- Giáo sư Khải về làng!
Cái tin giáo sư Khải rời thủ đô Hà Nội về hẳn làng sinh sống khi nghỉ hưu, nhanh chóng loang nhanh trong làng. Dân làng ngạc nhiên lắm, giáo sư nổi tiếng là thế, sống ở thủ đô văn minh sung túc là thế, sao lại mò về cái chốn quê nghèo này làm gì? Người làng, già trẻ, trai gái kéo đến nhà giáo sư thăm hỏi đông lắm. Cụ Mùi móm mém bảo:
- Giáo sư là người nổi tiếng, cả nước, thậm chí thế giới cũng biết tên tuổi. Chúng tôi hay thấy giáo sư trên tivi, được Chủ tịch nước, Thủ tướng bắt tay, lẽ nào nay lại về làm bạn với những người nông dân chân đất như chúng tôi?
Giáo sư Khải cười thân thiện:
- Cũng là công việc cả thôi cụ ạ! Bây giờ nghỉ hưu, tôi muốn về quê sống cho không khí trong lành, có nhiều thời gian để nghiên cứu, viết lách. Tôi vốn xuất thân từ nông dân, đi đánh giặc rồi đi học, trở thành nhà khoa học; về hưu, trở lại làm thường dân cũng là chuyện thường tình thôi. Vả lại lớp trẻ bây giờ nhiều người tài lắm, mình có về sớm đi một vài năm cũng là để tạo điều kiện cho họ phát triển.
Nghe giáo sư Khải bộc bạch, ông Cung gật gật đầu:
- Ai cũng nghĩ được như giáo sư thì nước mình chẳng mấy lúc mà giàu to. Chả bù cho cái tay giám đốc Sở Nông nghiệp ở làng Cam, lão năm nay 65 tuổi, bằng tuổi tôi, học cùng vỡ lòng với tôi vậy mà chạy vạy thế nào đến nay vẫn chưa nghỉ hưu. Mà nhà lão có thiếu thứ gì, chỉ ngộ cái nhà vệ sinh tấn tiến của lão cũng bằng cả cái dinh cơ nhà tôi!
- Về...về... về... thì thì... thì không còn xe... ưa xe ón, không còn kẻ đến phong bao phong bì nên không mu..ốn...muốn về...về về đấy mà!- Anh Hinh ngọng líu cả lưỡi, làm cho ai cũng phải bật cười. Khuôn mặt giáo sư đang vui vẻ bỗng chùng xuống, ông biết chả gì cứ ở quê mà càng ở thành phố, càng ở những cương vị béo bở, càng có nhiều người đến tuổi mà vẫn không chịu về hưu; người ta khai man tuổi, người ta chạy chọt, người ta vin cớ chưa có người thay thế hay đang dang dở công trình này khoa học này, đề tài nghiên cứu kia nên chưa về được! Giáo sư là một nhà khoa học nổi tiếng, là Viện trưởng của một Viện nghiên cứu lớn, khi đến tuổi, cấp trên đề nghị ông tiếp tục ở lại thêm một nhiệm kỳ 5 năm nữa nhưng giáo sư đã từ chối, ông muốn làm gương cho người đi sau.
Về làng, những tưởng ít còn dự những hội nghị, cuộc họp, ít phải giảng dạy, hướng dẫn luận án tiến sỹ nữa, giáo sư sẽ có nhiều thời gian đầu tư cho các công trình nghiên cứu dài hơi nhưng cuộc sống ở làng đã chi phối nhiều tới giáo sư mà buộc ông phải vào cuộc một cách tự nguyện.
