Về Côn Sơn Thăm Nguyễn Trãi







         Rét Nàng Bân 2011 đưa tôi về Côn Sơn tạ tội cùng Nguyễn Trãi.

          Tôi yêu Nguyễn Trãi- Nguyễn Thị Lộ khắc khoải suốt hai mươi năm quằn quại gió mưa, mà về Côn Sơn vái lạy Cụ Nguyễn Trãi lần này là thứ tư.

         Hơn chục năm rồi, tôi mới được về Côn Sơn thăm Người. Dù tôi biết, năm 2000 khu đền thờ Nguyễn Trãi được khởi công xây dựng tại vùng núi non linh thiêng- Thanh Hư Động nằm ở khe núi Côn Sơn, gần nền nhà xưa Nguyễn Trãi từng đọc sách, ngâm thơ, hồn nhẹ lâng lâng:

                    Côn Sơn suối chảy rì rầm

                    Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai

                    Côn Sơn có đá rêu phơi

                    Ta ngồi trên đá như ngồi chiếu êm

        Đường Hà Nội- Côn Sơn đi ô- tô hơn một giờ, qua những cánh đồng lúa non, vượt rét hại, bén rễ xanh tươi, hẹn mùa vàng. Xa xa là vòng cung Đông Triều. Những dãy núi màu lam ôm ấp cánh đồng, làng mạc. Những đồi đất thoai thoải, trang trại vải điệp trùng xanh, trổ bông thơm ngát.

       Màu xanh ngô lúa, rau củ, cây lá trải dài mơn man cánh đồng đất nâu, khiến lòng ta ấm lại. Quê hương- Đất nước là đây. Sự sống bất diệt là cây, là đất, là nước, là người tinh khôi. Tất cả hiện lên trước mặt ta, trong từng bước chân ta. Chẳng phải tìm kiếm đâu xa. Chẳng cần nhiều lời.

      Côn Sơn- một vùng danh thắng linh thiêng thuộc huyện Chí Linh- Hải Dương.

      Côn Sơn- một vùng “Địa chung tứ khí”.

       Núi Côn Sơn còn gọi là núi Kỳ Lân hay núi Hun, nơi cao nhất gần hai trăm mét.

       Phía Bắc Côn Sơn giáp núi Ngũ Nhạc, cao hai trăm ba tám mét, đỉnh có năm miếu thờ Thần Núi gọi là “Ngũ Nhạc linh từ”. Ngũ Nhạc có chiều dài hơn bốn nghìn mét với năm đỉnh chạy dài nối tiếp nhau. Sườn núi phía Đông Ngũ Nhạc có đền thờ Sinh thờ Quốc mẫu thân sinh Trần Hưng Đạo.

        Phía Tây Côn Sơn nối với núi U Bò và một thung lũng xanh tươi những luỹ tre, ẩn hiện những mái nhà đây đó trên đường vòng ôm núi đồi sáu cây số đến đền Kiếp Bạc- thờ Đức Thánh Trần Hưng Đạo.

       Phía Nam Côn Sơn có xóm Tiên Sơn và một bãi rễ thanh hao mênh mông, mịn màng. Tương truyền khi Trần Nguyên Đán về đây, ông trồng thông, bà trồng rễ thanh hao. Vẫn còn đây, thông ngàn, bãi rễ, để đời nối đời Côn Sơn xanh bóng thông và mịn màng cây lá. Cách đó năm cây số là Kiếp Bạc- đại bản doanh của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, chống quân Nguyên.

      Xa kia là thung lũng núi Phượng Hoàng- nơi Chu Văn An- nhà giáo mẫu mực thời Trần, dâng sớ trị tội bảy tên nịnh thần, vua không nghe, Chu Văn An từ quan ở Thăng Long về đây, dựng lều cỏ dạy học và an nghỉ vĩnh hằng.

      Phía Đông Côn Sơn là ngôi chùa cổ Côn Sơn, tên Nôm là chùa Hun, khởi dựng thế kỷ XIII. Xung quanh chùa có hồ Bán Nguyệt, hồ Côn Sơn.

