả ngu giả điếc đđóng cho trọn vai một người đàn ông. Còn sự suy sụp nào  bi đát hơn được nữa nhỉ, các ông bạn gìa của tôi ơi! Tôi không còn có thể giết chóc, gào thét nữa mà chỉ lè nhè kêu be be được như một con cừu con. Tôi ngồi lng thinh ở bên cạnh cái giếng làng để rửa mt lúc nhìn những thiếu nữ đến lấy nước. Nhiều lần, nhiều lần tôi lẫm cẫm và ...tôi khóc. "Tại sao ông lại khóc hở ông ?" bọn con gái  vừa hỏi tôi vừa phá lên cười. "Bởi vì sẽ có ngày ta phải chết , nhưng  những thân hình đẹp đẽ quái qủy của các cô vẫn  tiếp tục tồn tại !." Nói lén sau lưng Thượng đế chứ nếu tôi mà là một ông vua thì tôi sẽ lựa chọn những cô ả đẹp nhất trong đám rồi ra lệnh ct tiết   trên mộ tôi để tôi có thể mang theo được sang bên kia thế giới .

- Đúng  !  Ông đúng là một con thú hung bạo, Kapitan Katsirmas, ông nội la lớn, một con thú khát máu, thôi im đi!.

- Ông đã đặt câu hỏi, tôi trả lời, ông bảo tôi mở bầu tâm sự của tôi ra, tôi đã mở. Ông sợ phải không, ông bạn gìa Sifakas ơi?. Kapitan Katsirmas vừa mỉa mai nói  vừa lườm lườm nhìn ông nội.

" Tôi đã mở bầu tâm sự, Kapitan Katsirmas tiếp tục la lớn, và những con qủy dữ trong người tôi thoát ra, ông đã nghe được tất cả rồi! Chính ông đã tra hỏi tôi, tôi nói những gì tôi nghĩ dù rng ông có thích hay không . Ông hỏi tôi con người từ đâu tới hả ? Từ đất ! Kapitan Sifakas ạ! Nhiệm vụ của chúng ta là gì hả ? Tôi chỉ  vn tt vài lời với ông  : Nếu ông là một con sói, xé mồi ngấu nghiến ăn. Nếu ông là một con cừu, ông sẽ bị xé xác! Còn con chó sói lớn, nếu ông muốn biết nữa, đó chính là Thượng đế! Thượng đế ăn tất cả, ăn chó sói, ăn cừu...ăn cả thịt lẫn xương ".

- Đừng xúc phạm tới Thượng đế, tên cướp biển gìa kia ơi! Kapitan Mandakas dang rộng hai tay can thiệp . Ông bị say nên đầu óc rối mù rối mịt, ông nói  mà chng biết là nói những gì nữa. Con sói lớn  là Thần Chết chớ không phải là Thượng đế!

Kapitan Katsirma bật cười :

- Thượng đế hay Thần Chết đều chỉ là một, ông bạn ơi! Ông chỉ lập lại lời mà người ta thường nói . Dứt câu, ông quay lại nói với Kapitan Sifakas :

- Đó là tất cả những gì tôi muốn nói với ông, ông bạn gìa ơi, đó là những câu trả lời của tôi. Bây giờ thì ông hãy ra lệnh cho bọn trẻ rót rượu cho tôi uống đỡ khát.

- Rót rượu vào ly cho ông ấy, ông nội nhìn bọn con cháu rồi ra lệnh. Ông ấy đã thú nhận tội lỗi thì ông ấy sẽ được giải tội.

Dứt câu, ông nội yên lng, cuí đầu xuống một lát, suy nghĩ rồi nói :

- Ta không phán xét vì ta không phải là quan tòa. Thượng đế đã nghe, chính Thượng đế sẽ phân xử tội lỗi ông ấy!.

Quay sang người thầy giáo già từ nãy giờ cúi cái đầu vừa nhọn lại vừa hói  lng yên nghe các vị kapitan bàn cãi, ông nội bảo :

- Đến lượt ông, thầy giáo làng ơi. Ngẩng đầu lên mà nói .