Làng ông tuy đã có rất nhiều đổi mới, có hơn hai chục gia đình khá giả, nhà mái bằng, có ti vi, xe máy, không còn nhà đói ăn nữa nhưng cái nghèo thì vẫn còn đeo đẳng trong nhiều gia đình đông con hoặc không có sức lao động. Và chính cái nghèo đã dẫn đến cái thất học, giáo sư đã làm một cuộc khảo sát khắp làng, cả thảy có tới 19 đứa trẻ từ 8 đến 15 tuổi thất học. Ông quyết định giành số tiền gửi tiết kiệm và tiền thưởng 30 triệu mà ông mới nhận được từ một công trình nghiên cứu khoa học, làm một cái nhà ngang ngay trên mảnh đất mà cha ông để lại, mở lớp học dạy chữ cho những đứa trẻ làng thất học. Giáo sư đến từng nhà vận động các gia đình cho con đến học. Lúc đầu họ tưởng giáo sư nói đùa, vâng vâng, dạ dạ để lấy lòng ông; thậm chí có không ít người còn xì xào rằng ông dạy học kiếm tiền giống như các thầy cô vẫn bắt học sinh đến nhà để học thêm, nhưng khi biết giáo sư dạy miễn phí, lại còn bỏ tiền ra mua giấy bút, sách giáo khoa và cả tiền mua quần áo mới cho bốn em hay mặc quần áo vá thì dân làng rất cảm kích trước tấm lòng nhân ái của ông. Con cái họ được ông dạy dỗ, không chỉ cái chữ mà cả cái nết, họ vui và tự hào lắm nhưng cũng lo ảnh hưởng đến sức khoẻ và thời gian nghiên cứu của ông. Còn giáo sư thì lo bố mẹ bắt các em phải ra đồng, trông em, không có thời gian học nên ông chuyển lớp học ban ngày sang buổi tối. Các tối thứ hai, tư, sáu, ông dạy cho các em học theo chương trình cấp 1; còn các tối thứ ba, năm, bảy, ông dạy cho những em học theo chương trình cấp 2. Cũng vì dạy vào buổi tối từ bảy giờ đến chín giờ nên giáo sư chấp nhận bỏ đi cái thói quen xem chương trình thời sự của đài truyền hình Trung ương; mãi đến lúc mười giờ ông mới bật kênh VTV2 để xem lại.
Lớp học của giáo sư đang đi vào nề nếp thì anh con trai cả đang làm cán bộ trên tỉnh hay tin, đánh xe con về chì chiết ông:
- Nếu bố thiếu tiền, một ngày con sẽ cung cấp cho bố hai trăm ngàn để bố tiêu pha thoả mái, chả nhẽ bố không biết, đến Quốc hội cũng còn quan ngại về cái nạn dạy thêm, học thêm sao?
- Ơ hay- Giáo sư Khải ngạc nhiên- Đến anh mà cũng hiểu lầm tôi à? Tôi dạy miễn phí đấy chứ!
- Miễn phí, bố cũng không được dạy- Anh con trai bực bội- Bố không được hạ thấp mình.
- Cái gì? Sao lại hạ thấp?- Giáo sư Khải ngạc nhiên hơn.
Anh con trai chém chém tay vào không khí:
- Trước đây bố toàn dạy cho thạc sỹ, tiến sỹ, lại cũng đã từng giảng dạy ở một số trường đại học danh tiếng ở nước ngoài, bây giờ lại đổ đốn ra đi dạy cho cái bọn trẻ ranh ngu dốt ở quê, bố không tự hạ thấp mình thì là gì đấy? Từ mai bố dẹp cái lớp học đi cho con nhờ!
Giáo sư Khải thất vọng, quả thật, dạy cho đám trẻ làng, kiến thức thì rất thấp, những hai cộng với hai bằng bốn nhưng về phương pháp thì khó hơn gấp trăm lần dạy cho học viên cao học, nghiên cứu sinh tiến sỹ. Có đứa vừa nói khỏi mồm ba nhân hai bằng sáu thế mà ông hỏi lại thì ấp úng nói bằng bảy; ông phải rất kiên trì, lấy khen, lấy động viên là chính mới dần dần hé mở được tâm hồn của chúng.
Trầm ngâm đến cả chục phút, giáo sư mới lên tiếng, ông nói với anh con trai rằng anh làm cán bộ cấp tỉnh mà để dân còn nghèo, còn thất học là có tội với dân. Việc làm của ông chỉ là việc cỏn con giúp dân mà cũng không được thì thử hỏi có xứng đáng làm người không?
