CHƯƠNG 36


Sau lần thăm Hòa lần thứ tư, khi về, một lá thư của An khiến Nhung nhiều suy nghĩ :“ Nhung, khi mà em tưởng mọi chuyện đang trôi xuôi theo vất vả của bổn phận, của áo cơm, và anh thì đang đứng bên lề cuộc sống em cho đến khi khép mắt bỏ đời, có thể em cho như vậy là mọi sự xong rồi, thì anh lại khác, lòng dạ bỗng dưng bồn chồn, quay quắt như thúc như đẩy, nhất là từ lúc tiến hành làm hồ sơ thủ tục để sang Mỹ theo diện HO.

Từ lần chồng em bắt gặp anh chở em lên ga mua vé tàu, một cuộc chia tay như vậy vẫn còn điều gì ngổn ngang, nhưng anh tự nhủ sẽ không bao giờ khuấy động đời sống riêng của em nữa. Chúng ta không sai, nhưng với Hòa thì anh có lỗi, khiến cứ áy náy mãi trong lòng. Và em cũng hiểu tâm trạng anh như thế nào khi quay xe trở về một mình, em quay lưng bước lên cyclo với chồng em, không một lời từ biệt ! Mọi điều xảy ra đều do hoàn cảnh chứ không do chúng ta tự sắp đặt. Làm thế nào mà anh không phải lui tới nhà em, và không tin tức về nhau ?

Mọi run rủi đều do ở ông Trời. Biết tin Hòa đang ở trại cải tạo, em đi về một mình, đối mặt hết khó khăn này đến khó khăn khác. Thời gian không lâu nữa là anh rời khỏi quê nhà, xui cho anh quyết định một lần nữa sẽ gặp em. Em thử nghĩ xem, làm sao mà anh ra đi âm thầm cho được ! Chi mất rồi, em phải biết rằng anh hụt hẩng như thế nào. Điều mong ước trong anh đã chín mùi, anh dự định khi nào sắp lên máy bay, trên đường vào Sài Gòn anh sẽ ghé lại Nha Trang. Anh nghĩ, đây cũng là tâm nguyện chính đáng, và không làm thương tổn đến ai...”.

Nhung nghĩ bụng, người như An mà cũng biết lợi dụng cơ hội. Nhưng hình như chính cô cũng thoáng qua điều đó, nếu mà thấy được nhau một lần cuối. Và sự thật này hình như một lẽ tất nhiên, không cần cân nhắc, không cần lý lẽ con tim...

Hòa sẽ được trả tự do chỉ trong vòng hơn tháng nữa, nhưng chậm chân hơn An. Chuyến tàu đi vào Sài Gòn đổ bến Nha Trang lúc tám giờ sáng, An và hai người con vội vả xuống sân ga theo dòng người đi ra cửa chính. Nhung chờ sẵn phía ngoài cổng đúng giờ sau khi nhận điện tín của An hôm qua.

Thấy Nhung, Hòa quay sang hai người con, giới thiệu :

- Đây là cô Nhung, chào cô đi con.

Hai đứa nhỏ vui vẻ nhìn Nhung với ánh mắt tràn đầy tình cảm, cùng cất tiếng chào. Nhung gật đầu nhận tiếng chào của con An xong nhìn An như muốn hỏi bây giờ bốn người sẽ đi đâu. An hiểu ý nên đề nghị :

- Ta ra ngoài kiếm quán nào nghỉ chân uống nước.

Vừa đi An vừa nói với Nhung :

- Anh giữ vé đi tiếp Sài Gòn rồi, ghé Nha Trang khoảng tám tiếng, chiều năm giờ lên tàu tiếp tục đi bằng ô-tô-ray. Em xem gần đây có phòng trọ nào mình sẽ gởi đồ đạc, xong đi loanh quanh thành phố cho biết. Được không Nhung ?

- Gần ga chắc là có phòng trọ, hình như bên kia đường, vào quán uống nước xong rồi qua đó hỏi.

Đi ngang một quán phở, An nhìn hai con :

- Ta vào đây ăn chút gì đi, ba thấy đói bụng.

Vào quán, An biểu Thành, người con trai lớn, gọi nước ngọt và bốn tô phở. Thành và Bích Ngọc, em gái, ân cần mời Nhung cùng ăn, thái độ thân mật khiến cô thấy vui vui.

