Καπετάν Μιχάλης - Kapitan Mikhalis



TỪ VŨ
phóng dịch

để kính tặng những người
còn thực sự nhớ đến những chữ :
Hoà Bình - Tự Do - Độc Lập - Hạnh Phúc - cho dân tộc Việt Nam
Và cũng để ước mơ một ngày ,
một nhà văn Việt Nam nào đó có đủ khả năng
để viết được một tác phẩm văn chương lớn như
Καπετάν Μιχάλης - Kapitan Mikhalis - Tự Do hay Chết

TỪ VŨ
Troyes, ngày 04.02.2010

LƯỢC TRUYỆN :

Nối tiếp nhau, từ đời cha cho tới đời con, người dân đảo Crète (Hy Lạp) truyền lại cho nhau nỗi căm hận về kẻ xâm lược Thổ , những kẻ đã chiếm đóng , đàn áp các sắc dân không theo Hồi giáo tại khắp các quốc gia trong vùng Balkan kể từ ngày thành phố Constantinople (Istanbule hiện tại) bị người Thổ đánh chiếm : gần bốn thế kỷ thù hận, nguồn gốc của những cuộc kháng chiến và đàn áp, tàn sát không ngừng lặp đi lặp lại.
Năm 1821 đánh dấu bởi sự vùng dạy dành độc lập của các nước láng giềng. Tại Hy Lạp nói chung , tại Crète nói riêng, những người dân đảo Crète tự hỏi : Bao giờ mới tới lượt mình?
Mỗi mùa xuân, mùa của sự đổi mới, câu hỏi làm tâm trí mọi người Hy Lạp ở Crète chao đao hơn bao giờ hết và chỉ cần một sự kiện thật nhỏ nhặt cũng đủ là một nguyên cớ cho toàn đảo Crete phải bùng cháy. Tại các thị trấn và tại dinh thống đốc, người thống đốc Thổ và người lãnh đạo dân Thiên chúa giáo địa phương phải có trách nhiệm ngăn ngừa trận "hỏa hoạn" này.
Đó là lý do vì sao, không bao lâu trước mùa Phục Sinh năm 1889, Nouri Bey có bổn phận triệu tập Kapitan Mikhalis và bảo ông ta phải quở trách em ông, Manousakas, về việc đã dẫn một con lừa vào nhà thờ hồi giáo như cố tình ngạo báng. Và nhân dịp này, cũng muốn xoa dịu người khách được mời, Nouri Bey gọi người đẹp của ông ta , Emine Hanoun , đến hát mừng chào đón một cách danh dự người khách được mời : Chính đấy lại là tia lửa châm ngòi cho thùng thuốc nổ và tạo nên một trong những thời kỳ bạo lực dữ dội nhất trong cuộc chiến dành độc lập chống lại quân xâm lược Thổ do các nhân vật của tiểu thuyết sử thi này cầm đầu .

Καπετάν Μιχάλης - Kapitan Mikhalis - Tự Do hay Chết - La Liberté ou La Mort - Freedom or Dead , là một trong những kiệt tác của văn học Hy Lạp và đã được chuyển dịch sang hầu hết các thứ tiếng trên thế giới.

Newvietart hân hạnh giới thiệu tiểu thuyết Καπετάν Μιχάλης, lần đầu tiên, được chuyển dịch sang Việt ngữ của Từ Vũ .

CHƯƠNG XIII


KỲ THỨ 10

Trưa ngày hôm sau, hai người về tới làng của ông nội Kosmas, cụ Sifakas . Ngọn gió nam từng đợt từ mé phi châu, vượt biển, luồn sau những rặng núi cũng bắt đầu gờn gợn thổi tới .

