Hát Văn Trong Đền Sư Bà







Chuyện Đại tá Mai Đắc Nghị, sau một đời chinh chiến, trở về quê mình (Làng Mai- Tĩnh Gia- Thanh Hoá) phát tâm xây lại miếu đền thờ Sư Bà Mai Thị Triều, mà tôi đã viết “Một lòng thờ Mẹ kính Cha” tại newvietart.com hè 2009, giờ đây thành sự thật.

       Hai năm sau. Từ ngày tôi cùng tiến sĩ Mai Hồng về làng Mai thăm ngôi mộ cổ thơm hương khói giữa một vùng cây lá linh thiêng hoang vắng, cách bãi biển chừng nửa cây số, nay gặp lại tướng về hưu Mai Đắc Nghị, ngôi mộ đã thành ngôi đền uy nghi thờ Sư Bà Ngọc Nữ Đại vương Mai Thị Triều.

       Bà là tiểu thư con quan, đoan trang, tài sắc, thông minh, hiền thảo, Chúa Trịnh Tráng say đắm vời vào cung. Bà từ chối, ở lại sống với dân làng, giữ trinh tiết, dịu dàng, nhu hòa, cứu người nghèo khổ, dạy dân trồng cấy, nữ công, giúp nước, giữ làng… được dân suy tôn Sư Bà. Khi Sư Bà mất, dân tấu vua sắc phong Phúc Thần Thượng đẳng, Mẫu hương phu nhân, Huyên Từ Ngọc Nữ (năm Cảnh Trị thứ tư- 1666). Vua hạ chỉ cho dân xây đền miếu thờ Sư Bà trên núi Ngọc Nữ, thảo mộc tươi tốt quanh năm, hướng ra biển.

       Làng đã lập năm đền miếu thờ Sư Bà, noi gương sáng. Từ đó về sau, hai triều Lê- Nguyễn tiếp tục phong cho Sư Bà mười hai đạo sắc.

       Trải mấy trăm năm, ngôi mộ Sư Bà vẫn nghi ngút khói hương, nhưng đền miếu thờ Sư Bà từ thời Lê, những năm 1975 bị phá, nay chỉ còn nền cũ. Năm 1995, Tỉnh Thanh Hóa cấp bằng công nhận di tích lịch sử văn hóa khu vực lăng mộ, đền miếu, bia ký Sư Bà Mai Thị Triều.

       Đại tá Mai Đắc Nghị, người con của dòng họ trực hệ Sư Bà, yêu dân làng, tôn trọng dấu tích lịch sử văn hóa. Ông về làng Mai, thờ cúng cha mẹ, tổ tiên và phát tâm dựng lại đền miếu thờ Sư Bà Ngọc Nữ Đại vương Mai Thị Triều.

        Hai năm qua, Mai Đắc Nghị đã dâng hiến hết mình, cùng họ tộc, dân làng, góp công của xây đền Sư Bà như một lâu đài soi mình trên bờ biển, trăng gió trùng điệp xô bờ.

        Ngôi đền kiến trúc bằng đá trên điện, dưới mộ với những pho tượng đá, ngựa đá, cột đá chạm khắc câu đối…

         Tiến sĩ Mai Hồng dâng Sư Bà những câu đối đẹp như thơ:

          Hữu quốc đan thanh lưu ngọc điệp

          Tình vương tâm sự, lậu quỳnh ly

     (Dâng nước tấm lòng trong sạch, lưu sử sách

       Niềm tâm sự với tình Vương, thấu vào chén quỳnh)

             Hội vạn pháp, nhất thân Thánh Thần Phật

             Hữu Thiên Xuân, Bách tính lễ nhạc thi thư

     (Thân Bà hội tụ vạn pháp, đủ tinh hoa Thần Phật Thánh

      Vườn Xuân Trời và Trăm họ cả nhạc hoạ thơ)

      Tiến sĩ Mai Hồng- Giám đốc Trung tâm nghiên cứu và ứng dụng phả học Việt Nam, dành nhiều trí tuệ nghiên cứu Sự tích Sư Bà Ngọc Nữ Đại vương Mai Thị Triều.