Người giáo già tháo chiếc đàn đang  đeo  lủng lng bên  vai ông , trả lời :

- Suốt đời tôi, tôi đã phải nói, nói đến chán ngấy người. Ông hỏi tôi những thứ thật là khó khăn, Kapitan Sifakas, ai đã nhét bỏ những thứ đó vào đầu ông  vậy ? Những thứ không thể nói được bng lời.

- Như thế thì người ta phải bị câm hết cả hay sao ? Ông nội nổi nóng, la toáng. Câm, mù, bị thiến, đđược hoàn toàn yên thân  hả ! Đó là thứ mà ông muốn hay sao? Nhưng ông bạn gìa của tôi ơi, con người là một sinh vật luôn đặt ra những câu hỏi!.

- Vậy hãy đặt câu hỏi đi Kapitan Sifakas ơi. Đừng nóng giận chớ. Hỏi đi! Hỏi những gì mà ông muốn. Những câu hỏi thường là những chữ những tiếng nhưng không phải là những câu trả lời. Còn phần ông một câu trả lời mà ông muốn.

- Đúng, một câu trả lời, ông nội hất đầu, một câu trả lời!

Thầy giáo già đặt cây đàn lên trên hai đầu gối ông ta :

- Ông muốn một câu trả lời,  ông sẽ có. Tôi sẽ trả lời ông bng cây đàn của tôi. Đó là miệng tôi. Nếu ông hiểu được thì càng tốt , nếu ông không hiểu thì tôi cũng không biết làm gì hơn được nữa ông già Sifakas ơi. Ông sinh ra đã bị mù loà và ông chết cũng trong mù loà!.

- Kéo đàn đi, thầy giáo làng ơi. Ông nội đáp  rồi nhm đôi mt lại.

Bầu trời trở nên sám xịt. Những giọt mưa thật lớn bt đầu rơi. Những chiếc lá chanh rung rung dưới sức nng của những hạt mưa. Mưa rơi trên hai gò má  của ông nội. Ông nội đưa lưỡi liếm những giọt nước thật mát đọng trên chòm râu mép, ông nội đang khát.

Ông giáo già khom mình xuống, dựa ngực vào chiếc đàn lia, cuộn thân thể quanh cây đàn như muốn để cả hai hoà trộn với nhau, rồi  những âm thanh đầu tiên rung lên theo chiếc vĩ kéo.

Trước tiên, cây vĩ nhẩy nhót trên ba sợi dây đàn, làm bật lên những âm thanh rộn rã, như đđầy khoảng sân tối những chuỗi cười làm người ta có cảm tưởng như đang có mt trong một sân trường vào giờ chơi với tiếng trẻ con chạy giỡn , nô đùa, cười cợt ... Đó cũng có thể là tiếng của những chú chim trong một cây liễu rậm rạp lá , vừa chợt thức vì những tia sáng đầu tiên của một ngày vừa lên, đang rù rì,  nhẩy nhót  từ cành này sang cành khác...

Cây vĩ cứ thế nhẩy, cười, muá và những vị kapitans già quên tất cả, tâm hồn họ đột nhiên thật nhẹ nhàng, hệt như những trẻ thơ , những dòng suối nước nhẹ tuôn trên các triền đá...Những người cháu, những bà dâu trong nhà mon men tiến lại gần rồi tới lượt những người giúp việc trong nhà, tất cả đều kéo ra, ngồi xuống đất , mặc cho trời mưa, ngẫng cổ nhìn, lóng tai nghe.

Ông nội cũng nghe. Ông tự cảm thấy rng thân thể nng nề của ông chợt như nhẹ hn ra, từ từ nâng lên, bay bổng trên ngọn cây chanh, cây bách hệt như một đám mây. Chưa bao giờ ông được vui sướng như bấy giờ, một sự nhẹ nhàng, thanh thoát rất có thể chỉ có được trong một giấc ngủ nào đó hay vào một ngày nào đó của ông. Ngày đó, khi quay  về nhà sau một cuộc chiến, ông gội đầu tm rửa , gột bỏ những vết máu đã tím khô dơ bẩn , mc vào người một bộ quần áo sạch mát đđi nhà thờ chịu lễ ban thánh thể... Nhờ thế, thân mình ông như nhẹ hn ra, ở trên không, hệt như một đám mây mát mẻ. Lúc rời nhà thờ  trở về nhà, chân ông bước đi như không chạm đất.