Ngôi nhà của ông nội vượt cao nhất làng, khang trang, bao quang là những xưởng ép rượu, dầu, những chuồng ngựa, những dãy nhà kho , những thùng tô -nô và những chiếc vại, những hành lang rộng, những gian phòng có trần thật cao chứa những chiếc mền lông và những chiếc chăn phủ giường chần bông xếp cao đụng tới trần . Tất cả các cánh cửa nhà đều mở rộng, mọi người trong làng lui tới thăm hỏi tin tức vị Kapitan già Sifakas đang phải chống chỏi với tử thần từ mấy ngày nay. Trong nhà, những bà dâu và đàn cháu nội ngoại của cụ đi tới đi lui đếm, tính những chiếc vại chứa dầu olive hoặc những loại dầu khác, những thùng tô-nô đầy rượu, những tấm da cưù treo la liệt trên những chiếc móc dưới trần nhà , những bánh phô-ma đã nấu chín và những tấm phô-ma trắng phơi la liệt trên những tấm ván để tính phần của mỗi một người trong gia đình. Họ đang chia chác tài sản của ông nội ngay lúc cụ còn sống.

Đang nằm, Kapitan Sifakas đột nhiên nổi giận khi trông thấy cảnh tượng đang diễn ra trước mắt mình :

- Khiêng ta ra ngoài sân, chẳng thà là ở ngoài đó ta không nghe được tiếng các người tính toán với nhau !

Họ khiêng ông nội và tấm nệm cụ nằm ra sân.

- Hãy để ta dưới nền đất, ông nội Kosmas nói, ngay dưới cây chanh. Mang chiếc gạy của ta lại cho ta. Ta muốn được trút linh hồn ta ngay ở đây, thịt da thịt ta phải chạm với thịt da của đất , ta muốn được chạm bàn tay ta vào đất và đất chạm vào tay ta. Nâng ta lên một chút nữa để ta được nhìn thấy chung quanh !.

Người ta nâng ông nội lên, đệm thêm một chiếc gối sau lưng , đặt chiếc gạy bên cạnh cụ và một ly nước để cụ có thể uống .

- Giờ thì mọi người hãy đi đi, mặc kệ ta! Ông nội ra lệnh. Bảo thằng Thrassaki lại ngồi gần ta, chỉ một mình nó thôi.

Kapitan Sifakas đưa mắt nhìn sân nhà, nhìn dãy chuồng ngựa, máy ép dầu, cái giếng, bể nước, hai cây bách ở mé phải và trái cổng nhà, hít thở không khí và ngửi được mùi của những lá cây chanh. Mùi này làm cho cụ thích thú và rất hài lòng, cụ đưa tay ve vuốt chòm râu dài phủ trên ngực mình. Cụ cảm thấy hình như có tiếng thở của một người nào đó ở phía sau, cụ ngoảnh nhìn và nhận ra một người đàn ông trẻ béo tròn với mái tóc dậm đang kính cẩn nhìn cụ .

- À, thì ra là mày, mày là ai ? cụ lên tiếng .

- Kostandis.

- Con của ai ?

- Của con trai ông, Nicolis.

- Mày muốn gì đây ?

- Ông thì chết chậm chạp mà cháu thì đang vội vã để về lo cho bầy cừu của cháu. Cháu phải đi ông ạ!.

- Ừ, cứ đi đi, đợi chờ cũng vô ích vì ta ...còn lâu. Này, hãy lo cho cẩn thận đám dê cưù đó nghe .

Người chăn cừu trẻ cầm tay cụ và hôn nhẹ :

- Cháu chưa thể đi được nếu ông chưa chúc lành cho cháu, Kostandis nói với ông. Cũng vì thế mà cháu chờ từ sáng đến giờ.

- Ta chúc lành cho cháu đó, bây giờ thì đi đi. À, nghe ông nói này, vào nhà bảo mấy người ấy đặt dãy bàn ở đây, trong sân . Mời mấy vị Kapitan xuống đây ăn uống trước mặt ta, ta muốn được trông thấy các ông ấy. Mấy ông ấy vẫn còn đang ăn hả ?

- Đang ăn...thực vậy, suốt từ chiều hôm qua từ khi mấy ông ấy tới, ông nội ơi, những quai hàm của họ đã phải làm việc không ngừng...Thỉnh thoảng các ông ấy chập chờn ngủ trên vai người ngồi bên cạnh và sau đó thức dạy để lại tiếp tục ...nhai. Ông thầy giáo cũng đang chơi đàn ở trong đó . Còn nữa...mấy vị Kapitan già lại còn chọc ghẹo đám đàn bà con gái.

