Chương 5


    Trong gian nhà nhỏ ẩn sau ngôi chùa Côn Sơn, Nguyễn Thị Lộ chiều chiều chăm bón vườn rau, tưới hoa, và ngóng chờ Nguyễn Trãi từ Thăng Long trở về. Nàng luôn cảm thấy bồn chồn lo lắng. Đã nửa tháng rồi, Nguyễn ở Thăng Long. Không biết chàng có được bình an không?

            Nguyễn Thị Lộ linh cảm cung đình đang rơi vào tình trạng hỗn loạn. Lê Lợi già yếu. Ngài phải chọn người kế vị. Lê Tư Tề, con trưởng của ngài là xứng đáng hơn cả. Nhưng còn lời hứa với Phạm Thị Ngọc Trần đã hiến mình cho thần cá quả lội xuống sông sâu mà chết? Trước khi chết, nàng đã mặc cả với Lê Lợi phải truyền ngôi cho con trai nàng là Lê Nguyên Long còn đỏ hỏn. Lê Lợi hiện đang lâm vào tình trạng khó xử. Quần thần chia phe phái tranh giành quyền lực. Nguyễn Trãi từ lâu đã đứng một mình. Nguyễn không thuộc phe nào. Liệu Lê Lợi có để cho Nguyễn được yên không? Hay là đức vua đang kéo Nguyễn vào hùa với mình?

           Nghĩ lung tung thế, nhưng nàng rất tin chồng. Năm mươi tuổi. Tri thiên mệnh. Nguyễn sẽ biết cách ứng xử. Chẳng việc gì nàng phải quá lo như vậy. Nỗi nhớ chồng trào dâng nao nức. Nguyễn Thị Lộ vừa chẻ những cành mai khô để dành nấu trà cho Nguyễn vừa cao hứng ngâm ngợi thơ chồng. Tiết trời đang mùa thu. Nắng vàng trải lụa trên rừng thông xanh bát ngát. Nguyễn Thị Lộ thầm đọc bài Thu nguyệt ngẫu thành của chồng, lòng nàng bay bổng theo gió mùa thu thơm hương quả thông:

                       U trai thuỵ khởi, độc trầm ngâm

                       Án thượng, hương tiêu, tĩnh khách tâm

                       Tĩnh lý càn khôn, kinh vạn biến

                      Nhàn trung nhật nguyệt trị thiên kim

                      Nho phong lãnh đạm thời tình bạc

                      Thánh vực ưu du đạo vị thâm

                       Độc bãi quần thư vô cá sự

                       Lão mai song bạn lý dao cầm

                     (Trầm ngâm thức dậy tựa thư phòng

                       Án toả hương bay án sạch lòng

                        Yên tĩnh đất trời ghê vạn biến

                        An nhàn ngày tháng đáng nghìn chung

                        Thói nho lạnh nhạt tình đời bạc

                        Cõi thánh thung thăng vị đạo nồng

                        Đọc hết sách rồi không chút việc

                        Cạnh song mai lựa phím đàn rung)

           Chiều nay, Nguyễn Thị Lộ cảm thấy thư thái trong lòng. Câu thơ mùa thu của Nguyễn Trãi rung lên từ đôi môi của nàng, vang ấm khu vườn.

              Bỗng nàng nghe tiếng bước chân rất nhẹ. Nàng ngước nhìn lên, bắt gặp đôi mắt Nguyễn nheo cười. Nàng ôm choàng lấy Nguyễn, gục vào vai chồng, nước mắt thấm ướt. Nguyễn hôn lên mắt, lên trán, lên má nàng. Tình chồng nghĩa vợ trào dâng. Nỗi nhớ niềm thương ủ nóng hồn nàng. Nàng thảng thốt:

    - Phu quân đã về.

            Nàng vuốt khắp người chàng. Không sao. Chồng nàng vẫn nguyên vẹn trở về. Hai người ôm ấp nhau không rời. Cây vườn vang lên dạ khúc tình yêu:

                      Lửa hương hương lửa mặn mà

                    Để cho thu cúc hợp nhà xuân lan

                       Sắt cầm duyên hợp tạo  đoan

                     Để cho tính lại giao hoan với tình… 

             Xa vợ nửa tháng trời mà Nguyễn cảm thấy như lâu lắm. Gặp nhau sau những ngày đợi chờ lo âu, tình yêu trở nên thắm đượm nồng nàn. Như khóm cúc cuối vườn bén khí thu, toả hương thơm đậm đà, Nguyễn Thị Lộ rạng rỡ thanh xuân.

                Nguyễn Trãi rộn ràng sức sống. Đêm trăng tình nồng hơi ấm, Nguyễn như gặp lại Nguyễn Thị Lộ tuổi trăng tròn, đêm động phòng hoa:

                     Từ bén hơi xuân tốt lại thêm

                      Đầy buồng lạ, màu thâu đêm

                      Tình như một bức phong còn kín

                      Gió nơi đâu gượng mở xem

           Nguyễn nâng niu nàng dịu dàng nhẹ êm. Nguyễn thưởng thức vẻ đẹp ái ân cùng nàng như gió nhẹ vờn lá chuối non cuộn tròn trinh tiết, toả ngát hương. Tình yêu và ái ân của thi nhân, thánh thiện thanh cao, hoà cùng cỏ cây vạn vật đất trời.

         Nguyễn Thị Lộ luôn biết ơn chồng, đã dành cho nàng suối nguồn ái ân tinh tế. Nàng chẳng còn mong ước gì hơn. Tuy vậy, có lúc nàng thoáng buồn. Nàng và Nguyễn chờ mong một đứa bé tuấn tú, thông minh, đẹp xinh sẽ ra đời trong vòng tay Nguyễn. Nhưng sự muộn mằn đường con cái chẳng biết vì đâu, nàng đành tin vào số mệnh. Chỉ biết hồn nàng, thân thể ngà ngọc, nõn nường của nàng ngân rung cùng Nguyễn, dâng tặng nàng hạnh phúc ái ân.  