     Cánh đồng xa là làng Chi Ngại- Hải Dương, cố hương của Nguyễn Phi Khanh, người cha muôn vàn kính yêu của Nguyễn Trãi.

       Đỉnh Côn Sơn là một khu đất bằng phẳng, gọi là Bàn Cờ Tiên, có di tích nền một kiến trúc cổ, hình chữ Công, gọi là Am Bạch Vân (Am Mây Trắng). Nơi đây thường có mây trắng trong lành bao phủ, Trời- Đất giao hoà, Thần Tiên xuống đánh cờ, vui cùng hạ giới. Từ đây có thể nhìn được toàn cảnh Côn Sơn núi vòng ôm núi, thung lũng xanh, cánh đồng vàng. Tương truyền nơi đây có một bàn cờ bằng đá, các vị cao tăng thường lên tu luyện, hoặc giảng kinh, thuyết pháp cho các môn đệ

       Từ chùa Côn Sơn lên Bàn Cờ Tiên, rừng thông vi vút, bóng thông trùm mát rượi, lá thông vương nền sỏi đá, thơm dấu chân, có khoảng trên sáu trăm bậc đá xếp từ nhiều thế kỷ trước.

        Rừng Côn Sơn bạt ngàn thông mã vĩ, cây cao thẳng, nhựa đặc vàng lấp lánh, nhiều cụ thông đã vài trăm năm hoặc gần nghìn tuổi. Từng chiếc lá thông rơi thơm đất chở hương tình yêu người, yêu nước của Nguyễn Trãi tụ về.

      Chung sống với rừng thông là trúc, nứa, sim, mua, mẫu đơn, và muôn màu hoa lá rừng xanh… xưa còn có mai và dó- cây lấy vỏ làm giấy. Mùa xuân Côn Sơn khoác trên mình tấm áo hoa rừng tươi thắm.

      Suối Côn Sơn rì rào quanh năm ngày tháng từ non cao  chảy xuống như nhạc trời reo ca. Lưng chừng suối có hai tảng đá lớn, tương đối bằng phẳng, mang tên Thạch Bàn. Thạch Bàn lớn ( 28,5 x 60m) thường gọi là “hòn đá trăm gian” là di tích hay được nhắc đến trong thơ văn cổ. Nguyễn Trãi thường ngồi đây ngắm cảnh, làm thơ và suy tư việc nước. Suối xưa có cầu Thấu Ngọc bắc qua, được các sử gia và thi nhân ca ngợi như một công trình tuyệt mỹ.

      Sáu thế kỷ trước, Côn Sơn như cảnh thần tiên qua ngòi bút Nguyễn Phi Khanh trong Thanh Hư động ký viết năm 1384 “Khói đầu non, ráng ngoài đảo, gấm vóc phô bày. Hoa dọc núi, cỏ ven rừng, biếc hồng phấp phới. Bóng mát để nghỉ, chỗ vắng để ngồi, mùi thơm để ngửi, sắc đẹp để xem, Phàm những hình ảnh trong mát, tiếng suối reo xa vời mà hư không, sâu thẳm mà yên lặng, hợp với tai mắt và tâm hồn người ta, ở đây đều có đủ cả.”

        Với Nguyễn Trãi, Côn Sơn là tiếng gió, tiếng suối ngân trong trẻo, và màu xanh biếc lẫn trong hồn:

          “Trong núi có thông, muôn dặm rờn rờn

                   biếc một vùng, ta tha hồ  nghỉ ngơi ở trong.

             Trong rừng có trúc, ngàn mẫu in biếc lục

                      Ta tha hồ ngâm nga bên gốc”.

       Nhiều thế kỷ đã đi qua, trải bao biến động, Côn Sơn vẫn nguyên vẹn màu xanh thông trúc và tiếng đàn cầm Nguyễn Trãi ngân rung, vừa đượm vẻ u tịch, diệu huyền, vừa sinh sôi nảy nở, bừng ánh sáng Sao Khuê.