- Mày dám nói gì đó ? Im đi! Vào bảo họ làm những gì ta vừa căn dặn. Đem bàn ra kê ở đây để ta được trông thấy mấy vị Kapitan . Nếu mà họ không đi được thì hãy dìu họ đi ra đây, Kostandis! tao cấm mày không được cười. Đó là những vị Kapitan , mày biết không, phải tôn trọng họ! Đi đi !.

Haridimos cũng vừa về tới nơi, thở hào hển. Ông nội đã bảo anh ta vào núi để loan tin với Kapitan Michel rằng ông sắp từ trần và ông đang đợi con trai mình về để nói lời vĩnh biệt.

- Nó bảo gì với mày hả ? Cụ Sifakas hỏi ngay sau khi nhận ra anh chàng chăn cừu này. Nó có về không ?

- Ông ấy ủy thác cho tôi nói với ông rằng : "Con không thể nào bỏ vị trí của con được, cha ạ. Tạ lỗi cho con, từ xa xin cha hãy gởi lời chúc lành cho con và con xin được vĩnh biệt! Hẹn sẽ gặp lại cha càng sớm càng tốt!". Đó ông ấy ủy thác cho tôi nói những lời ấy.

- Nó không lầm lẫn chút nào. Đã có một lần nó đã vi phạm điều sai lầm này rồi nên nó đã học được bài học. Ta chúc lành cho nó, từ xa, cụ Sifakas vừa lên tiếng vừa giơ tay làm dấu thánh giá .

Ông nội quay lại nhìn Thrassaki :

- Thrassaki, cháu có hiểu được những gì đang diễn ra hay không ?

- Cháu hiểu, thưa ông nội, cháu hiểu tất cả.

- Hãy mở mặt cho thật to, Thrassaki, quan sát kỹ những gì quanh cháu. Mở thật to đôi tai và nghe. Không được để thiếu xót một điều gì. Giờ thì cháu sẽ được nhìn thấy ba ngọn núi, ba vị kapétans lớn .

Trong khi cụ Sifakas nói thì Stavroulios, người thợ mộc trẻ trong làng, xuất hiện ở ngưỡng cửa. Mấy người cháu của cụ bảo người thợ mộc tới để lấy kích thước ông cụ để sửa soạn chiếc quan tài. Stravroulios rón rén, rụt rè tiến lại gần. Cụ già, đôi mắt nửa hé nửa mở, làm giả bộ như không trông thấy người thợ mộc trẻ.

Anh thợ mộc cúi xuống, vừa khéo léo dơ hai cánh tay để lấy kích thước thân thể ông cụ vừa cất tiếng hỏi, như cố ý đánh lừa :

- Sao cụ thấy trong người thế nào? Kapitan Sifakas? Hình như bữa nay khá hơn hôm qua. Với cụ thì ngay cả thần chết cụ cũng thua cụ !.

Cặp mắt nửa kín nửa hở, cụ già quan sát Stavroulios đang run rẩy lén lút ước lượng kích thước thân mình của cụ , một nụ cười hóm hỉnh nở ra trên môi sau đám râu rậm . Nhưng sau cùng cụ thấy tội nghiệp người thợ mộc trẻ nên lên tiếng bảo anh ta :

- Đừng sợ sệt gì cả Stravroulios ạ, hãy rút thước ra mà đo cho chắc chắn !.

Người thợ mộc trẻ lập tức ngừng lại ;

- Cụ nói gì vậy , Kapitan ?

- Ta bảo anh cứ rút thước trong túi ra mà đo !.

Anh thợ mộc nhìn thấy ông cụ co người đưa tay tìm chiếc gạy của ông. Hoảng hốt, anh vội vàng thò tay vào tuí rút ra cây thước rồi mở ra thật nhanh rồi chăm chú đo.

- Bao nhiêu, ông nội lại hỏi.

- Một thước tám mươi lăm, Kapitan .