Anh con trai cả biết ông bố như là nói chuyện đấy nhưng mà mắng mình thì hầm hầm cắp cặp ra xe. Anh bảo lái xe ra uỷ ban xã, gặp chủ tịch xã bàn bạc một lúc rồi anh về tỉnh. Mấy hôm sau, một số cán bộ xã toả đến các gia đình có con đi học nói rằng, giáo sư là nhân tài quốc gia, là niềm tự hào của làng vì vậy phải đảm bảo sức khoẻ cho giáo sư, để giáo sư nghiên cứu những công trình khoa học lớn lao cho đất nước. Hôm sau có hai học sinh nghỉ học, tuần sau có bốn học sinh không đến lớp, dần dần chẳng còn một học sinh nào đến nhà giáo sư học nữa. Lúc đầu giáo sư nghĩ, đám trẻ bị bố mẹ bắt ở nhà đi ngủ sớm, lấy sức để sáng mai còn làm việc, ông đến một số gia đình vận động thì quả nhiên họ cũng nói rằng họ rất muốn cho con đi học nhưng gia đình quá khó khăn, con cái họ phải giúp bố mẹ làm thêm cả ban đêm, hoặc ngủ sớm lấy sức để sáng sớm mai còn theo mẹ ra đồng, theo bố đi xách vữa thuê; nhưng sau đó giáo sư hiểu rằng lớp học tan là do chính người con trai ông nhúng tay vào để ông không phải hạ thấp mình, thành thường dân, dạy cái lũ trẻ làng nhếch nhách ! Một nỗi buồn và cả chua chát dâng lên tràn ngập tâm trí ông, ông có ba người con, hai trai, một gái; cô con gái chết khi vừa tròn một tuổi, người con trai út đang là tiến sỹ công tác trên Hà Nội, người con cả mà ông định hướng đi theo con đường của ông đã từ chối để đi theo con đường quan chức. Anh đã từng tranh luận với ông rằng ông sống không thức thời, quyền lực và danh vọng phải đi đôi với giàu sang phú quí, nếu ông biết tính toán, những dự án hàng chục tỷ đã lọt vào túi ông hàng tỷ đồng. Khi ông vừa cất lời giảng giải cho anh về lẽ sống ở đời, nhân dân nuôi dưỡng mình thành người tài, mình phải đem cái tài đó ra để phụng dưỡng lại dân thì anh đã đứng phắt lên, xách cặp ra xe. Ngay cả khi ông quyết định về hưu sinh sống ở quê, người con cả của ông cũng phản đối quyết liệt, anh bảo rằng, thôi thì ông không cho con cái được tiền bạc thì cho con cái thơm lây cái danh, ông sống ở Hà Nội, thỉnh thoảng người ta vẫn phải mời ông đến các hội nghị lớn mà truyền hình nhất định phải đưa tin trên chương trình thời sự, nhìn thấy ông ngồi ở hàng ghế đầu, cạnh một vị lãnh đạo cao cấp hay trả lời phỏng vấn là sáng hôm sau đến cơ quan, thế nào cũng có người bắt tay anh:” Tối qua mình nhìn thấy ông cụ nhà cậu ngồi cạnh cụ X...”, những lúc ấy, người anh lâng lâng như đám mây bồng bềnh trên bầu trời xanh cao vút. Và anh, dù không nói ra nhưng thừa hiểu rằng anh trở thành cán bộ nguồn của tỉnh cũng chính là nhờ cái bóng của bố anh. Và nếu bố anh nghe lời anh chịu khó về thăm tỉnh, gửi gắm lãnh đạo tỉnh vài câu thì chắc chắn anh đã tiến sát đến cái chức chủ tịch tỉnh. Nhưng vừa nghe anh nói, bố anh đã nghiêm giọng bảo rằng anh phải đi lên bằng chính năng lực của mình; ông còn nói thêm, nếu không có tài chớ nên ham hố quyền chức, vừa hại thân lại vừa hại dân. Anh cười bảo ông rằng ông chẳng hiểu thời thế gì cả!