       Cuối thế kỷ XV, Lê Thánh Tông đến Côn Sơn, nhớ Nguyễn Trãi, xúc động viết:

                 Tịnh thổ lâu đài cảnh trí kỳ

                 Cổ nhân trầm tích dỹ  y hy

                 (Đất Phật lâu đài cảnh đẹp thay

                  Người xưa dấu cũ vẫn còn đây)

        Thế kỷ XIX. Cầu Thấu Ngọc vẫn còn và Thanh Hư

Động vẫn mơ màng thanh tao kỳ ngộ. Cao Bá Quát đến thăm và say đắm tiếng chim:

                      Thấu Ngọc Kiều biên dã hoa tiêu

                      Thanh Hư động ký văn  đê điểu

                     (Bên cầu Thấu Ngọc hoa rừng tươi tốt

                      Trong động Thanh Hư chim hót ríu rít)

         Đầu thế kỷ XXI, về Côn Sơn ta vẫn nghe tiếng chim ríu ran đệm nhạc cùng tiếng suối, tan chảy hồn Nguyễn Trãi phiêu diêu trong gió thông ngàn, ngợi ca khối tình Nguyễn Trãi- Nguyễn Thị Lộ, mang xuống Suối Vàng thành thơ:

                                  Côn Sơn

                       Côn Sơn ngọn gió vô thường

             Rừng thông nâng bước, đường trường Sao Khuê

                      Côn Sơn thương nhớ mười phương

                  Nước non muôn thuở, tóc thề vấn vương

                        Côn Sơn sông chảy về nguồn

                  Khối Tình tan giữa Suối Vàng tuôn mưa

                         Côn Sơn trăng dõi đại ngàn

                  Luân hồi cảnh giới, kiếp người tàn xoay

                          Lệ Chi Viên- nhập Niết Bàn

                 Sáng đêm hoang lạnh, chứa chan cõi Người

                          Côn Sơn mưa nắng miên man

                    Tình Yêu bừng toả, lệ tràn Yêu Thương

         (Mai Thục trong Tiểu thuyết Lệ Chi Viên

                               NXB Văn hoá Thông tin- 2010)

           Côn Sơn ngót sau trăm năm qua, in bóng hình Nguyễn Trãi- Anh hùng dân tộc- Danh nhân văn hoá Thế giới.

         Danh thắng Côn Sơn linh thiêng huyền diệu bởi hai vùng di tích lớn linh thiêng đọng đầy hình bóng người xưa. Đó là khu chùa Côn Sơn và Thanh Hư Động.

             1. Chùa Côn Sơn:

         Chùa Côn Sơn thắp ánh đèn sáng nguồn Thiền Phái Trúc Lâm Yên Tử đậm hồn dân tộc cuối thế kỷ XIII.

           Ba vị Sư Tổ Phật hoàng Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang đã tu hành thuyết pháp tại đây.

       Huyền Quang trụ trì chùa Côn Sơn (Thiên Tư Phúc tự) dân gian gọi chùa Hun. Ngài mất tại đây ngày 23 tháng Giêng năm 1334. Sau khi mất đệ tử dựng tháp Đăng Minh để xá lợi Ngài.

        Qui mô lớn nhất chùa Côn Sơn có lúc tới tám mươi ba gian. Trong chùa có tượng Phật nghìn mắt nghìn tay, Cửu phẩm liên hoa và ba trăm tám mươi lăm pho tượng Phật, cùng nhiều đồ tế tự quí. Trải qua hơn bảy thế kỷ biến thiên dữ dội, chùa Côn Sơn nhiều lần bị phá huỷ và nhiều lần trùng tu, tôn tạo.

       Kiến trúc chùa Côn Sơn hiện nay thuộc thời Lê- Nguyễn và nhiều lần trùng tu của thế kỷ XX, gồm chùa chính, nhà Tổ, hệ thống tháp sư, tam quan ngoại, tam quan nội, nhà bia, nhà khách, nhà tăng ni, nhà trưng bày, nhà làm việc của ban quản lý.

       Chùa nằm dưới chân núi Kỳ Lân, quay về hướng Đông Nam được xây dựng theo lối cung đình với hồ Bán Nguyệt, Sân Đá, tam quan, gác chuông, Phật điện, Tổ đường, hòn non bộ.