Dần dần, giọng đàn lia chuyển biến. Chiếc vĩ chạm vào những sợi giây rung lên như  tiếng một con chim ưng được tập luyện đđi săn và đang lao mình trong không gian rượt đuổi  một con mồi. Chiếc vĩ trượt, nhẩy từ phải sang trái, ba sợi dây rung lên những âm thanh làm đau xé hệt như những giọng nói đau thương của một con người.

Ngạc nhiên, các vị kapitans gìa ngẩng cao đầu; họ nhớ lại thời thanh niên, chiến tranh, tiếng kêu than của những thương binh, tiếng rên rỉ của những người đàn bà, tiếng ngựa mà người kỵ sĩ đã ngã xuống đất kêu hí, đẫm máu, đứng dựng trên hai chân sau.

" Trả lại cho ta tuổi trẻ hay là hãy ngưng đi, thầy giáo làng ơi!" Kapitan Mandakas muốn gào lên như thế, nhưng tiếng đàn lia vừa chuyển sang một đề tài khác. Lần này thì âm thanh êm hơn, dịu dàng hơn và uyển chuyển hơn. Các vị kapitans vừa ngóng tai  nghe vừa mỉm cười ...Đó là một điệu hơi ướt át của một buổi tối, hệt như tiếng vo vo của một đàn ong hay tiếng thì thầm thật xa của một giòng sông ngầm đang chẩy, hoc tiếng than vãn  của một người đàn bà đang yêu vọng tới từ mé bên kia núi . Cũng rất có thể đó là biển đang thở than, bờ ngực tựa vào bãi cát hay là một giọng còn bí mật hơn nữa ,  mê hoc hơn nữa vượt trên cõi đời, từ Mé Bên Kia, nhẹ, buồn, cuốn hút, kéo giựt linh hồn ra khỏi thân xác. Rất có thể chính là Thượng đế, dấu mình trong bóng đêm thẫm ướt, gọi, mời cái mà Thượng đế đã vĩnh cửu yêu thương : linh hồn con người.

Như bị qủy thần chiếm ngự, qun mình trên cây đàn, thầy giáo già chăm chú kéo đàn. Chiếc vĩ đi tới đi lui như một thanh kiếm , như hn những vết  thương  trên ngực ông , tuôn  ra những thanh âm đam mê  và cũng đau đớn nhất của con  người. Trời đã vào đêm. Thầy giáo già biến hn vào bóng tối, không ai còn có thể nhìn rõ được ông ta. Hệt như một bóng ma, chiếc đàn lia đứng sững, một mình, dưới cây chanh và than thở, hay nói đúng hơn, kêu gọi , van xin .

Một nụ cười rộng và sau thm nở trên đôi môi của ông nội. Bất thần, thân thể  ông như lững lờ  trên ngọn cây chanh, bay lên, thật cao, vượt không gian, cao hơn nữa, mát như một đám sương mù. Tan loãng, hoà trộn, sn sàng để rơi xuống như một đám mưa, ngấm sâu vào đất để làm nẩy nở, nuôi dưỡng những hạt giống.

"Đó là Thần Chết, Kapitan Sifakas nghĩ, đó là Thiên Đàng, tôi đã đi vào Thiên Đàng, chào Thượng đế của tôi !"

Kapitan Sifakas mở mt nhưng không nhìn thấy gì nữa. Trời đã tối.

Rồi trong đêm đó, một giọng nhẹ nhàng, trìu mến đã gọi  bng chính tên của ông: "Sifakas đến đây...hãy đến đây...đến đây..."

- Vâng, tôi đến đây, Kapiatan Sifakas vừa thầm thì đáp vừa nhm đôi mt lại . 