    Cuối thu. Mấy cây na trong vườn quả chín thơm. Quả đầu mùa. Nguyễn Thị Lộ ra vườn hái quả và cùng Nguyễn Trãi vào chùa Côn Sơn lễ Phật.

           Chùa Côn Sơn dưới chân núi, gần tấm bia ghi bài ký Thanh Hư Động của Nguyễn Phi Khanh. Ngôi chùa nhỏ u tịch của chốn thiền môn, suối ngân nga đâu đây, những cây thông trầm mặc thẳng ngay, như dáng thiền sư thanh thản tham thiền. Thượng điện chùa Côn Sơn Thiên Tư Phúc mái ngói rêu phong. Tiền đường hai ông hộ pháp dáng vẻ hiền hoà như đón chào Phật tử.

             Nguyễn Thị Lộ cùng chồng dâng hương hoa quả lên nhà tổ, nơi có tượng Trúc Lâm Tam tổ, để theo một hàng ngang, giữa là Trần Nhân Tôn, bên phải là Huyền Quang, bên trái là Pháp Loa. Tượng Trần Nhân Tôn gương mặt tham thiền rạng rỡ. Ngài ngồi tư thế kiết già, khoác áo hở một bên ngực theo lối tu tiểu thừa. Tượng Huyền Quang vầng trán cao, rộng, mỉm cười hàm tiếu, Huyền Quang và Pháp Loa mặc áo kín ngực theo đại thừa. Ba pho tượng Trúc Lâm Tam tổ chụm nhau hợp thành một khối tham thiền vững chãi, toả màu nâu thiền bình an, thanh tịnh.

           Nguyễn Trãi im lặng dạo chùa Côn Sơn cùng Nguyễn Thị Lộ. Nguyễn thấy lòng mình êm dịu màu thiền. Nguyễn nói về nguồn gốc ngôi chùa cho vợ hiểu sâu sắc về nó:

            - Chùa Côn Sơn là nơi Huyền Quang, tổ thứ ba của Thiền Trúc Lâm đã tu tập và viết sách. Ngài lập đài Cửu phẩm liên hoa biên tập kinh sách để truyền lại cho đời sau. Huyền Quang là một nhà sư uyên bác và giàu lòng nhân đạo. Thơ văn của ông trang nhã, thắm tình người. Chính vì sự thông tuệ, yêu thương con người, chuyên tu, lòng trong sạch, mà Huyền Quang bị người đời ghen tỵ hiềm khích, bị giăng lưới bắt chim, để lại cho hậu thế câu chuyện sư Huyền Quang và nàng Điểm Bích, trải trầm luân. Nhưng cũng nhờ nỗi oan trái ấy, mà Huyền Quang đắc đạo. Ngày 22 tháng Giêng năm 1334, Huyền Quang viên tịch tại Côn Sơn. Vua Trần Minh Tôn cho mười lạng vàng xây tháp cho sư ở phía tả, sau chùa Côn Sơn, đặc phong tự tháp Huyền Quang tôn giả.

              Nguyễn dắt Nguyễn Thị Lộ ra thăm Tháp Huyền Quang. Tháp mang tên “Đăng Minh bảo tháp” ở phía sau chùa Côn Sơn, bên đường lên Bàn Cờ Tiên và Thanh Hư động. Đó là một ngôi tháp đất nung ba tầng với kiến túc tao nhã thời Trần, hoa văn tinh tế giản dị hài hoà với khung cảnh đồi thông cây lá, hoa cỏ tươi xanh. Hai vợ chồng Nguyễn ngồi dưới bóng thông già, bên tháp Huyền Quang, Nguyễn muốn kể cho vợ nghe câu chuyện sư Huyền Quang và nàng Điểm Bích.

            Nguyễn Thị Lộ nhân khoảnh khắc an tịnh hiếm có này, muốn Nguyễn nói về Phật giáo thời Lý- Trần và Thiền Trúc Lâm Yên Tử. Nàng đã đọc một số bài kệ của các Thiền sư Lý- Trần, nhưng chưa hiểu rõ lắm, và nhất là nàng chưa “ngộ” được Thiền Trúc Lâm Yên Tử là gì?

            Nàng bảo chồng, giọng hơi có vẻ nũng nịu:

          - Thiếp lúc nào cũng là người học trò nhỏ của phu quân. Nhân đây, chàng giảng về Phật và Thiền Trúc Lâm Yên Tử, giúp thiếp có thể ngộ được chút nào chăng?

           Nguyễn quàng tay qua vai vợ, âu yếm:

    - Có được người vợ ham học hỏi như nàng ta vui lắm. Ta biết nàng đựơc học Tứ thư, Ngũ kinh qua người cha của mình. Nay nàng lại từng ngày học hỏi ở chồng để trở thành một người đàn bà đầy đủ tri thức. Nàng hơn hẳn các nàng khác, chỉ biết thờ chồng, nuôi con, chăm lo bếp núc. Người đàn bà như nàng ta rất kính trọng. Và ta rất thích những người biết cách tự học hỏi, không cần phải đến trường mà vẫn tiếp thu được học vấn như nàng.