- Như thế là người ta bị quắt lại đó, ông nội vừa nói vừa thở dài. Ta già rồi. Đo cả bề ngang nữa !.

Stravroulios đo chiều ngang rồi ngưng lại một chút.

- Thôi đi đi, làm cho cẩn thận đấy nhé; làm bằng gỗ tốt đấy. Anh có gỗ hồ đào không ?

- Dạ có, Kapitan .

- Ta muốn gỗ hồ đào.

Nói xong ông nội quay lại phiá Thrassaki :

- Cháu có biết gỗ hồ đào không, Thrassaki ?

- Dạ thưa ông cháu biết.

- Như vậy thì nó không tài nào ăn gian chúng ta được.

Trong khi đó thì những người đàn bà trong nhà đã sắp đặt xong dãy bàn ở trong sân rồi mang ra những món nhật bữa , thịt quay, những hũ đựng đầy rượu và những chiếc ly bằng đồng. Tựa mình trên những chiếc gối dựa, ông nội nhìn họ. Hai con ong vo ve trên chiếc đầu bù xù của và những con kiến đang bò trên bắp chân của cụ. Ông nội vui sướng chiêm ngưỡng những qủa chanh đong đưa phía trên người cụ rồi cảm thấy những chú kiến như đang lạc lối trong những đám lông chân dầy cộm ở bắp đùi mình.

- Các vị Kapitan đi đâu rồi ? Ông nội cất tiếng hỏi.

- Mấy ông ấy sắp ra ông ạ, họ kia kìa!.

Kapitan Safakis quay đầu một cách nặng nề để nhìn . Người nọ quàng tay bám lấy người kia, cả ba vị Kapitan bước từng bước ngắn, chập choạng, trên đầu họ những chiếc mũ lệch lạc, những bộ râu của họ như trễ xuống, những chiếc thắt lưng đỏ lỏng lẻo, những chiếc quần trên người rộng phùng phình, những đôi ủng đen đã vẹt gót, một mẩu nhung cài ở bên tai.

- Đi, phải đi cho chững chạc anh em ơi, người này bảo người kia bằng một giọng thật thấp, đừng để phải xấu hổ ...!

- Giữ tôi thật chặt đó nếu không tôi sẽ ngã, người giáo viên lúng búng nói, say vì rượu, khập khiễng, nhỏ con và ốm yếu, với chiếc đàn lia nằm chắn ngang ngực ông ta như một chiếc thắt lưng bao đạn.

Bên phải và bên trái ông giáo viên say , thẳng sững, to lớn, hai vị Kapitan khác : Kapitan Mandakas, thân hình cứng cỏi, bị mất một bên tai, hàm râu ngắn soắn tít, chiếc gáy dầy dặn và những khẩu súng lục bằng bạc với báng súng sáng loáng lòi ra khỏi thắt lưng, và vị Kapitan Katsirma, thuyền trưởng tàu cướp biển với mầu da ngăm ngăm đen, khô khan, mắt lé xẹ, khuôn mặt ngang tàng dữ tợn.

Vừa bước vào tới sân, cả ba dừng lại khi nhìn thấy ông cụ đang nằm dưới gốc chanh.

- Anh vẫn còn sống hả, người anh em Sifakas ơi? Kapitan Mandakas vừa lên tiếng hỏi vừa cười sặc sụa. Thế mà ba anh em chúng tôi vừa cụng ly vừa ăn vừa la hét : "Xin thượng đế đón nhận hồn xác anh ấy !"

- Các vị vẫn chưa ngừng ăn uống hả , ba vị Kapitan đáng ghét kia ơi! Hình như từ chiều hôm qua tới giờ, bộ hàm của ba vị không được nghỉ ngơi. Đường ruột của ba vị sắp sửa được thỏa thuê chưa để bụng dã được nghỉ ngơi rồi nói năng lại được như những đấng râu mày?

Thầy giáo già định nói nhưng rồi ông ta bị rối trí nên thôi. Những chữ trơn tuột trong miệng ông ta như những viện đá cuội và làm ông bị tổn thương.