    Đó là người phụ nữ trinh tiết, người thầy uyên bác, đức độ được dân suy tôn những danh hiệu cao quí:

        “Mẫu Hương Phu nhân (Phu nhân Mẹ làng)”

          “Huyên Từ Ngọc Nữ (Mẹ Ngọc Nữ hiền từ)”…

      Ngôi đền Sư Bà vốn linh thiêng nay càng linh bởi tâm trí muôn người tụ hội. Con cháu dâng Sư Bà hoa quả vườn nhà, dâng đàn, dâng chữ, thơ, hoạ, dâng trái tim hướng thiện. Nhiều đoàn nghệ nhân hầu bóng, hát văn từ khắp nơi trong ngoài nước về dâng lễ Thánh ca. Tiếng đàn nguyệt, đàn bầu, đàn tranh, nhị, sáo, hoà muôn sắc áo, màu cờ, tiếng hát ca, âm vang làng Mai.

         Không khí làng Mai giờ đổi khác. Già trẻ gái trai,

rạng rỡ, trẻ em gặp chúng tôi chào lễ phép, vườn xanh cây quả, rau, hoa, đường ra biển trải nhựa, dọn sạch, rừng phi lao rì rào bờ cát trắng, đồng lúa xanh mượt mà, đêm đêm những con thuyền ra biển.

         Bao chuyện đời buồn vui, mong ước, bà con ra đền tâm sự cùng Sư Bà trong một không gian linh nghiệm, hoành tráng, ấm áp. Các cụ bảo Sư Bà thương dân làng Mai nghèo, đã linh ứng: “Trồng các loại cây ăn quả, cây thuốc, cây hoa, chăm lúa, ngô khoai, đậu, lạc vừng, mùa nào thức ấy”.

        Lời Thánh Thần chở sức nặng tâm linh, thấm sâu hồn người làng Mai, chuyển hoá hành động, cách nghĩ, cách cảm hướng Thiện.

       Chẳng biết Chúa Trịnh Tráng có ứng báo gì mà con cháu dòng họ Trịnh khi biết đền Sư Bà được hoàn thành, đã về dâng hương, dâng lễ hầu bóng khai đền.

      Mùa Xuân 2011. Bà Trịnh Thuận Hiền gần tám mươi tuổi, uỷ viên Ban chấp hành Hội Bảo tồn di sản Văn hoá Thăng Long, ở 46- Triệu Việt Vương- Hà Nội, dẫn đoàn hơn hai chục con cháu nội, ngoại, về đền Sư Bà cung tiến đồ thờ cúng và hầu bóng khai đền.

     Vợ chồng bà Trịnh Thị Thuý cháu ruột bà Hiền cùng bạn bay từ California (Mỹ) về kịp hầu bóng khai đền Sư Bà. Ông bà tuổi bảy mươi, gốc Hà Nội, vào Nam 1954, sang Mỹ trên hai chục năm, không quên Hà Nội. Bà Thuý hiện là chủ tế đền Bảo Hà tại California.

        Gặp nhau nơi đền thờ Mẹ, tủi mừng tình ruột thịt, chúng tôi chuyện trò thân thiện. Chẳng ai nghi ngờ lòng ai. Bà Thuý bảo California là thủ phủ của hầu bóng Việt Nam. Những ngôi đền thờ Mẫu được xây nhiều, nhưng vì ít đất nên không lớn như ở Việt Nam. Ông bà có cuộc sống đầy đủ, năm con đều là kỹ sư, bác sĩ. Con trai cả muốn về Việt Nam sinh sống. Chồng bà Thuý thì thầm bên tôi: “Chúng tôi sống rất bình yên. Cuộc đời thay đổi đến đâu, mình thay đổi đến đó. Đất nước mình linh thiêng lắm”.

        Chiều Xuân làng Mai. Ba hồi chuông ngân rung.

Mưa nặng hạt. Chúng tôi cùng dân làng Mai, già trẻ lớn bé, trai gái quây quần trước cửa đền Sư Bà tham dự cuộc hầu bóng của gia đình bà Hiền kéo dài hai ngày đêm.