    - Dạ, thiếp may mắn có cha là nhà Nho, chuyên dạy học trò. Thiếp quanh quẩn bên cha, nấu trà, dâng thuốc lào, mà bỗng nhiên thuộc cả những bài giảng của cha. Thiếp may có  mẹ, có bà, những khi ngồi dệt chiếu, thường hát ru và kể chuyện cổ tích. Những lúc đó, thiếp như được lạc vào một  xứ sở thần tiên với tất cả những điều tốt đẹp và những giấc mơ bay bổng. Thiếp từng mơ mình là công chúa, lấy được Hoàng tử. Giấc mơ ấy theo thiếp lên kinh thành Thăng Long, ngồi bán chiếu gon. Và thiếp gặp chàng, một văn nhân tài tử, một ông quan, một đấng trượng phu, tài đức và anh hùng. Giấc mơ trong cổ tích đã thành sự thật. Thiếp được làm vợ chàng. Thiếp được sống cùng chàng êm chăn gối. Thiếp còn được tiếp nhận nguồn tri thức vô cùng lớn từ chàng. Thiếp hiểu trong chàng chứa đựng tất cả mọi tinh hoa Á Đông mà chàng học được. Chàng là nhà nho, nhưng chàng ngộ cả Thiền trúc Lâm Yên Tử, chàng cũng có những phút phiêu bồng như Lão Tử, lẫn vào Đất Trời vô cùng, vô tận…

           Nguyễn nheo đôi mắt cười hóm hỉnh, hôn lên bàn tay mềm mại của vợ:

          - Ôi! Bàn tay đáng yêu này, ta những tưởng nàng chỉ

    biết mài mực cho ta đề thơ. Mà không, bàn tay nàng biết nói, tâm hồn nàng hát ca. Nàng lấy cớ gì mà bảo ta thông cả Nho, Phật, Lão?

    - Thiếp sống bên chàng tính từ bấy đến nay, kề vai, ấp má, ôm ấp từng ý nghĩ vui buồn nóng lạnh của chàng, cách ứng đối của chàng, thiếp đều hiểu được nguồn cơn. Từng bài thơ của chàng thiếp đều thuộc. Bởi thế, thiếp mới dám ngợi ca chàng như vậy. Thiếp đọc bài thơ Đề Yên Tử Hoa Yên Tự của chàng để làm chứng cớ nhé!

                       An Sơn, sơn thượng tối cao phong

                      Tài ngũ canh sơ nhật chính hồng

                        Vũ trụ nhỡn cùng thương hải ngoại

                        Tiếu đàm nhân tại bích vân trung

                        Ủng môn, ngọc sóc, sâm thiên mẫu

                        Quải thạch, châu lưu, lạc bán không

                        Nhân miếu đương niên di tích tại

                        Bạch hào quang lý đổ trùng đồng

                        (Yên Sơn ngọn núi chông vông

                         Đầu canh năm thấy vầng hồng đã ra

                         Vô cùng trời biển bao la

                         Nói cười mây biếc quanh ta chờn vờn

                         Trúc bao nghìn mẫu xanh rờn

                          Nhũ buông cao thấp bên cồn đá rêu

                          Nhân Tôn dấu cũ tiên triều

                         Trùng đồng đôi mắt toả nhiều hào quang)

           Nguyễn Thị Lộ đọc xong bài thơ đề núi Yên Tử, tinh nghịch nói với Nguyễn Trãi:

    - Chàng coi thường thiếp không hiểu được thơ của chàng chăng? Bài thơ Đề Chùa Hoa Yên ở núi Yên Tử, nếu chàng không am hiểu Nho, Phật, Lão thì không thể viết được những câu thơ như thế! Hồn chàng đã tan vào vũ trụ. Và chàng nhận được ánh sáng, hào quang toả ra từ đôi mắt Phật hoàng Trần Nhân Tôn. Đó là giây phút chàng thiền định, tâm trí thinh lặng để cảm nhận được nguồn ánh sáng vô biên của vũ trụ.

           Nguyễn Trãi mỉm cười. Đôi mắt cười theo. Nguyễn thầm cảm phục Nguyễn Thị Lộ. Không thể coi thường nàng được. Người đàn bà đáng yêu này của Nguyễn thông minh khác người.

           Nguyễn bảo:

           - Ta đâu dám coi thường nàng. Ta sợ một ngày mai, nàng thu hết kho báu trí tuệ của ta vào mình, lúc đó ta chẳng còn vốn liếng mà trò chuyện cùng nàng. Ta sẽ thành vô dụng trong đôi mắt của nàng.

           - Không bao giờ có chuyện ấy. Phu quân lại chế giễu thiếp rồi. Thiếp lúc nào cùng như con mèo con bé nhỏ quấn trong lòng chàng. Người quân tử luôn làm giàu kho báu của mình bằng sự trải nghiệm và góp gom tri thức từng ngày. Thời gian trôi càng thêm bồi đắp. Có điều, thỉnh thoảng thiếp rất buồn. Nỗi buồn kiếp người ngắn ngủi. Khi ta hoàn thiện đủ nhân cách Con Người, là lúc thân xác ta tàn tạ, dần trôi về cõi hư vô…

             Nguyễn Trãi ôm chặt lấy nàng. Ông muốn truyền sức sống cho nàng. Hay là ông đang đón nhận nguồn sống trẻ trung từ nàng…

             Để xua nỗi cô đơn trào lên trong hồn hai người, Nguyễn đọc bài kệ nổi tiếng của Thiền sư Mãn Giác thời Lý cho vợ nghe:

                                 Xuân đi trăm hoa rụng

                                Xuân đến trăm hoa cười

                                 Trước mắt việc đi mãi

                                 Trên đầu già đến rồi

                                 Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết

                                  Đêm qua xuân trước một nhành mai

             Nguyễn nói:

    - Ta không muốn ru ngủ nàng đâu. Người xưa đã nhận ra lẽ sống và lẽ chết. Phải chấp nhận nó và vui sống với hiện tại. Ta và nàng đang hiện hữu lúc này đây, tràn đầy hạnh phúc. Hãy hưởng thụ hạnh phúc ấy, kẻo một mai, nó trôi đi không trở lại. Đấy cũng là tinh hoa triết lý nhân sinh Phật giáo từ Ấn Độ, Trung Quốc truyền vào nước ta. Ông cha ta sớm thức nhận được tinh hoa ấy để sống làm người. Phật và Lão, hay Nho giáo đều là trí tuệ của người phương Đông, sớm ảnh hưởng đến nước ta. Người Đại Việt tiếp thu tất cả mọi thứ triết lý tốt đẹp và biến tấu nó trong hồn Đại Việt. Ta cũng vậy thôi. Hồn Đại Việt nuôi dưỡng ta từ tấm bé, như một đại dương mênh mông, cho ta đủ sức mạnh chở những con thuyền trí tuệ từ phương Đông tới, hoà sáng hồn ta.