An nhìn hai con xong quay sang Nhung :

- Cô Nhung đó, hết ức chưa ?

- Ức là sao ? – Nhung thắc mắc.

- Ở ngoài đó cứ trông cho mau được thấy mặt em. Lúc sinh thời, Chi thỉnh thoảng vẫn nhắc tới em, chúng nó nghe lóm.

Hai đứa trẻ cùng cười. Nhung hỏi :

- Hai cháu học đến lớp mấy rồi ?

- Dạ cháu lớp chín, em cháu lớp sáu – Thành trả lời.

- Thành làm nông giỏi lắm, mai mốt qua đó chắc mở nông trại ? – An đùa, và giục – Thôi ăn mau lên con, lần đầu tiên đến Nha Trang, ta đi kẻo hết giờ.

- Ba cũng mới tới đây lần đầu hở ba ? – Ngọc Bích hỏi.

- Đúng rồi, ước ao từ trước giải phóng nay mới đi được.

An và hai con tắm rửa thay áo quần xong, cùng Nhung ra khỏi nhà nghỉ, đi thong thả về hướng chợ Đầm. Trên đường phố Thống Nhất, nhiều cửa hàng buôn bán điện máy, xe máy, gia dụng, áo quần, vải vóc, mỹ nghệ... mở ra khá lớn dọc cho đến chợ Đầm. Trước cửa chợ nhiều cửa hàng bán đủ thứ vật dụng, đăc biệt là những gian hàng lưu niệm, những mặt hàng làm từ vỏ sò, ốc biển, rất đa dạng, thu hút hai đứa nhỏ. Thành và Bích Ngọc ngắm nghía thỏa thích và chọn mua một vài thứ vừa ý để mang theo làm kỷ niệm.

Đi vào chợ tròn, từ tầng dưới cho đến tầng lầu đều buôn bán sầm uất, hàng hóa dồi dào không thiếu thứ gì, mỹ phẩm, hàng ngoại đắt giá vẫn thấy nhiều người mua. Đúng buổi chợ, khách vào ra không ngớt, mua sắm đồ mới, hàng xịn, nhất là giới trẻ. Một thay đổi ngoài tưởng tượng của An, không mãi mãi là quần thô áo vải như hồi mới giải phóng.

Đứng trước quầy lưu niệm, An chỉ một vài thứ để tặng Nhung nhưng cô lắc đầu, cuối cùng lại thích cái tráp sơn mài nho nhỏ dùng đựng nữ trang son phấn. An trao gói quà sang tay Nhung, sẵn nâng nhẹ bàn tay cô : “ Một món quà khiêm tốn...”.

Dạo thêm vài điểm mua bán bánh kẹo, hoa quả, Bích Ngọc kêu mỏi chân, khát nước, đồng hồ cũng đã gần mười một giờ. An nói Nhung mua một ít trái cây để ra biển ngồi chơi và vài thức ăn khi lên tàu. Xong, tất cả vào quán ăn trưa gần chợ. Ngoài thực đơn có sẵn, Nhung kêu thêm vài món hải sản cho ba người, ai ăn cũng khen ngon.

- Người ta nói cá mực ở Nha Trang ngon không thua gì cá mực biển Thuận An – An khen.

- Anh thấy vậy ?

- Chứ ý em sao ? An nhìn Nhung hơi vẻ dò hỏi.

Nhung cười :

- Thì anh nói đúng chứ có sao đâu... Chắc tại em nhập tạng hương vị những con cá nục chuối tươi rói của mấy o bán cá từ Thuận An gánh lên bán dạo hồi còn ở nhà, kho đi kho lại càng ngon. Ở sông thì cá đối, cá bống thệ, nhất là cá giếc, cá dầy ở đầm phá mùa nước lụt còn dương vi dương vảy nhảy loay quay trên rỗ.

Mỗi lần về nhà là cô em dâu biết ý, bửa ăn nào cũng có dĩa cá đối, cá dìa... kho khô. Ăn vào là thấy khác ngay, chất thịt cá mùa trứng nó ngọt béo cho đến cải vảy, mùi vị thơm thơm không nơi nào bằng.