      Bà Hiền nghệ nhân hầu bóng nổi tiếng Hà Nội. Nay các con cháu bà đều giàu có, thành đạt, luôn theo bà đi hầu bóng và công đức nhiều đền thờ Mẫu Việt Nam.

      Bà hầu đủ ba mươi sáu gía chầu Đạo Mẫu, say mê nhập cuộc không biết mệt. Vượt độ tuổi xưa nay hiếm, cứ vài ngày, bà Hiền lại làm một buổi lên đồng thâu đêm suốt ngày. Lúc nào bà cũng thanh nhàn thảnh thơi. Bà bảo tiền đi hầu đã có các Thánh lo. Mỗi lần đi hầu các đền, bà ít nhất phải chi chục triệu.

       Bà Thuý được bà Hiền truyền dạy hầu bóng mang sang Mỹ, thành chủ tế đền, cuốn hút bà con Việt tụ về nguồn cội thờ Mẫu- Mẹ Việt Nam. Bà Thuý mê về Việt Nam hầu bóng để trực tiếp nhận sức mạnh tâm linh Việt. Chồng bà luôn động viên chăm sóc bà, đi quay phim chụp ảnh. Ông bảo: “Bà ấy đi đâu tôi cũng theo”.

       Đêm làng Mai. Bình yên. Nguyên thuỷ.

      Chúng tôi mê mải cuốn vào cuộc hầu bóng của hai bà cháu bà Thuý.

           Bà Thuý đau nhức chân phải nhờ chúng tôi dán cao, vậy mà, khi bà nhập hồn Thần Thánh, thăng hoa ngất ngây, nhảy múa tuyệt vời. Dáng cao lớn, đĩnh đạc, bà Thuý nhập vai các quan, ông Hoàng Bảy, Hoàng Mười, oai phong lẫm liệt, tưng bừng, múa kiếm, phất cờ, uống rượu, hút thuốc, phán xét, cho lộc trần gian…

          Nhưng khi bà Thuý nhập hồn Sư Bà làng Mai thì lại uyển chuyển, tinh tế trong bộ trang phục màu xanh biển, rừng, cây lá, hiền dịu và thánh thiện, tràn sức mạnh thương yêu.

            Dân làng Mai ngạc nhiên, nao nức.

             Cuộc vui quên mưa gió lao xao.

             Quên phóng xạ hạt nhân, địa chấn.

           Quên đói no, lòng người chao đảo.

       Tác nhân cuốn chúng tôi vào cuộc vui quên trời đất này còn là tiếng hát văn với bộ nhạc cụ dân tộc mang sắc thái tâm linh.

         Để có được những giờ diễn xướng thăng hoa của bà Hiền, bà Thuý, không thể thiếu âm nhạc và hát văn.

        Hát văn là các bài văn chầu được sáng tác và ghi chép lại bằng chữ Nôm, chữ Quốc ngữ, chữ Hán. Giáo sư Ngô Đức Thịnh và Tiến sĩ Phan Đăng Nhật đã sưu tầm được trên năm mươi tư bài văn chầu. Đây là những bài Thánh ca được các cung văn hát trong các buổi hầu bóng Đạo Mẫu. Cùng với âm nhạc, múa, các nghi thức khác, tạo nên không khí linh thiêng và hoà nhập giữa con người và thế giới Thần linh.

        Các bài văn chầu phổ biến hơn cả là kể chuyện sự tích các vị Thánh Thần, ngợi ca công đức các ngài, trải qua cuộc đời gian truân, éo le, trắc ẩn, nhiều bi kịch và chiến công, dâng hiến, nay hiển linh, cứu khổ, cứu nạn, chữa bệnh, giúp người trần.

       Phút Người và Thần Thánh thăng hoa, các ngài tặng những bài thơ Giáng Bút tạo thành “hiện tượng văn học Đạo Mẫu”.

        Thơ Giáng Bút được quan niệm như lời phán truyền của Thần Thánh. Thơ Giáng Bút không xa lạ, xuất hiện trong nhiều hình thức văn hoá tôn giáo nguyên thuỷ của nhân loại. Đó là những điềm báo, những phán truyền của Thần linh thông qua các dấu hiệu cao hơn văn tự.