          Nào bây giờ nàng hãy lắng nghe ta nói về Thiền Trúc Lâm Yên Tử. Nàng có con mắt thứ ba, nàng sẽ ngộ rất nhanh:

    - Thời Trần (1225- 1400) Phật giáo còn thịnh hành, tuy đã bị một số Nho sĩ đả kích và nhà Trần đã lấy Nho giáo làm hệ thống tư tưởng, cai trị đất nước. Nhưng các vua Trần đều mộ đạo Phật. Họ tiếp thu được tinh hoa Phật giáo từ các Thiền sư thời Lý. Trần Thái Tôn, có lần đã bỏ ngai vàng lên núi Yên Tử tu vì Trần Thủ Độ ép ngài phải bỏ Lý Chiêu Hoàng lấy công chúa Thuận Thiên, chị gái Lý Chiêu Hoàng, chỉ bởi Chiêu Hoàng không có con trai nối dõi. Trần Thủ Độ phải lên Yên Tử đón vua về kinh “Bệ hạ ở đâu thì triều đình ở đó”. Thái Tôn vì sơn hà xã tắc phải về làm vua, nhưng lòng ngài buồn đau thân kiếp con người, đêm ngày học kinh Phật, tự giác ngộ. Khi con trai ngài là Trần Thánh Tôn đủ sức lo việc nước, ngài lui về lập am Thái Vi ở cố đô Hoa Lư để tu thiền.

             Cháu nội Trần Thái Tôn là vua Trần Nhân Tôn (1258- 1308) con trưởng vua Trần Thánh Tôn, học Phật từ nhỏ, đã lập chiến công hiển hách, hai lần đánh thắng giặc Nguyên. Năm ba mươi mốt tuổi, ngài nhường ngôi cho con để tu thiền. Năm bốn mươi mốt tuổi, ngài xuất gia vào núi Yên Tử tu khổ hạnh, lập ra Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, mang đậm hồn Việt Nam, khẳng định Tâm mình tức Phật. Phật tại Tâm. Các phép đều tu “Phản quan tự kỷ” (Xoay lại tìm mình), tìm con người cá nhân chân thật và sống thuận với sự chân thật đó, không mê lầm sa vào tội lỗi.

             Tinh hoa của Thiền Trúc Lâm Yên Tử hiện ra qua thơ Trần Nhân Tôn:

                              Ở đời vui đạo hãy tuỳ duyên

                              Đói đến thì ăn, mệt ngủ liền

                              Trong nhà có báu thôi tìm kiếm

                              Đối cảnh vô tâm chớ hỏi thiền

             Trần Nhân Tôn dành mười năm đi khắp thôn cùng xóm vắng dạy dân tu thập thiện và dạy cách “Phản quan tự kỷ” tìm lại chính mình. Ngài truyền tâm ấn cho thiền sư Pháp Loa và viên tịch tại Yên Tử. Pháp Loa viên tịch, truyền cho Huyền Quang…

              Sau khi Huyền Quang viên tịch, không có người tiếp nối, nhưng sức sống của Thiền Trúc Lâm Yên Tử đã ăn sâu bám chắc trong lòng dân Đại Việt. Nền văn hiến Đại Việt mãi mãi sáng ngời hình ảnh đức vua Trần Nhân Tôn, bỏ ngai vàng đi tu hiển Phật, để lại một dòng Thiền độc đáo Đại Việt góp vào kho báu văn hoá Đại Việt.

              Bài giảng của Nguyễn Trãi cô đọng mà đầy đủ sáng soi. Nguyễn Thị Lộ không còn vướng mắc gì, nhưng nàng vẫn chưa quên câu chuyện sư Huyền Quang và nàng Điểm Bích mà Nguyễn hứa sẽ kể với nàng.

            Nguyễn Thị Lộ bóc một quả quýt cho Nguyễn và khéo léo gợi chuyện:

            - Phu quân hứa kể chuyện nàng Điểm Bích cho thiếp

    nghe. Có phải chuyện cổ tích không?

    - Ừ. Nàng biết không? Chuyện xưa như thực, như mơ. Không không, sắc sắc. Nhưng là chuyện con người. Cổ tích hay huyền thoại đều từ chuyện con người mà ra cả. Đúng/sai? Tốt/ xấu? Khóc/ cười? Vinh/ nhục? Người đời sau nghe được để tự biết, tự tìm ra con đường sống cho mình. Hiểu đời. Hiểu mình.

           Thiền sư Huyền Quang (1254- 1344) tên thật là Lý Đạo Tái, thuộc dòng dõi quan lại nhà Lý quê ở Bắc Ninh. Lý Đạo Tái tướng mạo kỳ dị, học rất thông minh. Đỗ tiến sĩ năm mười chín tuổi. Lý Đạo Tái làm việc ở Viện hàn lâm, soạn thảo văn thư, giao tiếp với sứ Tàu, viện dẫn kinh nghĩa, đối đáp trôi chảy, rất được kính phục. Một hôm, Lý Đạo Tái theo vua Trần Nhân tôn đến chùa Vĩnh Nghiêm ở Bắc Giang, gặp Quốc sư Pháp Loa đang thuyết pháp, Lý Đạo Tái tâm đắc với đạo Phật, ông dâng biểu từ quan và xin xuất gia tu hành, được vua thuận tình. Chẳng bao lâu, giáo lý của Huyền Quang uyên bác, sâu rộng nên các tăng ni theo học rất đông. Pháp Loa đặt pháp hiệu cho ông là Huyền Quang. Điều ngự Trần Nhân Tôn, Pháp Loa và Huyền Quang thường đi du ngoạn khắp trong nước. Huyền Quang được viết kinh sách, sách giáo khoa Phật, truyền bá trong dân. Vua khen: “Các sách nói về đạo Phật do Huyền Quang viết ra thì không nên thêm bớt một chữ nào”.