- Im đi, anh giáo làng ơi, Kapitan Katsirmas đưa bàn tay to của ông bịt mặt thấy giáo. Im lại đi, thấy giáo, đừng để bị người ta chú ý đến! Dứt lời ông ta quay lại nói với cụ Sifakas :

- Trường thọ cho anh, Kapitan Sifakas! Ông vừa nói một cách trịnh trọng vừa đặt bàn tay mình trước ngực ông ta. Chúng tôi rất sung sướng được tới nhà anh; chúng tôi đã ăn, đã uống, chúng tôi sẽ còn ăn và uống để mừng sức khoẻ của anh. Sau đó, bọn này sẽ tới ngồi cạnh anh trò chuyện như những đấng nam nhi chi trí, nếu anh muốn. Song...đừng vội vàng đấy nghe.

- Tôi, tôi không vội vàng chi cả, cụ chủ nhà đáp lại. Nhưng có một kẻ vội vã...

- Ai ?

Cụ Sifakas chỉ ngón tay về phía sau lưng mình :

- Thần Chết.

- Bọn ta là ba, Kapitan Mandakas vuốt bộ râu mép; ba , anh nữa là bốn. Hắn còn chờ gì nữa chứ !.

Hệt như một con quái vật say , với ba cái đầu và sáu cái chân, ba vị kapétan già cất bước. Giáo viên vấp chân và sắp ngã nhưng hai vị khác kịp thời túm được gáy ông ta lôi ông đứng lại được. Sau lưng ba người, những tiếng cười bật rộ . Đám cháu chắt và dâu cụ chủ nhà sặc sụa cười khi nhìn cảnh ba vị chiến sĩ già say rượu. Cụ Sifakas giận dữ la lớn:

- Cái gì mà bọn bay phải cười? Đó là những vị Kapitan , những nhân vật quan trọng, hãy đỡ không để các vị ấy bị ngã!.

- Ta sẽ đánh vỡ mặt đứa nào sám lại gần ta! Kapitan Katsirmas gầm gừ. ta đi được một mình.

Dứt lời ông bọ mặc hai bạn đồng cảnh, bước một bước , bám lấy cạnh bàn tiệc .

Rồi cả ba yên vị, nắm một bình rượu rót đầy những chiếc ly đồng. Giáo viên già cởi cây đàn ra khỏi mình, đặt trên hai đầu gối, duỗi thẳng cánh tay nắm một miếng thịt bỏ vào miệng nhai như để tự lấy sức trước khi chơi nhạc.

Ngay lúc vị giáo viên nắm cần đàn, Kosams hiện ra ở ngưỡng cổng. Anh nhìn thấy ông nội anh nằm dưới cây chanh, ba vị Kapitan tay đầy thịt thà và phía sau lưng họ gần như tất cả chắu chắt và các bà dâu trong nhà đang tụ tập lại. Anh ngửng lại. Ông nội anh nhận ra anh ngay nhưng vẫn giả vờ nói :

- Anh chàng ngốc nghếch nào lại đứng ở ngưỡng cổng nhà ta vậy ?

- Cháu ông đây, ông nội ơi, Kosmas đáp lại rồi tiến về phía ông đang nằm.

- Cháu nào ?

- Cháu là con của Kapitan Kostaros, con trưởng của ông.

- Ôi, mừng cháu đã về tới, ông nội vừa lên tiếng vừa đưa cánh tay về phiá người cháu trai. Lại đây để ta chúc lành cho cháu... Lâu quá , cháu đi đâu từ ngày đó tới nay vậy hả ? Cháu làm gì ở nước Pháp vậy ? A!, nếu như ta còn thời giờ để hỏi han cháu và nghe cháu trả lời ! ... Nhưng bây giờ thì dầu cũng đã cạn trong ngọn đèn già nua này rồi.

Kosamas lại gần , cúi mình xuống để nhận sự chúc lành của ông anh ta. Cụ già gần như chẳng muốn buông đầu anh ra nữa.