Người nhà đã để ông nm suốt đêm ở ngoài sân, dưới cây chanh, hệt như một thân cây cổ thụ ướt sũng nước mưa.

Kosmas qùy xuống, vuốt đôi mí mt còn ấm  khép lại thật dễ dàng. Thrassaki, ngồi xổm gần thi thể ông, nhìn. Đây là lần đầu tiên mà cậu trông thấy thật gần một người đã chết. Cậu bé rùng mình tuy rng cậu rất kính phục ông nội cậu, người cũng đã thương yêu cậu . Cậu rùng mình không phải chỉ vỉ sợ mà cậu có cảm giác là khi  chết ông nội cậu  có một sức mạnh nào đó rất mới mẻ nhưng  sâu thm và hiểm ác. Nm bất động, ông nội cậu có vẻ như đang mai phục , rình rập những người còn sống để chụp bt và lôi theo ông xuống lòng đất ... Ông nội trở thành hung dữ, bất thình lình, người ông mà cậu yêu thương, trở thành  một con yêu tinh muốn ăn thịt người trong truyện cổ tích mà cậu thường nghe . Thrassaki ước ao được rời khỏi nơi này nhưng cậu không dám nhúc nhích vì thế, cậu bé đành phải ngồi chịu trận, khiếp hãi, thỉnh thoảng lén nhìn người chết .

Gia đình người qúa cố thay phiên thức canh bên cạnh thi hài ông cụ . Cánh cổng nhà mở thật rộng. Biết được tin ông cụ qua đời, cả làng rộn rạo, thay nhau tới chào cụ lần cuối cùng. Tất cả đều nghiêng mình, im lng, cúi hôn bàn tay của người chết  đang đặt ngay trên nền đá . Hai người đàn bà già trong làng lau rửa thân thể cụ Sifakas bng rượu rồi quấn thi hài cụ bng một tấm vải liệm trng làm bng tơ tầm và lin do chính tay bà Lénio, vợ cụ,  dệt lúc bà còn sống để dành cho dịp này. Hai trong số các bà con dâu cụ đặt một ngọn đèn lồng thật to ở đầu và phía dưới chân cụ. Ánh lửa dịu dàng của hai ngọn đèn dầu lan toả trên người chết, làm dịu lại những đường nét trên khuôn mt cụ.

- Hay là bây giờ mang cụ vào trong nhà! Bà Katérina lên tiếng đề nghị. Mình không thể để ông nm dưới nền đất mưa này được .

Nhưng Kosmas ngăn lại :

- Nhưng ông muốn nm ở đây, ông đã nói thế . Ông muốn nm ở đây và muốn được tm mưa mà .

Đêm thật tối. Không một ánh sao trên bầu trời. Chỉ duy nhất những đám mây dầy . Gío nam thổi, bình thản và như đầy lòng thương hại. Những đứa cháu cụ nhóm lửa ở giữa sân để sưởi cho ấm. Trong ánh lửa chập chờn người ta trông thấy những con lừa, ngựa, hai con bò...tất cả đều đi ra khỏi chuồng vì chúng cũng không thể ngủ được. Những con vật nhìn cảnh vật chung quanh chúng như muốn tìm biết  lý do gì mà tối hôm nay, sân nhà lại đầy ánh lửa, đầy người, đầy tiếng nói ...

Như đã chán chường, tựa lưng vào gốc chanh già,  ba vị kapitan nm khòe ngáy trong giấc ngủ, .

- Vĩnh biệt, ông già Sifakas, hãy chào thần chết hộ chúng tôi! những người đàn bà vừa tru tréo gào vừa cởi khăn chùm đầu của họ.

- Hẹn gp lại, Kapitan Sifakas! Những người đàn ông già vừa nói lớn vừa siết tay người chết. Hẹn gp lại cụ!