           Trước một vị cao tăng toàn tâm, toàn ý cho việc tu hành, vua Trần Anh Tôn rất kính phục, nể vì. Nhưng lòng vua vẫn nghi ngờ băn khoăn.

              Một hôm vua nói với quần thần:

    Người ta sinh ra ở đời, cõng khí âm mà ôm khí dương, ăn của ngon, yêu sắc đẹp, người nào cũng có tình dục ấy. Chúng ta vì dốc lòng học đạo mà phải ức chế một phần tình dục ấy mà thôi. Nay xét lão tăng Huyền Quang sinh ra sắc sắc, không không, yên lặng như nước, không sóng, trong sáng như gương không bụi, như vậy là sư ấy ức chế được tình dục, hay không có tình dục?

          Lưỡng quốc trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi tâu:

    - Hoạ hổ hoạ bì nan hoạ cốt, tri nhân, tri diện, bất tri tâm. (Vẽ hổ  vẽ da khó vẽ được xương, biết người biết mặt, không biết được lòng dạ). Hãy thử xem thì mới biết hay dở.

           Nhà vua nghe theo, ngầm sai nàng Điểm Bích, cung nữ đẹp xinh tuổi mười chín, khéo léo, thốt thành thơ, lên Yên Tử thử đức chân tu của Huyền Quang và mang một nén vàng về làm bằng chứng. Điểm Bích đến chùa Vân Yên xin được xuất gia tu hành. Nàng lân la bưng trà, nước cho Huyền Quang. Thấy Điểm Bích lả lướt đưa tình, Huyền Quang sai đuổi Điểm Bích về quê lấy chồng. Điểm Bích bày mưu lừa Huyền Quang xin lạng vàng về cứu cha. Thương tình, Huyền Quang cho nàng nén vàng mang về.

            Được vàng Điểm Bích về tâu vua là Quốc sư đã có tình với mình:

    Một đêm khuya, sư vời thiếp vào phòng và ngâm bài kệ 

                           Vằng vặc trăng mai ánh nước

                             Hiu hiu gió trúc ngâm sênh

                             Người hoà tươi tốt cảnh hoà lạ

                             Mâu Thích Ca nào thú hữu tình?

              Sư giữ thiếp lại một đêm và tặng nén vàng.

         Nhà  vua nghe xong bực mình thốt lên:

    - Nếu việc ấy có thật thì ta đã đạt được mưu kế giăng lưới bắt chim. Nếu không thì sư ấy cũng không tránh khỏi sự nghi ngờ.

          Vua liền sai mở hội vô già ở phía Tây kinh thành và mời sư Huyền Quang về làm án pháp. Đến hội thấy cảnh bày cỗ mặn, tạp chất, Huyền Quang biết mình đã bị thử thách. Sư ngẩng lên trời, lên đàn ba lần, xuống đàn ba lần, bái vọng mười phương thánh hiền. Bỗng gió nổi, mây kéo đến, các bàn tạp vật đều bay đi hết. Vua thấy Huyền Quang thần thông, thấu trời đất, liền đến vái lạy Huyền Quang và phạt Điểm Bích đi quét chùa Cảnh Linh trong hoàng cung. 

           Nguyễn Thị Lộ nghe xong câu chuyện, nàng nhìn Nguyễn  lặng lẽ buồn:

    - Thế thái nhân tình thật trớ trêu. Con người tử tế quá, tài năng quá cũng khó sống với đời. Huyền Quang đã đi tu, cũng không thoát cảnh bị người “Giăng lưới bắt chim”.

                Nàng bỗng thoáng lo âu cho Nguyễn.

       Nguyễn đã đi ở ẩn rồi, liệu có được yên thân không? 

     

    Chương 6

     

             Hoàng thành Thăng Long.

              Những ngày cuối tháng bảy năm 1433.

             Điện Kính Thiên sau buổi thiết triều. Các quan lục tục ra về. Không khí vắng lặng. Lê Lợi không được khỏe, dù trời đã sang thu, nắng hè oi ả tan dần. Ngài vẫy tay vời quan Trung thừa ngự sử Bùi Cầm Hổ ở lại trò chuyện. Hổ có tiếng là người chính trực, không thuộc phe phái nào, tinh thông văn, sử, pháp luật, hiểu tâm lý người, yêu cỏ cây, sinh vật. Mỗi lần đàm đạo với ông ta, Lê Lợi thêm cái nhìn mới.

            Bùi Cầm Hổ chậm rãi cùng đức vua dạo quanh vườn điện Kính Thiên. Không vội trao lời. Ông chờ ngài tâm tình trước.

            Lê Lợi nói:

    - Ngươi cùng trẫm đi quanh vườn xem cây, ngắm quả. Trẫm muốn đầu óc được nghỉ ngơi. Trẫm không muốn nghĩ đến các loại quan vây quanh trẫm. Họ rất đông, chia năm bè, bảy phái, mà hiền tài thì hiếm.

    Tâu bệ hạ, vườn Hoàng Thành đủ loại cây quả của đồng quê được bứng về trồng ở đây: mít, sấu, đào, mận, bưởi, hồng, muỗm, cau, chuối, cam, chanh, dừa, ổi… Hoàng thượng ngắm vẻ đẹp của các loài cây hoa quanh vườn sẽ thấy lòng thư thái. Riêng hạ thần thích nhất hai cây hoa ngọc lan được trồng đối xứng trước sân rồng. Nó cao to, tỏa bóng mát và hoa trắng rất thơm, rụng xuống. Trên cành cây, bọn tầm gửi tranh nhau mọc, um tùm, tươi xanh, nhưng èo uột và rối loạn.

           Vốn là người Mường quen nghĩ bằng hình ảnh, và luôn ví von, so sánh với cỏ cây trong cách nói năng, Lê Lợi lờ mờ hiểu ý tứ  của những từ “bọn tầm gửi”, ngài mỉm cười khen Hổ:

    - Ngươi nói chuyện như viết văn. Hay thật.