Không còn dạy lũ trẻ làng, giáo sư Khải bắt tay vào sửa chữa những bài báo khoa học của ông để tập hợp in thành tập sách, công việc tiến hành chẳng được suông sẻ như ông muốn; không phải bởi những cuộc thăm hỏi của khách khứa, đồng nghiệp ở Hà Nội về, ở tỉnh, ở huyện đến mà lại chính là những đứa trẻ làng thất học. Nhiều lúc ông ngồi thừ ra, trong đầu hiện lên khuôn mặt lem luốc của lũ trẻ. Chiều nay cũng vậy, đang ngồi viết, chợt nghe tiếng mắng con của một người đàn bà hàng xóm, ông không còn cảm hứng để viết, ông đứng dậy định đi sang nhà hàng xóm để can ngăn người đàn bà đừng mắng chửi con nữa nhưng mới ra đến đường làng ông đã gặp thằng Côi đi chăn bò; nó cũng là một đứa học trò của ông, gặp ông nó không chào bằng thầy mà chào bằng ông. Giọng nó khẳn đặc, trời rét thế mà khuôn mặt nó đỏ bừng bừng, ông biết ngay nó đang bị sốt. Ông sờ trán nó, nóng rẫy, ông bảo nó há mồm ra, nó bị viêm họng có cả mủ. Ông bắt nó buộc con bò vào cây thông ven đường rồi dẫn nó vào nhà. Ông mở tủ thuốc riêng của mình, lấy thuốc hạ sốt và kháng sinh cho nó uống rồi bắt nó lên giường ông nằm nghỉ. Nằm chưa nóng chỗ, thằng Côi đã vùng dậy bảo ông:
- Ông ơi cháu phải đi chăn bò đây, con bò nhà cháu từ sáng đến giờ chưa có cái gì vào bụng.
Nghĩ ngợi một lúc, ông bảo nó:
- Cháu cứ nằm nghỉ đi, để ông đi chăn thay cho một lúc.
Thằng Côi không muốn giáo sư Khải phải đi chăn bò nhưng nó rất sợ ông giận nên đành nằm xuống. Giáo sư Khải mặc thêm áo ấm, chụp cái mũ len lên đầu rồi đi ra cây thông, cởi dây thừng dẫn con bò ra đồng. Từ bé đến giờ, chưa bao giờ thằng Côi được nằm trên cái giường ấm đến thế, có đệm mút, chăn bông vừa nhẹ vừa ấm, thành ra chỉ một lúc sau nó đã chìm vào giấc ngủ.
Chiều đông, cánh đồng làng vắng vẻ, chỉ còn lác đác một vài người đang làm đồng. Gió thổi vù vù càng làm cho cái rét thêm lạnh giá. Giáo sư Khải thấy thương cho thằng Côi quá, gia đình nó quá nghèo, bố nó bị suy thận, nhà có cái gì bán được đã bán đi hết để thuốc thang cho bố nó, nay không còn tiền chạy chữa nên đành nằm chờ chết. Mẹ nó phải làm quần quật cả ngày, hết chạy chợ, lại đi làm thuê để kiếm tiền nuôi sáu miệng ăn và trả nợ. Thằng Côi là con lớn, nó nghỉ học từ hồi lớp 5, ở nhà trông em, chăn bò, bèo cám, lợn gà và thỉnh thoảng đi xách vữa thuê. Nó đã mười ba tuổi nhưng còm nhom; ngay cả con bò nhà nó thuộc diện được vay vốn xoá đói, giảm nghèo, chỉ có ăn cỏ, không có cám dinh dưỡng ăn thêm, mà cỏ ngoài đồng cũng ngày càng cụt lủn nên gầy giơ xương sườn.
- Giáo sư Khải phải không? Giời ơi, sao giáo sư lại đi chăn bò thế này?
Tiếng kêu ngạc nhiên của một chị nông dân làm giáo sư Khải quay đầu lại, ông nói qua cho chị biết về việc ông đi chăn bò hộ. Chị nông dân bỏ chiếc cuốc xuống, bảo với giáo sư:
- Giáo sư để cháu chăn bò cho, giáo sư về đi kẻo trời lạnh lắm!
- Cảm ơn cô, ngày xưa tôi cũng đã từng đi chăn trâu bò cho nhà địa chủ, trời rét hơn thế này nhiều mà chỉ có mỗi manh áo; giờ có áo ấm, khăn ấm rồi. Cô về trước đi, ăn mặc phong phanh thế kia dễ cảm lạnh lắm!