Mỗi một người phụ nữ ném vào người chết một cọng cây húng dổi, mùi hương kỷ niệm  ở  đất  Crète này để ông cụ mang theo vào cõi chết. Một người đàn bà còn trẻ đặt cạnh thi thể người chết một tấm bảng đen nhỏ còn đầy dấu viết nguệch ngoạc của đứa con trai đã chết : "Hãy đưa hộ cho con trai tôi, cụ ơi! Xin giúp tôi việc này! Nó tên là Dimitraki, hàng xóm của cụ đó, cụ sẽ nhận ra nó ngay. Nó đội một chiếc mũ len mầu đỏ trên chỏm mũ có một túp len, nó đi chân đất."

Bà Katérina mang tới một chiếc mền thật to phủ  lên người ba vị kapitan gìa, sau đó bà tiến lại gần Thrassaki, cầm tay cậu bé :

- Thôi đi ngủ đi con, sp nửa đêm rồi.

Nhưng Thrassaki phản đối :

- Không, con phải thức canh ông nội. Ba con đã không về được thì con phải làm thay cho ba con.

Ánh lửa như chợt bùng lên rực sáng trong đôi mt cậu bé, cứng cỏi, quả quyết, hệt như đôi mt cha cậu. Bà mẹ im lng, tháo lui. Mưa vẫn rơi. Rinio và mấy đứa con gái khác cứ thay nhau đi vào đi ra, bưng những mâm thức ăn , cà phê cho mọi người, người trong nhà cũng như người lạ tới viếng thức canh . Đôi khi, sự yên lng xâm chiếm sân nhà, người ta có thể nghe được, trong đêm sâu thm, tiếng côn trùng rỉ rả, tiếng chim, tiếng chó sủa xa xa, tiếng bò rống...Rồi thình lình, tiếng gà bt đầu gáy. Ngày đang lên.

Mt trời lên cao hơn đầu người lúc ba vị kapitan già mở mt thức giấc trông thấy người chết nm dài trên đá ở trong sân. Cả ba không bộc lộ một cử chỉ nào. Họ lại nhm mt ngủ.

Khoảng giữa trưa . Stavroulios vác chiếc hòm đã đóng lại. Thrassaki vội vã chạy tới xem xét gỗ : Người thợ mộc không lừa dối ,  hòm  đã được đóng bng gỗ hồ đào.

Hai giờ chiều,  thay phiên nhau, các cháu người qúa cố khiêng thi thể ông nội chậm rãi làm một vòng quanh khu vực nhà, quanh làng, ngừng lại ở mỗi ngã ba, ngã tư. Những thiếu nữ xuất hiện ở cửa sổ của các nhà , ném những chùm húng dổi và   kinh giới ô lên thi hài ông cụ Sifakas  như người ta thường làm trong đám rước vào ngày  thứ sáu trước lễ Phục Sinh.

Tất cả dân trong làng, đầu để trần, vui vẻ hệt như Thượng đế của họ vừa thực sự từ trần. Họ tiến bước thật chậm rãi như cố ý để cho ông nội có thời gian chào vĩnh biệt ngôi làng ông đã sống. Nhưng, bất thình lình, khi tất cả đi vào lối dẫn tới nghĩa trang, lúc vừa ra khỏi Pétroképhalo, bầu trời như  bị xé toạc ra  và một trận giông dữ dội bùng nổ.

Những người nông dân reo mừng. Họ  chờ đợi mưa đã nhiều tháng nay vì trong những luống cầy, hạt mầm đang đe dọa bị khô cháy. Thật là Thượng đế đã nhủ lòng thương để bây giờ đem mưa đến cho họ. Những người đàn bà ngẩng lên trời và như hiến tng khuôn mt  xạm nng khô khan cho những hạt mưa tới tấp rơi.

- Ông già đã biến thành mưa, ông trở về với đất ... Tiếng thì thầm của một người già trong làng.

- Ông ấy biết thật rõ  nỗi lo lng của bọn ta mà, một người khác nói. Ông ấy biến thành nước để tưới cho ta đấy.

Cả đoàn đến nghĩa trang, không một chút vội vã, ướt đẫm người vì mưa. Hai người lực lưỡng nhất trong đám cháu sn tay áo, đào huyệt. Đất  mền  và đỏ thm, đầy những rễ cây cùng những vỏ sò làm như ngày xưa biển đã phủ tràn trên vùng đất núi non này. Mưa vẫn rơi, vẫn tiếp tục rơi...