    - Vâng thưa bệ hạ. Văn là người. Văn, Sử, Triết bất phân. Quan ngự sử  viết văn là chuyện thường.

             Lê Lợi hỏi:

    - Ngươi đã viết được tác phẩm văn chương nào ra hồn chưa?

    - Dạ thưa bệ hạ, viết văn là việc vô cùng khó. Hạ thần chưa làm được. Nhưng có những người làm ra văn chương, mà không xưng tên. Song câu chuyện họ kể, in dấu ngàn thu, nó  làm thay đổi tên gọi của một con hồ trên đất Thăng Long.

    Có như thế thật sao? Câu chuyện nào? Con hồ nào bị thay tên gọi? Nơi ta trị vì có chuyện hay như thế mà ta không biết. Kể cho trẫm nghe đi.

          Bùi Cầm Hổ khoan thai đi bên cạnh Lê Lợi, giọng đủng đỉnh:

    - Đó là chuyện Rùa thần đòi gươm trên hồ Lục Thủy.

    - Hồ Lục Thủy? Cái hồ mà trẫm vẫn du thuyền rồng chơi vui cùng các khanh đó phải không?

    - Dạ thưa vâng, đúng ạ.

    - Chuyện kể thế nào?

    - Muôn tâu bệ hạ, câu chuyện rất hay. Bệ hạ đã được chọn là nhân vật chính.

    Sao? Ta được chọn làm nhân vật đặt tên cho con hồ đó sao? Nếu thế thì ta thành bất tử rồi sao? Ta không chết? Tên ta vang lên ngàn đời cùng với tên mới của con hồ đó, đúng không?

    - Dạ muôn tâu, đúng thế ạ. Tên của bệ hạ sẽ vang lên không ngớt mỗi khi dân chúng gọi tên hồ Lục Thủy là hồ Hoàn Kiếm. Hoàn Kiếm có nghĩa là trả gươm.

           Lê Lợi giật mình. Ngài thét vang. Tiếng thét của ngài như vỡ cả không gian:

    - Sao lại trả gươm? Không. Ta không trả gươm.

    - Dạ bẩm tâu, xin Hoàng thượng hãy bình tâm. Thần xin kể câu chuyện mà  dân Kẻ Chợ truyền nhau đã mấy năm nay trên khắp quán chợ, vỉa hè. Nó rất hay. Trả gươm cũng là một việc tốt ạ.

    Đã mấy năm rồi, sao bây giờ ngươi mới cho ta hay?

    - Dạ, mới đầu hạ thần cứ tưởng chuyện huyền thoại, để mua vui. Không để  ý. Nay, mỗi lần ra hồ Lục Thủy, lại nghe dân chúng râm ran kể chuyện Rùa thần đòi gươm và gọi tên hồ Hoàn Kiếm. Họ không gọi hồ Lục Thủy như tên cụ kỵ ta đã đặt nữa. Điều đó làm cho hạ thần phải nghĩ. Nghĩ ngày, nghĩ đêm, xem nó có ý nghĩa gì. Dạ muôn tâu bệ hạ, đó là nghề của hạ thần ạ. Cái nghề cứ phải nghĩ sâu, nghĩ xa về những chuyện nhân tình thế thái. Cực lắm ạ. 

    - Chuyện thế nào? Kể mau.

    - Muôn tâu bệ hạ, chuyện kể rằng một hôm, trời xanh, mây trắng bồng bềnh, vua Lê Lợi ngự trên thuyền rồng lướt nhẹ  theo từng con sóng biếc hồ Lục Thủy, tay ngài nắm chặt thanh bảo kiếm. Bỗng có một đợt sóng chồm lên dữ lắm, như muốn lật thuyền ngự. Lê Lợi vung gươm tít mù, tứ tung. Sóng vẫn cuộn trào, nâng Rùa thần nhô lên mặt nước, đớp lấy thanh gươm của vua Lê, rồi bơi đi… Câu chuyện cực ngắn. Chi tiết không nhiều. Không li kỳ, rùng rợn. Không tả thiếu nữ khoe thân trần, trai gái giao duyên. Chẳng hiểu sao nó được dân chúng thích thú truyền miệng nhau. Nó lan rất nhanh. Lập tức dân ta bảo nhau gọi tên hồ Lục Thủy là hồ Hoàn Kiếm. Họ mê cái tên hồ Hoàn Kiếm lắm ạ.

           Lê Lợi bực tức. Mặt ông đỏ bừng bừng.

           Ông nói gần như quát:

    - Hồ Lục Thuỷ là hồ gì, rùa ở đâu mà lại dám ngoi lên đòi gươm báu trời trao cho ta? Ngươi nói mau.

    - Dạ. Dạ. Muôn tâu bệ hạ. Hồ Lục Thuỷ là một con hồ lớn ở trung tâm phố phường buôn bán, rất gần sông Nhị Hà. Nước hồ quanh năm xanh màu lục nên thời Lý- Trần gọi là hồ Lục Thuỷ. Gần bờ có Tháp Báo Thiên cao mười hai tầng soi bóng. Sang thời Lê nhà ta, quân lính thuỷ luôn tập trận giả trên hồ Lục Thuỷ nên gọi là hồ Thuỷ Quân. Từ cổ xưa, hồ Lục Thuỷ là một khúc sông của Nhị Hà, kéo dài từ Hồ Tây, hồ Trúc Bạch xuống. Các cửa sông ra vào hồ Lục Thuỷ là khoảng đầu phía Bắc Hồ Tây và các phố Chợ Gạo, Hàng Thùng, Lò Sũ, Hàng Chuối, Hàng Bạc có cầu gỗ bắc ngang… Chính vì hồ Lục Thuỷ thông nối với sông Nhị Hà nên có thể có một loài rùa nước ngọt cực lớn từ đáy sông dồn về sống ở trong hồ. Loài rùa này có thể xuất hiện nơi hồ Lục Thuỷ thời Lý- Trần hoặc trước đó nữa. Rùa lớn thường nổi lên mặt nước vui chơi cùng dân chúng. Bởi vậy, dân Thăng Long gọi là rùa thần.