An hơi ngạc nhiên :

- Em cũng còn để ý mấy chuyện này nữa ? Ăn như vậy là anh thấy ngon rồi chứ đâu để ý nhận xét như em.

- Ở xa thật lâu, về nhà nhiều lần, ăn con cá miếng thịt mới thấy có sự khác biệt. Ngay cả ngọn môn, lá cải người ta làm dưa ở chợ, mua về chấm nước mắm trứng có chút ớt bột, ăn cơm sao mà ngon, đậm đà khó tả. Lần nào về Huế cũng không thiếu mấy món đó chứ có gì cao lương mỹ vị. Ăn rồi mới trở vô được.

- Chà ! diễn tả hay như vậy còn nói là khó tả. Cứ như...

- Cứ như thế nào ?

- Như mấy nhà viết văn... Biết vậy anh đã kho đem vô cho mấy soong.

Nghe An nói vậy hai đứa nhỏ cùng cười theo. Anh nói thêm :

- Em nói vậy làm anh nhớ hồi ở lính, đi nơi này chỗ nọ nhưng củ khoai miếng sắn ở mình vẫn ngon hơn... Đất đai khô khan nhưng mà cây trái lại đậm đà...

- Đúng rồi, lâu lâu ăn khoai sắn ở đây em vẫn có sự so sánh đó.

- Vậy sao không dọn về Huế ở cho rồi ?

Tất cả lại cười.

Ra khỏi quán ăn, Nhung nói biển ở gần đây thôi, chỉ đi bộ một lúc là tới nơi.

- Cháu mỏi chân lắm cô à !

- Ờ, cũng tại lâu nay không đi bộ. Thôi cố lên, một lúc nữa là tới nơi.

Đi mới năm phút đã thấy nền trời màu xanh biển tỏa rộng dần phía trước mắt. Chưa tới mười phút tất cả đã đứng trên bờ cát, mặt trời đứng bóng nhưng từng làn gió biển thổi qua hàng dừa, bóng dừa bóng liễu nghiêng theo chiều gió như muốn lọc bớt không khí nóng ban trưa, người nào cũng hít thở hơi biển trong mát no lồng ngực.

Nhung giải thích :

- Ở đây là bờ biển đầu trên của thành phố - Nhung quay lưng lại, chỉ tay về phía trong – ngay trong này là Bưu điện lớn, đi thẳng ra chợ Đầm, từ đây xuống Đài Liệt sĩ khoảng hai cây số. Bây giờ mình ngồi đây nghỉ, khi nào Bích Ngọc hết mỏi chân thì chúng ta xuống đó, thuận đường về ga hơn, đến giờ tàu đi bộ về cũng không xa, không thì đi cyclo, tùy ý.

- Kệ. Đi một lần vậy cho nhớ đời...

An vừa nói vừa âu yếm nhìn vào mắt Nhung như thầm trao nghĩa bóng của câu nói. Cô hiểu và đáp lại bằng ánh mắt dịu dàng.

Hai đứa nhỏ chạy ra xa, nhảy đùa trên cát, thỉnh thoảng chỉ tay ra xa trao đổi với nhau gì đó rất chăm chú, xong lại khỏa chân đùa sóng. Ngồi dưới bóng râm của dãy dừa xanh mát cạnh Nhung, An đưa mắt nhìn hai con với cảm giác lâng lâng sung sướng. Hình bóng Chi thoáng hiện về lúc lâm chung trên tay anh khiến anh nén tiếng thở dài đang dâng lên cùng niềm xa xót. “ Nếu mà hai đứa nhỏ còn mẹ !”. Quay sang Nhung, thấy cô đang hướng mắt nhìn ngoài ngọn đảo xa, anh cất giọng ái ngại :

- Em có mệt không Nhung. Đi từ sáng tới giờ ?

- Cũng hơi mệt !

- Chịu khó nghe, còn mấy tiếng nữa. Ba đứa nhỏ của em, chắc dàn xếp ổn thỏa cả rồi ?

- Bà nội lo cơm nước buổi trưa cho hai đứa lớn, bé sau gởi nhà trẻ, cũng gần nhà thôi.

- Chiều nay chắc là em đón con kịp. Bốn giờ về nhà trọ lấy hành lý xong là em về được rồi... Còn bao nhiêu nữa Hòa về ?