Năn nỉ mãi chẳng được, chị nông dân đành vác cuốc ra về. Sẩm tối, giáo sư Khải mới cho bò quay về. Không biết thằng Côi còn ngủ hay đã thức? Mải nghĩ ngợi nên ông không để ý đến tiếng còi ôtô ở đằng xa, đến lúc chiếc ô tô đến gần sát, bấm còi inh ỏi thì ông mới giật mình; con bò cũng bị tiếng còi làm cho giật bắn mình, nó sợ hãi lồng xuống cái mương cạnh đường, tay giáo sư Khải đang cuốn sợi dây thừng nên bị con bò lôi ngã nhào cả xuống mương. Ông cứ tưởng những người ngồi trên xe sẽ xuống đỡ ông dậy và xin lỗi ông, nhưng không, chiếc xe vẫn lăn bánh. Anh lái xe bảo:
- Trông lão già có vầng trán thông thái như nhà bác học thế mà cũng phải đi chăn bò thủ trưởng nhỉ?
Người đàn ông đáp:
- Những kẻ theo đít trâu, đít bò thường là dân vai u bắp thịt; đầu óc ngu si, tứ chi phát triển; đấy là phép suy luận mang tính triết học. Cậu mà làm cán bộ tổ chức thì phá nát cái huyện này.
- Dạ, anh thật có con mắt sáng suốt và tinh đời- Anh lái xe sửa sai.
Khó nhọc lắm giáo sư Khải mới leo được lên bờ, người ông ướt sũng, dính đầy bùn đất. Ông rét run cầm cập nhưng con bò sợ quá lồng chạy xuống mương, bổ ra cánh đồng nên ông đành chạy theo bắt nó về kẻo thằng Côi sợ mất bò lại bị đánh đòn.
Khi ông dắt bò về đến nhà thì thằng Côi vẫn đang li bì ngủ, ông pha nước phích tắm rửa; thay quần áo xong, ông vào giường sờ tay lên trán thằng Côi. Nó đã hết sốt, ông lay nó dậy bảo dắt bò về nhà kẻo bố mẹ thấy về muộn lại bổ đi tìm. Trước khi thằng Côi ra về, ông còn lấy một vỉ thuốc kháng sinh dặn thằng Côi về nhà uống tiếp năm ngày nữa cho khỏi hẳn bệnh viêm họng.
Tối ấy, cơm nước xong, thấy người mền mệt, giáo sư Khải không xem thời sự mà lên giường đi ngủ ngay. Nửa đêm, ông lên cơn sốt, chân tay co giật, ông cố hết sức mò mẫm lại chỗ để tủ thuốc riêng nhưng kiệt sức ngã xuống đất ngất đi. Sáng hôm sau, chị Muộn ở cạnh nhà, người mà giáo sư thuê giúp ông việc cơm nước, quét dọn nhà cửa, giặt giũ quần áo sang nhà thấy giáo sư Khải nằm bất tỉnh trên đất liền tri hô mọi người đưa ông lên bệnh viện tỉnh cấp cứu. Đích thân ông Hà - Bí thư Tỉnh uỷ, bạn học của giáo sư hồi phổ thông đến tận bệnh viện đề nghị ông giám đốc phải tập trung mọi nhân tài, vật lực để cứu bằng được giáo sư nhưng đã quá muộn. Giáo sư Khải vẫn nằm mê man bất tỉnh. Biết ông chẳng qua khỏi, anh con cả liền về nhà triệu tập một cuộc họp họ tộc để chuẩn bị làm đám tang cho giáo sư . Ông trưởng họ bảo:
- Phải làm đám tang to nhất tỉnh, phải xây mộ to nhất, đẹp nhất cho con cháu, dòng họ được rạng rỡ!
- Cháu tính phải đưa bố cháu lên Hà Nội để làm tang lễ- Anh con cả nói. Ông trưởng họ và mọi người ồ lên hỏi sao lại phải đưa lên Hà Nội làm tang lễ. Anh con cả phân tích:
- Bố cháu đủ tiêu chuẩn an táng tại nghĩa trang Mai Dịch, thử hỏi cả huyện này, thậm chí cả tỉnh này đã có ai được chôn cất ở đấy? Đó là cái vinh hạnh của dòng họ ta.