             - Chuyện rùa thần đòi gươm của ta là do bọn nào bịa đặt ra. Họ ghét trẫm đến thế hay sao? Ngày mai trẫm sẽ cho người tìm ra kẻ phạm tội bất trung này. Trẫm sẽ chém.

             Lê Lợi tím ruột bầm gan. Khí uất tràn lên cổ. Không nói năng nửa lời. Ngài lẳng lặng về Tử Cấm thành.

             Quan ngự sử Bùi Cầm Hổ chết đứng dưới gốc cây muỗm già trong Hoàng thành.

             Đêm về. Lê Lợi không sao ngủ được. Ngài  đuổi thẳng cổ nàng cung nữ được vận may đến hầu ngài, bảo hoạn quan thắp hương trong gian thờ. Ngài cúi đầu khấn hỏi linh hồn người vợ tấm cám Trịnh Thị Ngọc Lữ- người vợ đầu tiên và là trợ thủ đắc lực, cùng ngài khởi nghĩa, người khai quốc nhà Lê, đã tuẫn tiết khi bị quân Minh đánh úp hậu cứ của Lê Lợi. Tiếng ngài nghèn nghẹn trong giận dữ và đau khổ:

            - Nàng hỡi! Thanh gươm báu nàng bắt được từ gốc đa, chuôi kiếm khắc hình rồng hổ với hai chữ “Thanh Thúy” hợp với biệt hiệu của nàng là “Thanh Giang”(dòng sông xanh). Khi ra vườn, nàng còn bắt được quả ấn báu khắc bốn chữ “Thuận Thiên Lê Lợi”. Nàng dâng ta thanh gươm báu và ấn quí. Đó là thiên mệnh của Trời, trao cho ta cứu nước, cứu dân. Ta đã thực hiện ý Trời với thanh gươm báu trong tay. Mười năm ta nằm gai nếm mật, tập hợp quân sĩ đánh giặc: “Nhân tài như lá mùa thu/ Tuấn kiệt tựa sao buổi sớm” đã cùng ta “Đánh một trận, sạch sanh kình ngạc/ Đánh hai trận tan tác chim muông”. Thắng giặc Minh tàn bạo, ta mơ “Mở nền thái bình muôn thuở”. Ta lên ngôi Hoàng đế. Ta về Thăng Long dựng nghiệp nhà Lê. Ta ngày đêm ôm gươm báu bên mình. Kể cả phút giao hoan cùng bọn cung nữ, ta vẫn để mắt tới thanh gươm gối đầu giường ngự. Đứa nào xúc phạm ta. Ta chém. Kẻ nào chống lại ta. Ta giết. Hoàng đế- không buông kiếm. Ta phải vung gươm, bảo vệ ngôi báu. Tại sao nay có chuyện Rùa thần đòi gươm thả xuống hồ Lục Thuỷ, để dân chúng thích thú mà tự tiện đổi tên hồ Lục Thuỷ thành hồ Hoàn Kiếm? Câu chuyện hoang đường đó lại chỉ đích danh tên ta. Đó là điềm lành hay điềm dữ? Nàng sống khôn, chết thiêng hãy linh báo cho ta sự gì sẽ xảy ra? Ta buồn. Ta sợ. Ta căm thù câu chuyện Rùa thần đòi gươm. Nhưng ta phải câm lặng. Bên ta, toàn là một lũ gian tham, bám vào ngôi cao của ta mà đục khoét tiền của, đất đai, ức hiếp dân lành. Ta chỉ còn một thanh gươm trong tay. Ta chém. Ta giết. Thanh kiếm giúp ta trị vì đất nước. Ta thà chết- không trả gươm. Nàng ơi! Vợ hiền của ta ơi! Nàng có thấu lòng ta …

            Đêm tối mênh mông. Khói nhang bùng lửa. Lê Lợi mừng thầm. Hương cháy là dấu hiệu linh thiêng. Nàng đã nghe được tiếng lòng đau đớn của ta. Nàng đã về  bên ta, dịu dàng, mơn man, phút giây ân ái, đê mê, tê dại, ngày xửa, ngày xưa ấy, trong rừng sâu, nước độc Lam Sơn… Lê Lợi chập chờn giữa lửa hương, nửa mờ, nửa tỏ, chờ mong người vợ hiền xưa hiện về vuốt ve tấm thân già tàn tạ của mình. Nhưng, hương khói lùng bùng. Lửa cháy và tình nàng đã tắt…

             Tiếng Trịnh Thị Ngọc Lữ vang khẽ, đanh gọn:

            - Thiếp không biết điềm lành hay dữ. Bệ hạ hãy tự ngẫm xem mình có còn xứng đáng cầm thanh gươm báu Trời trao nữa không? Bệ hạ đã sai lầm khi trị dân, lập quốc bằng gươm. Gươm báu Trời trao chỉ để giết kẻ thù. Cớ sao bệ hạ lại vung gươm báu chém đầu kẻ sĩ. Về Thăng Long lên ngôi Hoàng đế chưa đầy dăm năm, mà bệ hạ nghe bọn xu nịnh, gây bao thảm án với các vị công thần, khai quốc đã chiến đấu cùng bệ hạ suốt mười năm. Trần Nguyên Hãn bị dìm chết trên sông Lô, Phạm Văn Xảo bị giết, Nguyễn Trãi bị tống giam, các đại thần Lưu Nhân Trú, Trịnh Khả hữu danh vô thực, phải nằm im cho bọn dốt nát, tham tiền, tham quyền như Trịnh Bá Hoành, Lê Quốc Khí hoành hành, lập mưu tàn sát nhân tài… Trị nước mà, không biết nghe lời nói thật, lại tin dùng kẻ xu nịnh, bất tài, thất đức, giết hại kẻ sĩ, người hiền, ắt tai họa đến. Câu chuyện Rùa thần đòi gươm là tiếng nói của lòng người lương thiện oán hờn. Nó động đến thần linh. Rùa thần đòi gươm, là hệ lụy của những chuyện bạo ngược trong triều chính của bệ hạ…

             Tiếng nói người vợ yêu thương nhất của ngài giờ đây sao mà lạnh. Sao mà sắc. Lê Lợi gục xuống tấm phản gỗ. Ngài không muốn nghe nàng nữa. Ngài biết khi thần linh đã ra tay là hết đường giải thoát…

             Ngài ngồi trên ngai vàng. Dạ không yên. Bệnh tật sồng sộc  đến. Ngài đang độ ngũ tuần.