       Chùa chính có kiến trúc kiểu chữ Công, gồm toà tiền đường và toà Thượng điện, xây thời Nguyễn. Sau Thượng điện qua một khoảng sân trời là nhà thờ Tổ, kiến trúc kiểu chữ Đinh, thời Nguyễn. Nhà thờ Tổ thờ Phật hoàng Trần Nhân Tông, Pháp Loa, và Huyền Quang. Bức tượng gỗ, được cho là quan tư đồ Trần Nguyễn Đán, ông ngoại thân thương cao cả của Nguyễn Trãi.

       Trong khuôn viên chùa Côn Sơn có mười bốn tấm bia dựng thời Hậu Lê, đặt tại hai dãy nhà phía Đông, phía Tây, nhà hậu cung và bốn nhà bia trước sân chùa, xung quanh rừng thông đưa gió thơm tắm tưới chữ Thánh hiền linh diệu và vườn thực vật xanh tươi hoa lá với nhiều loài cây quí, hiền hoà dâng hương sắc bốn mùa.

      Hồ Bán Nguyệt ngay ở cổng chùa là nơi tụ linh, tụ thủy, tụ phúc và biểu hiện ước vọng cầu mùa, cầu no ấm, an lành của cư dân Việt.

       Qua mái tam quan vào sân chùa có những cây đại già (theo các nhà nghiên cứu, những cây đại này có từ thời Trần Nguyên đán về Côn Sơn ở ẩn). Những cây đại này không mọc thẳng mà đổ nghiêng sát mặt đất, bởi thân chính đã bị gãy đổ, chỉ còn các thân nhánh đã mọc lên từ gốc đổ, đã trải nhiều giông bão và thời gian vật vã để thành cây cổ thụ hôm nay.

     Sau chùa Côn Sơn có một giếng nhỏ là Giếng Ngọc, lúc nào nước cũng gần đầy, trong vắt, ngọt lành.

        2. Thanh Hư Động:

       Thanh Hư Động- một địa danh nằm trong quần thể di tích danh thắng Côn Sơn, muôn đời toả năng lượng tâm linh huyền diệu của Nguyễn Trãi và ông ngoại Trần Nguyên Đán.

        Thanh Hư Động được Trần Nguyên Đán- hiệu Băng Hồ, quan Tư đồ phụ chính thời Trần Nghệ Tông dựng nên trên núi Côn Sơn để làm nơi lui nghỉ vào thời Long Khánh (1373- 1377).

        Chữ Thanh Hư Động do vua Trần Nghệ Tông tự ban cho, ngài đích thân làm bài minh, khắc phía sau bia. Hiện nay tấm bia Thanh Hư động vẫn còn, đặt trước chùa Côn Sơn. Bia đặt trên lưng rùa đá lớn, mặt trước khắc ba chữ “Thanh Hư Động”, trán bia khắc hoa văn Triệu hoá Long chầu mặt Trời, có bốn chữ triện “Long Khánh Ngự Thư”.

      Căn cứ vào các dữ liệu, có thể hình dung ra Thanh Hư Động có một không gian rộng lớn nằm ở khe núi Côn Sơn- Ngũ Nhạc. Ba mặt Tây Nam Bắc núi rừng che kín, phía đông trước Động Thanh Hư thung lũng mở rộng. Hai sườn núi Côn Sơn- Ngũ Nhạc toả ra, tạo một khoảng trời rộng mở phía trước, hình dung là động. Chữ “Động” ở đây chỉ mang nghĩa địa danh, không hàm ý hang động thực. Thanh Hư Động là thanh trong, thoát tục, hư không, bao gồm cả một vùng không gian đất trời rộng lớn, đó là sườn núi Côn Sơn và một khoảng không gian rộng dưới chân núi Ngũ Nhạc.

        Thanh Hư Động sáu thế kỷ qua, gắn liền với cuộc đời âm vang sông núi và cả loài người Danh nhân văn hoá Thế giới Nguyễn Trãi.