Ông nội từ từ xuống lòng huyệt , nm dài mình. Mỗi người trong đoàn đưa đám ném xuống một nhúm đất rồi rời nghĩa trang, dưới cơn mưa.

Giờ thì mọi người đều gần như tất tả chạy. Họ hối hả quay về đđược ngồi vào bàn sau khi đã hoàn tất việc chôn cất. Họ ăn, họ uống món thịt cừu mà người quá cố đã trối trăn hiến tng cho họ vào dịp này .

Kosmas ngồi riêng một góc trên chiếc tràng kỷ thật rộng. Tâm trí anh thật buồn bã, thân xác anh cũng rời rã . Anh nhm mt lại để tĩnh dưỡng một chút trước khi làm cuộc hành trình  vào trong núi. Haridimos, ông gìa làm công trung thành của gia đình, được lệnh sửa soạn một chiếc đèn lồng và cũng đã sn sàng. Trước khi trời sáng, họ phải đến được nơi đóng quân của Kapitan Mikhalis. Kosmas  chỉ nhm mt được một vài giây nhưng cũng đđể anh nhìn thấy   người cha đã chết của anh hiện ra trong giấc mơ chập chờn. Kosmas nhận ra thật rõ rệt đúng là cha anh. Ông đứng ở cầu thang nhà , chuẩn bị bước lên phòng, một chân ông đã  sp sửa bước lên bực thang đầu tiên. Kosmas hoảng sợ. Vợ anh đang ngủ ở trên đó, ông già sẽ làm cho cô ta kinh hãi... Anh lao mình về phiá người cha. " Cha đi đâu đó ? " Anh la lớn. Người chết quay lại, nhìn anh với một vẻ dữ tợn, râu mép trễ xuống, một nốt ruồi trên gò má phải, đầu buộc cht một chiếc khăn tay đen, diềm khăn nhỉ máu. Miệng ông là một vết thương bịt kín bng bông gòn.

 Đôi chân mày của ông dúm lại nhìn anh. Ông đang thật giận dữ vì hai hàm răng nghiến lại và một ngọn lửa đỏ bùng ra từ hai lỗ mũi làm  rực sáng khuôn mt ông . Thình lình, ông mở miệng, những mẩu bông gòn rơi xuống và vết thương hiện rõ. Ông bật lên một tiếng càu nhàu thô lỗ, đặt bàn chân nng nề lên bậc thang và khởi sự leo lên.

" Cha ơi, Kosmas kêu lớn, đừng đụng tới nó, nó là vợ của con."

Người con trai can đảm lao  về phía người chết.

" Đừng đụng tới nó, Kosamas lại kêu lớn, đó là vợ của con." Anh giơ tay để níu người cha lại và ngăn cản không cho ông bước lên thang, nhưng người chết biến mất,  người chết đã biến thành khói. Kosmas không còn nhận ra được gì nữa mà  chỉ còn nghe được tiếng chân nng nề trên các bậc thang.

Kosmas la lớn rồi giật mình tỉnh dạy. Anh mở mt   nhìn thấy những người khách dự đám tang đang ngồi ăn.