             Năm 1433. Bệnh tình của Lê Thái Tổ ngày càng nặng. Lê Lợi buộc phải lập con thứ là Lê  Nguyên Long (Lê Thái Tông) mười một tuổi thay ngôi. Ngài biết, ngôi báu phải thuộc về võ tướng Lê Tư Tề con Trịnh Thị Ngọc Lữ, con trai trưởng của ngài, người anh hùng đã cùng ngài đánh giặc suốt mười năm. Nhưng ngôi vua chỉ có một- mà con trai các thê thiếp, cung tần của ngài lại quá nhiều. Cứ mỗi khi một bé trai trong đám vợ vua ấy ra đời, là lại xảy ra một cuộc mưu gian, vu cáo, tàn sát của bè nhóm, để giành ngôi. Phạm thị Ngọc Trần vợ thứ của ngài, đã dùng cái chết để mặc cả ngôi vua cho con trai là Lê Nguyên Long với chồng…

            Một đêm buồn. Lê Lợi vật vã trong cơn  đau tím mặt, mà đầu óc lại hiện lên rõ mồn một, cảnh trên bờ sông Cả, phía Nam thành Rum vùng Nghệ An, có ngôi đền thờ thần Cá Quả, thuyền bè đi qua đều phải giết vật dâng cúng. Tháng 4- 1425, thuyền của ngài đi tới đó. Lợi dụng tục lệ dân gian ấy, bọn Phạm Hoành, Phạm Vấn, Lê Sát sau khi đã bàn với cha con họ Phạm, đưa Phạm Thị Ngọc Trần làm vật hiến tế, mặc cả ngôi vua cho Lê Nguyên Long, tâu:

         - Xin hiến một phụ nữ làm vợ thần Cá Quả để thần giúp quân ta thắng giặc.

             Ngài thấy việc này tàn nhẫn quá, nên hỏi ý quần thần. Nguyễn Trãi chân thành tâu:

    - Nên dùng bò, lợn làm lễ hiến, để cứu một con người.    Nhưng những kẻ gian không chịu. Chúng giết người mưu sự tối tăm, đã dồn ép ngài chấp nhận cho Phạm Thị Ngọc Trần phải chết, và hứa sẽ đưa con nàng lên ngôi…

              Nghĩ lại chuyện này, ngài thấy lạnh người. Ngài sởn gai ốc nhìn thấy thứ phi Phạm Thị Ngọc Trần hiện về như trêu chọc, như thách đố, như ra lệnh. Khuôn mặt nàng nhợt nhạt, khoác áo xanh thẫm, đội mũ cánh phượng, từ từ bước xuống dòng sông lạnh, nước xoáy ngược, về ma cung. Trước khi nước phủ ngập đầu, nàng dặn dò giám quan Bùi Cầm Hổ dạy dỗ Lê Nguyên Long và gầm thét, động trời:

            - Đức vua phải giữ lời hứa truyền ngôi vua cho Lê Nguyên Long…

             Mùa thu- tháng tám. Lê Lợi run rẩy truyền lệnh giáng con trưởng Lê Tư Tề làm Quận vương, lấy con thứ Lê Nguyên Long kế thừa.

                   Sao chổi mọc ở phương Tây.

                   Lửa đổ xuống màn đêm Đại Việt.

            Trước lúc lâm chung, Lê Lợi muốn xóa đi tất cả. Thế là xong một kiếp người. Trần gian hỡi! Hãy quên ta đi. Công tội một đời nhắc vài câu là đủ. Nhưng ngài không xua nổi cảm giác bàng hoàng về chuyện Rùa thần đòi gươm và cái tên hồ Hoàn Kiếm. Nó xô tới tấp vào thân xác ngài như muôn ngàn ngọn sóng. Nó không cho ngài được siêu thoát. Nó giữ ngài ở lại với trần gian. Ngài ú ớ trong cổ họng, mà không kêu lên được. Kêu rằng: “Hãy buông tha tôi ra. Hãy cho tôi trở về với đất!”. Nhưng kêu làm sao nổi! Xóa làm sao được- chuyện Rùa thần đòi gươm- và cái tên thiêng liêng hồ Hoàn Kiếm?  Nước mắt ngài ứa ra. Ngài truyền bảo Lê Nguyên Long bằng giọng nói thều thào, ngắt quãng trong hơi thở hắt ra:

        - Hãy tin dùng… Nguyễn Trãi… và trọng dụng… hiền tài… để giữ gìn ngôi báu của nhà Lê”.

            Ngày 22- 8 - 1433, Thuận Thiên năm thứ sáu. Lê Thái Tổ băng. Sử gia ghi vào quốc sử vài câu: “Thái Tổ từ khi lên ngôi đến nay… cũng có thể gọi là có mưu kế xa rộng, mở mang cơ nghiệp. Song đa nghi, hiếu sát, đó là chỗ kém.”


    ... CÒN TIẾP ...

© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng tải theo nguyên bản của tác giả gởi từ Hà Nội ngày 29.03.2011.
TÁC PHẨM CỦA MAI THỤC CHỈ PHỔ BIẾN DUY NHẤT TRÊN HỆ THỐNG VIỆT VĂN MỚI - NEWVIETART