       Năm 1385, Trần Nguyên Đán về hưu. Nguyễn Trãi sáu tuổi ở làng Nhị Khê ngoại thành Thăng Long, mẹ mất, theo ông ngoại Trần Nguyên Đán về Côn Sơn ở Động Thanh Hư, được ông dạy chữ, dạy làm người. Năm 1390, Trần Nguyên Đán qua đời. Nguyễn Trãi ở với cha Nguyễn Phi Khanh được cha dạy dỗ, cho ăn học.

       Cuối năm 1406 giặc Minh mượn cớ phù Trần, diệt Hồ, xâm lược nước ta. Nguyễn Trãi phiêu dạt loạn ly, tìm kế sách diệt Ngô, sớm đến với nghĩa quân Lam Sơn, tôn Lê Lợi làm vua, và mười năm giúp Lê Lợi chiến thắng giặc Minh.

      Năm 1428. Lê Lợi thắng giặc Minh, giải phóng đất nước. Nguyễn Trãi tuy làm quan triều Lê Lợi ở Thăng Long, nhưng luôn tìm lại Côn Sơn, vui chốn lâm tuyền, rừng Thiền, cõi Phật, hưởng thú thanh bình. Năm 1437, Nguyễn Trãi thoái triều Lê Lợi. Nguyễn Trãi bị Lê Lợi nghi kỵ tống giam. Năm mươi tuổi, Nguyễn Trãi về Côn Sơn ở ẩn lần thứ nhất cùng vợ thứ Nguyễn Thị Lộ. Lê Lợi chết di chúc Lê Thái Tông thay ngôi cha “Hãy tin dùng Nguyễn Trãi”.

       Nguyễn Trãi yêu nước, thương dân, muốn cứu dân, ông từ Côn Sơn cùng Nguyễn Thị Lộ lật đật về triều Lê Thái Tông tại Thăng Long nhận một chức quan nhỏ hơn chức thời Lê Lợi phong cho Nguyễn Trãi. Nhưng vì muốn giúp ông vua mười một tuổi xây nền bình trị, Nguyễn Trãi vẫn tận tuỵ hết mình.

      Trớ trêu thay! Cảnh triều chính buổi sơ khai, vua nhỏ lại nhiều vợ tranh giành, quân tướng chia bè phái chống nhau. Nịnh thần đông như cỏ. Nguyễn Trãi dâng trí tuệ lòng nhân, giúp vua xây đất nước đẹp như thời Nghiêu Thuấn bên Tàu  “Vua Nghiêu Thuấn/ Dân Nghiêu Thuấn” (Thơ Nguyễn Trãi).

        Nguyễn Trãi một mình chống lại gian tham, bị gian thần ghen ghét, loại trừ. Nguyễn Trãi về Côn Sơn lần thứ hai giữ chức trông chùa Côn Sơn. Nguyễn Thị Lộ được vua phong Lễ nghi học sĩ, ở lại cung đình.

       Ở Côn Sơn, Nguyễn Trãi dựng lều bên suối trong Thanh Hư Động, gần đền thờ ông ngoại Trần Nguyên Đán, hằng ngày đọc sách, ngâm thơ, nghe chim ca, suối hát, vui cảnh thanh bần. Tấm lòng Nguyễn Trãi yêu nước, thương nòi còn hiển hiện trong ngôi đền thơ ông gửi lại: “Bốn vách xác xơ chỉ có sách là giàu”, ăn thì “dù có dưa muối, áo mặc nài chi gấm thêu”, hồn ung dung thư thái: “hài cỏ đẹp chân đi đủng đỉnh” vẫn “một lòng âu việc nước” mong  “thôn cùng xóm vắng không một tiếng oán sầu”…

         Sức sống thiêng liêng của Nguyễn Trãi trường tồn vĩnh cửu cùng trời đất, núi rừng, gốc cây hòn đá, ngọn cỏ Côn Sơn. Tất cả vẫn còn đây những vui buồn, đau khổ, căm giận, thương yêu, trí tuệ rạng ngời của vĩ nhân Đại Việt thuở đất trời gió bụi.

        Nguyễn Trãi với Côn Sơn là hai người bạn tri âm tri kỷ sống chết không rời.