- Khoảng hơn một tháng.

- Hòa về sẽ giúp đỡ bớt phần nào cho em đỡ vất vả... Lần này ra đi, không biết khi nào mới trở lại. Cám ơn em dành trọn ngày hôm nay – An nhìn sâu vào mắt Nhung - Gặp gỡ này cũng là cơ hội, trước kia anh chẳng khi nào nghĩ tới, lại ngồi với nhau ở bờ biển như thế này. Cũng là sắp xếp của định mệnh...

- Em lại nghĩ khác – Nhung đùa – Thấy hồi này anh có phần lưu loát, biết lợi dụng thời cơ...

- Tuổi này mà em, biết bao là từng trải. Đôi khi cũng phải quyết định làm điều gì đó cho mình. Suy đi nghĩ lại, nếu có Hòa, anh vẫn có thể có được cuộc viếng thăm này nếu không gặp cái vụ xui xẻo ở Huế. Hòa phải biết chúng ta thân thuộc như người trong một nhà... Và anh cũng đi cho biết Nha Trang, cảnh đẹp, bây giờ mới được nhìn thấy...

Rồi bỗng nhiên khoảnh khắc im lặng kéo dài, mỗi người một ý nghĩ nhưng cả hai con tim cùng rung động bồi hồi... Trước cảnh tái hợp này, Nhung chợt nhớ câu nói của Hòa khi trong trại : “ Đó là chưa kể người đàn bà khi cô đơn...”. Lời nói sao mà linh nghiệm, đó không còn là câu trách chừng mà là sự thật, tuy nhiên đây không phải là một lỗi lầm.

An chợt nắm nhẹ bàn tay Nhung, mắt thăm thẳm :

- Ông trời mãi khắc khe với chúng ta, dù không ai phụ bạc ai. Ngày mai khi lên máy bay sang đất Mỹ... cuộc hành trình của anh vẫn hoàn toàn đơn độc ! Tuy bây giờ gần nhau nhưng không thể ngả vào nhau, nhưng em cứ nghĩ rằng chúng ta luôn là bóng mát của nhau, là nơi nương tựa của mỗi tâm hồn... Lứa tuổi nào cũng cần tình cảm yêu thương em à !

Lòng đang buồn nhưng qua câu nói của An, cô như được thổi vào một luồng sinh khí mới, giúp thêm nghị lực.

Hai đứa trẻ đang nằm dọc theo bờ cát dưới bóng mát của hàng dương cách chỗ An một khoảng. Trông ánh nắng đã bớt gay gắt, Nhung vội đi tới đánh thức chúng dậy. Tuổi nhỏ thật vô tư, mới đó đã ngủ ngon lành, chúng ngơ ngác nhìn quanh như để xác định lại nơi chốn, xong cùng Nhung bước lại chỗ An.

- Nghỉ một lúc vậy được rồi, ta đi xuống dưới kia cho gần đường về ga rồi nghỉ tiếp – An nói.

- Mấy giờ rồi ba ? Bích Ngọc hỏi.

- Hai giờ. Thôi ta đi.

Nhung đưa cho mỗi người vài trái cây, pom, ổi... Vừa đi vừa ăn, nhìn ra biển, Thành khen ngợi :

- Biển Nha Trang đẹp lắm ba à. Hèn gì người ta nói là thắng cảnh thế giới. Biển Thuận An nhìn ra trống trãi không có hòn đảo nào. Gần đầu trên còn có hòn đảo như hình con rùa, lạ mắt.

Nhung chỉ về phía bên kia đường :

- Đây là Viện Pasteur, kia là tượng của Ông Yersin.

- Còn Lầu Bảo Đại ở đâu cô Nhung? Thành hỏi.

Nhung chỉ tay thẳng xuống cuối tầm mắt :

- Đó, có thấy rõ ngôi biệt thự nằm trên ngọn đồi cao nhô ra biển dưới kia không ?

- Cháu thấy rồi – Thành trả lời.

- Cháu cũng thấy rồi – Bích Ngọc tiếp.

An nhận xét thêm :

- Cảnh ở đây đẹp còn nhờ ở con đường ven biển với nhà cửa, khách sạn cao tầng, hai đầu là đồi núi nhô ra khỏi bờ, ngoài khơi nhiều đảo chắn gió, ngoài và trong tô điểm cho nhau... Còn Hòn Chồng, Tháp Bà đâu ? An hỏi tiếp.