Ông trưởng họ hiểu ra, gật gù:
- Anh là người có học nên biết nhìn xa trông rộng, tiền ăn rồi cũng hết, cái danh mới để được lâu, dù tốn kém đến mấy cũng phải đưa bố anh lên Hà Nội làm tang lễ. Hàng năm, vào ngày giỗ, họ ta sẽ thuê một chuyến xe ôtô lên Mai Dịch thắp hương cho bố anh.
- Thế thì tốn kém lắm bố ạ, con nghĩ cứ chôn cất chú Khải ở nghĩa địa làng để con cháu tiện hương khói; mà chú cũng được ở bên cô, bên các cụ nhà ta ở dưới ấy- Anh Kha, con ông trưởng họ lên tiếng, lập tức ông trưởng họ quát:
- Mày câm mồm đi, mày biết cái gì mà chõ mồm vào? Chú Khải không thể là thường dân; lại càng không thể chôn cạnh nông dân, phải đưa chú lên Hà Nội!
Bàn tán thêm một lúc nữa, cuối cùng mọi người đều tán thành sáng kiến của anh con cả giáo sư và để thiên hạ không biết chuyện; với lý do còn nước còn tát, cả họ quyết định đưa giáo sư lên Hà Nội chạy chữa ngay. Nhưng đúng cái lúc chuẩn bị đưa giáo sư ra xe để đi Hà Nội thì giáo sư tỉnh lại, lúc ấy có cả ông Bí thư Tỉnh uỷ, ông giám đốc bệnh viện và đông đủ mọi người trong họ tộc, giáo sư vẫy mọi người lại thì thào:
- Tôi đề nghị các anh đưa ngay anh Tạng, bố cháu Côi ở làng bị suy thận nên làm xét nghiệm; nếu thận tôi có thể ghép được thay cho thận anh ấy thì đưa tôi và anh Tạng lên Hà Nội ngay, tôi ngửng thở thì mổ ngay mà lấy thận; kinh phí rất mong anh Hà bàn với tỉnh hỗ trợ.
Ngừng một lát để thở, giáo sư nói tiếp:
- Anh Hà, thằng con tôi bất tài, đừng để nó làm lãnh đạo sẽ có hại cho dân; anh báo cho bên công an truy tìm chiếc xe hơi màu đen đã đẩy tôi xuống mương. Còn nguyện vọng cuối cùng của tôi là được chôn cất tại nghĩa địa làng, cạnh vợ tôi....
Ông Hà vâng vâng dạ dạ, nói rằng giáo sư hãy yên tâm, nhất định ông sẽ làm theo lời giáo sư căn dặn; đặc biệt ông hứa sẽ chỉ đạo cho công an tỉnh sớm điều tra những kẻ ngồi trên chiếc xe hơi đã nhẫn tâm đẩy giáo sư xuống mương và đưa ra truy tố trước pháp luật cho dù đó là chiếc xe của Bí thư hay Chủ tịch huyện. Giáo sư Khải Khải nắm tay ông Bí thư Tỉnh uỷ lắc lắc hai cái rồi lại chìm vào hôn mê. Hai ngày sau, giáo sư trút hơi thở cuối vào lúc mười giờ, năm phút.
Đám tang của giáo sư Khải rất đông khách ở Trung ương, tỉnh, huyện và các làng lân cận nhưng chỉ duy nhất chỉ có một vòng hoa của Hội người cao tuổi xã. Theo nguyện vọng của giáo sư, khách đến viếng ông không mang vòng hoa, số tiền mua vòng hoa và tiền viếng ông, giáo sư xin tặng xã để sửa sang lại ngôi trường làng cho khang trang hơn. Ngôi mộ giáo sư nằm cạnh mộ vợ ông, nó khiêm nhường như bao ngôi mộ của người nông dân trong làng đã quá cố; chỉ có điều vào dịp lễ tết, thanh minh, hai ngôi mộ của vợ chồng giáo sư được rất nhiều người làng và khách ở xa về thắp hương tưởng nhớ.