         Nguyễn Trãi đã sống ở Côn Sơn những ngày cuối cùng với Nguyễn Thị Lộ và vua Lê Thái Tông rất tin kính, nể trọng hai vợ chồng ông, trước khi xảy ra thảm án kinh hoàng Lệ Chi Viên, ngót sáu trăm năm còn chảy máu.

       Côn Sơn bừng toả Ánh Sáng Sao Khuê muôn đời in bóng thi nhân, người anh hùng xứ sở, vào một ngày Trung Thu định mệnh năm 1442, trong thảm án Lệ Chi Viên. Nguyễn Trãi- Nguyễn Thị Lộ bị chém đầu cùng ba họ vì bị vu tội giết vua, sau cái chết đột ngột không biết nguyên do của Lê Thái Tông tại vườn vải Lệ Chi Viên (Bắc Ninh)…

       Năm 2000. Đền thờ Nguyễn Trãi được khởi công xây dựng tại Thanh Hư Động với khuôn viên rộng gần mười nghìn mét vuông. Phía bên phải là dòng suối Côn Sơn “nước chảy rì rầm” từ Bắc xuống Nam, uốn lượn từ phải qua trái, ôm lấy khu đền linh thiêng. Ngôi đền chính tựa lưng vào Tổ Sơn, hai bên đền tựa vào hai núi Kỳ Lân và Ngũ Nhạc. Phía trước có hồ nước, tiền án là dãy núi An Lạc xa xa.

      Năm 2005. Trùng tu chùa Côn Sơn. Tôn tạo đền thờ Trần Nguyên Đán trong vùng linh khí Thanh Hư Động và tôn tạo đường lên “Ngũ Nhạc linh từ”.

        Trước đây, Côn Sơn chỉ có một mùa lễ hội đầu Xuân vào ngày Huyền Quang viên tịch.

          Năm 1980 Nguyễn Trãi được Tổ chức UNESCO kỷ niệm sáu trăm năm ngày sinh, với danh nghĩa “Danh nhân văn hoá Thế giới”, Côn Sơn thêm lễ hội mùa Thu vào ngày mất Nguyễn Trãi (16 tháng tám Âm lịch).

      Người Việt Nam hôm nay, không chỉ đến Côn Sơn trong hai mùa lễ hội. Mọi người về Côn Sơn trong niềm thao thức tâm linh, mong tìm sức mạnh tâm linh từ Nguyễn Trãi.

       Khi lòng người mưa rơi, mình gọi Người- Nguyễn Trãi- Sao Khuê! Và Sao Khuê sáng bừng hiển hiện, tỉnh thức muôn hồn, ru ấm Yêu Thương .

               Sao Khuê Bừng Sáng

  Thăng Long- Hà Nội nghìn năm tuổi

   Sao Khuê bừng rực rỡ Việt Nam

   Anh hùng với mỹ nhân mãi còn

   Lạ lùng thay! Cô bán chiếu gon

   Bút hoa thân ngọc rộn nước non

   Trăm năm thắp lửa Thơ dậy sóng

   Tài tử giai nhân bước dập dìu

   Sáng Tình Kẻ sĩ đậm thành Nam

   Vung bút giữ khí lành Đất Việt

   Phát huy văn hoá đồng Hoa Lúa

   Không nô dịch Tây Tàu Hàn Nhật

   Xây nền thịnh trị với lòng Nhân

   Yêu nước lấy Tình Dân làm gốc

  “Việc Nhân Nghĩa cốt ở Yên Dân”

   Sao Khuê lấp lánh, động Long Thành

   Bay bổng cùng cô bán chiếu gon

   Thảm án tru di- hoá Trăng tròn

   Lộng lẫy vàng son bầu trời Việt

   Truyền Tình Yêu Việt gọi cháu con.


(Ngày kỵ thứ 558 (16- 8 Âm lịch năm Nhâm Tuất 1442- 2010-Mai Thục)
_________________________________

Hồ Gươm gió đưa phóng xạ hạt nhân
(Chưa ảnh hưởng sức khoẻ con người)
17h Ngày 30- 3- 2011  

© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng tải theo nguyên bản của tác giả từ Hà Nội ngày 31.03.2011.
Trích đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com