- Hòn Chồng và Tháp Bà ở khu vực bên kia, cách khoảng ba bốn cây.

- Chà ! Xa quá không thể đi được. Tiếc ghê. Biết còn dịp nào nữa không !

Gần đến Đài Liệt Sĩ, Nhung chỉ tay sang ngã Lê Thánh Tôn :

- Tí nữa đi thẳng đường này, cua một đoạn nữa là tới ga.

- Con không đi nổi nữa ba ! Bích Ngọc nhăn nhó.

- Ừ thì ngồi đây nghỉ đã, tí nữa rồi tính. Mới ba giờ kém mười lăm. Chúng ta nghỉ thêm mười lăm phút.

Bốn người ngồi giữa mấy tam cấp Đài Liệt Sĩ, mắt nhìn ra đường, xe cộ lên xuống tấp nập, kín đường.

- Ở Huế bây giờ thay đổi nhiều, nhưng ở đây còn thay đổi nhiều hơn, đường sá nhiều loại xe cộ mới toanh, không khí chưng diện khởi sắc. Trước đây anh cứ tưởng mình sẽ làm bạn mãi hoài với cái cuốc cây xẻng... hy vọng ở đây sau này sẽ khá hơn.

- Nhưng mà anh đã ở trên đất Mỹ rồi.

Giọng An chùng xuống :

- Đúng vậy, mãi mãi là xa cách, đó là số kiếp của chúng ta. Hãy tự xoa dịu mình bằng dòng thơ của Paul Verlain : “ Tình yêu là một khu vườn đầy hoa, nhưng không ai bước vào mà không nhỏ lệ ” . Tuy xa cách nhưng trong tâm hồn chúng ta luôn nở những cánh hoa...

Lời An xúc động, mang mác như làn gió dịu dàng khiến đôi mắt cô rưng rưng... Chỉ mượn một tư tưởng nhẹ nhàng mà lâng lâng, sâu thẳm. Và sẽ không cần thêm lời nói nào nữa... Ánh nắng vàng rực rỡ của biển chiều như một lời chia tay.

CHƯƠNG KẾT


Nhận lại hành lý xong, An và hai con ra khỏi nhà nghỉ, Nhung đứng chờ ở ngoài. Bốn người băng qua đường vào sân ga, cũng vừa nghe thông báo giờ hành khách đi Sài Gòn vào cổng. Để hành lý cho ba người, An đi một lát xong trở lại đưa cho Nhung tờ vé vào ga :“ Em đón con năm giờ cũng chưa muộn, vào ga với anh một lúc.”.

Nhung theo chân ba người. Sân tàu người lên kẻ xuống chen chúc. Đợi cho toa tàu của mình hết người xuống, An và hai con sắp sửa bước lên, tất cả ba đôi mắt đều nhìn vào Nhung, chợt nghe lời quyến luyến của Bích Ngọc :

- Cô Nhung đi vào Sài Gòn với cháu luôn được không ?

Nhung mỉm cười lắc đầu :

- Cô đi không được, hai cháu đi mạnh giỏi.

An cầm vội tay Nhung đưa lên môi :

- Nhung, có lẽ lần này là đưa tiễn luôn mối tình của chúng ta... Cho đến chết anh vẫn mang theo hình bóng em. Anh sắp khóc đây... em giữ gìn sức khỏe...

Tiếng còi tàu thúc giục, hai người buông rời tay nhau, bốn mắt nhìn nhau lần cuối.

Tàu từ từ lăn bánh, cô nhìn theo cho đến khi con tàu khuất bóng, rồi quay lưng, bước từng bước một, ngậm ngùi giấu sau màn lệ. Phút này trên tàu, có lẽ An đang lắng nghe tiếng thổn thức lặng thầm của cô. Tiếng khóc đời đời thất lạc.








© Tác giả giữ bản quyền.
.Tải đăng theo nguyên bản của tác giả gởi ngày 13.04.2011.
. TẠI NGOẠI QUỐC TÁC PHẨM CỦA HỒNG VINH CHỈ DUY NHẤT ĐĂNG TẢI TRÊN NEWVIETART.