      Hát văn không thể thiếu âm nhạc với những làn điệu riêng biệt trong lễ thức hầu bóng, biểu hiện tâm hồn, tính cách, tình huống, dáng điệu vui buồn của từng vị Thánh nhập đồng.

       Hát văn hình thành và phát triển trong môi trường sinh hoạt tín ngưỡng, tạo một phong cách ngôn ngữ âm nhạc riêng, không lẫn với bất cứ thể loại ca hát dân gian hay tín ngưỡng nào khác. Nhưng bắt nguồn từ dân gian và hồn Việt, nên hát văn không đóng kín, mà nó giao thoa nhiều loại hình dân ca các vùng miền Việt Nam. Đó là các làn điệu dân ca đồng bằng Bắc Bộ (sa mạc, cò lả, bồng mạc), âm nhạc ca trù (phú chênh, phú xuân, phú tỳ bà, phú của đình, phú hạ) các điệu chèo (lới lơ, phú dầu) quan họ (đường trường chim thước), cải lương (xá quảng), hò Huế, dân ca Huế, tuồng (kiều dương thượng), dân ca Mường Thái (các điệu xá), dân ca Tây Nguyên (điệu Xê Đăng)…

       Các nghệ nhân âm nhạc và hát trong lễ chầu đồng gọi là cung văn. Họ đồng thời vừa chơi nhạc vừa hát. Có năm nhạc cụ chính: nguyệt, cảnh, phát, trống và thanh la.  

        Các cung văn vừa phải giỏi đàn, hát hay, thông hiểu nghi lễ, nhanh nhạy trong sự hoà cảm, phối hợp với động tác múa nhập đồng của người hầu đồng. Sự tương tác giữa lời hát, âm nhạc của cung văn với các hành động nhảy múa, động tác nhập đồng làm cho người hầu bóng thăng hoa, say đắm lẫn mình vào thế giới Thánh Thần, quên thực tại, rơi vào trạng thái thôi miên ngây ngất.

      Bà Trịnh Thuận Hiền đã chọn cho mình một cung văn với người hát văn hay bậc nhất hiện nay. Nghệ nhân Trần Mạnh Hùng ở Hoà Bình. Nhà anh Hùng tám đời hát văn. Anh vừa đàn vừa hát, thiên biến vạn hoá, uyển chuyển, dịu dàng ba mươi sáu giọng, ngọt lịm tình yêu thương, say đắm. Ba mươi sáu giọng của anh có khả năng thôi miên người lên đồng và cả đám đông trần gian tham dự. Nhưng Hùng luôn tỉnh thức, đưa mọi người về thực tại. Nhiều lúc anh ứng tác những câu hát hợp người, hợp cảnh. Dân chúng làng Mai vỗ tay rào rào khi Hùng ngâm ngợi lời khấn cầu:

          “Cầu cho con cháu làng Mai

             Từ Quê sang Mỹ, máy bay lại về”.

     Tiếng hát văn trong ngôi đền Sư Bà thấu lòng dân làng Mai.

          Vâng. Đất nước Việt Nam Hoà Bình Thống Nhất, dân làng Mai muốn sang Mỹ học kỹ thuật, học làm giàu, bán nông sản, rồi mau mau trở về mảnh đất linh thiêng quê nhà, sống một cuộc sống bình an cùng tâm linh Tổ tiên, nòi giống, tiếp nối sức mạnh Rồng Tiên và tu tâm, tích đức, truyền sức sống linh thiêng cho những thế hệ sau.

       Bởi thế nên, ngôi đền Sư Bà Mai Thị Triều mới linh thiêng như thế. Bởi thế mọi người dân Việt yêu nguồn cội đều cảm nhận được: “Đất nước mình linh thiêng”.

       Bởi thế mà ngày xửa ngày xưa, Cao Biền- người nổi tiếng giỏi phong thuỷ của Trung Hoa, đã ôm đầu chạy về nước và kêu lên: “Vượng khí nước Nam, không đời nào hết”. 

Hồ Gươm- Làng Mai
_________________________________

Mùa Ban- 2011  

© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng tải theo nguyên bản của tác giả từ Hà Nội ngày 11.04.2011.
Trích đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com