Nm dài, bốn chân đưa lên trời , một con cừu đực lớn, vừa ra khỏi lò quay, còn bốc khói đặt trên một chiếc mâm thật to bng kim loại,  đầu và sừng còn nguyên như khi còn sống. Những người nông dân đang đói xúm lại chia phần. Những người cháu lần lượt mang ra những hũ rượu và bữa ăn khởi sự hệt như trong một buổi tiệc vui. Hết lượt chạm ly này lại tới lượt chạm ly khác, những người dự tiệc mời mọc nhau một cách thật vui vẻ. Không phải chỉ vì rượu mà còn là trận mưa đang rơi trên vùng đất cầy đang khao khát được nhận những giọt nước, cái chết của ông nội ... cầu xin linh hồn ông được an nghỉ ! lời của một ông già trong đám khách và họ cứ thế tiếp tục ăn, tiếp tục uống, tiếp tục vui cười. Những đôi chân họ cũng bt đầu ngứa ngáy, họ muốn được nhẩy múa. Những người cháu của người và những bà con dâu vừa qua đời tới, lui, núng nính uyển chuyển. Rượu không làm cho tất cả trở thành câm. Kẻ có giọng hát hay nhất làng, người thợ mộc Stavroulios, quên bng đi là anh đang ở trong một bữa ăn tang lễ vừa định cất giọng hát nhưng vài người ngồi cạnh kịp thời bịt miệng anh ta lại. Để ngăn ngừa chuyện không hay có thể xảy ra, vị trưởng giáo trong làng , sau khi đã ực một ngụm rượu,   xướng lên một điệu hát thánh vịnh những thiên thần bng một giọng ai oán.

Kosmas đứng lên, tiến lại kéo tay mợ Katérina ra riêng một góc :

- Mợ Katérian ơi, tối nay cháu sẽ lên núi để gp chú . Mợ có cần cháu nói gì với chú hay không ?

Người đàn bà đứng tuổi thở dài :

- Ông ấy mà nghe lời  mợ à ! Nếu ông ấy  đã nghĩ gì trong đầu ông thì dù cho trời có sập cũng chng thể ngăn cản ông ấy được cháu ạ. Cầu xin Thượng đế phù trợ cho chúng ta!.

- Chú ấy không biết thương  con trai chú hay sao hở mợ Katérina ?.

- Có, ông ấy thương thng bé nhất trên đời này, nhưng ông ấy không nhượng bộ đâu. Ông ấy làm những gì mà ông ấy đã quyết định làm. Cháu ạ, đừng hy vọng gì vào một người đàn ông mà chính ông ta cũng không biết thương cảm gì tới ngay cả bản thân mình.

Dứt lời, bà Katérina đưa tay áo lên chuì những giọt nước mt đang chực trào ra rồi im lng.

Kosmas lại gần Haridimos, đang ngồi nhai nhồm nhoàm một miếng thịt cừu, mỡ chảy ròng ròng lên chòm râu dê mỏng của anh ta.

- Haridimos, Kosmas lên tiếng, anh đã ăn, đã uống, đã góp phần vào tang lễ ông nội, bây giờ thì đứng lên, chúng ta đi.

Người làm công gìa cúi đầu, phân trần :

- Trời còn mưa, mưa như thác đổ . Ở ngoài mình sẽ  không nhìn được gì nữa cậu ơi !.

- Đi! người cháu trai quả quyết . Mình phải đi.

- Nếu vậy thì mình đi, Haridimos thở dài và   nhủ thầm đúng là mình thiếu may mn không được tiếp tục bữa tiệc vui như buổi tiệc này.

- Chúng ta lên đường, Kosmas ra lệnh. Ông có cầm theo chiếc đèn lồng  chưa ?

Bài thánh vịnh đã nhẹ nhàng chuyển sang những điệu hát vui. Stavroulios hỏi người  trưởng giáo :

-  Xin Cha cho phép tôi được hát một bài anh hùng ca ?

Trước khi vị trưởng giáo trả lời, người thợ mộc đã mở thật rộng miệng và cả ngôi nhà làm như rung rinh theo : 

" Đến khi nào thì trời sẽ sáng, khi nào tháng hai sẽ trở lại ? để tôi được cầm khẩu súng của tôi... ". 


__________________________

... CÒN TIẾP ...


* Mời đọc
- Tiểu sử Nikos Kazantzaki tại: http://newvietart.com/index4.26.html.


- Các phần trước trong trang : http://www.newvietart.com/TUVU_phap.html
La Serénité - Troyes, 10 giờ 00 ngày 25.04.2011.



© Dịch giả giữ bản quyền.
. Lần đầu tiên đăng tải trên Newvietart.com ngày 26.04.2011.
. Tất cả các bản sao chép lại không ghi rõ nguồn Newvietart.com
là những bản xử dụng bất chính, thiếu văn hóa và bất hợp pháp.