- Cháu viết lách gì phải không ? Người ta bảo vậy . Cháu muốn viết thật giỏi để viết những gì nào ? Viết lịch sử ? hya là làm thơ ? Cháu cũng thế, cũng sẽ lại kết thúc như Kriaras, người làm thơ hát dạo hết làng này qua làng khác vẫn chỉ một có một cái ba lô trên lưng sống như thằng ăn mày sao ?

Kosmas đỏ mặt. Thực vậy ; họ đã viết gì ? Tại sao họ lại viết? Học chẳng xấu hổ hay sao ? Tất cả Kriaras trên cõi đời này bất thần hiện ra với đầu óc của họ đầy chuyện hư ảo, những kẻ đáng tội .

Ông nội anh đang quan sát người cháu bằng đôi mắt đầy linh hoạt, như để phán xét . Cháu mình thuộc loại người nào ? Có giá trị hay không ? Vì sao mà một người như nó lại đột nhiên biến thành một nhà kẻ viết lách vớ vẩn được nhỉ ?

- Cháu đã có vợ phải không ? Ông nội lên tiếng hỏi.

- Dạ.

- Người ta bảo là cháu lấy một đứa gốc Do Thái.

- Dạ, vừa trả lời Kosmas vừa lưỡng lự nhìn ông nội anh ta.

- Chẳng quan trọng gì, cháu trai ạ, đàn bà gốc Do Thái cũng như mọi người cả, cũng chỉ một ông Trời tạo ra! Cháu đã làm điều hay. Nó làm cháu hài lòng và cháu đã có can đảm để lấy nó. Chỉ cần là nó trung thành, nội trợ giỏi trong nhà, ngoan ngoãn, đẹp và sản xuất nhiều con trai là được - đó là tất cả điều chính yếu mà một người đàn ông có thể yêu cầu ở một người đàn bà.

- Vợ cháu đã rửa tội rồi ông ạ, đó là một tâm hồn trong đẹp, nó sẽ làm cho ông mến chuộng .

- Thân thể nó ra sao ? Đây là điều quan trọng hơn mọi thứ khác. Tâm hồn một người đàn bà để làm cái gì chứ ? Hạt giống tốt phải cần có da thịt để gieo cấy. Cháu lấy nó được bao lâu rồi ?

- Hai năm rồi, ông ạ.

- Con cái ?

- Chưa! Thưa ông ...

- Trễ rồi đó, trễ rồi đó, các cháu còn chờ đợi gì nữa chứ. Thiệt là ngốc nghếch, phải hàng đêm, hàng đêm. Ta muốn bấy cháu chắt của ta sau này phải cứng cỏi như sắt thép. Nó phải sinh sản ra thêm nhiều người Crète , bảo với nó, dân Crète chứ không phải dân gốc Do Thái nhé. Còn nữa, hãy nghe ta nói cho rõ : Phải biết ngờ vực những cái gọi là "trí thức" !

- Vợ cháu cũng đã có thai một đứa con trai ông ạ...

- Hay quá, chúc lành cho nó. Đặt tên nó là Sifakas nghe chưa! Làm như vậy thì những người đã khuất mới hồi sinh được! Thôi bây giờ thì cháu nghỉ ngơi đi!.

Dứt lời ông nội ra dấu cho con dâu, bà Katérina, đang đứng phiá sau, một cây thánh giá đang nằm trong tay bà :

- Kê thêm cho ta một cái gối nữa. Ta muốn ngồi lên để nói chuyện. Cắt làm hai cho ta một trái chanh. Ta muốn được ngửi mùi chanh...Và lúc chúng ta, các vị Kapitan trò chuyện , phải cấm chỉ không ai được xen một tiếng nào.

Rồi ông nội giơ cao hai cánh tay ra lệnh :

- Tránh xa ra cho trống chỗ, ta sắp nói chuyện với các bậc lão trượng.

Cũng trong lúc này, ba vị khách già đã lại ăn , uống. Vị giáo viên đầu nặng vì rượu, tựa người vào thân cây bách, chơi đàn và hát. Ông ta chỉ hát đi hát lại duy nhất một điệp khúc. Đôi mắt ông nhòa đi vì nước mắt :

" Những viên đạn cuối cùng, ôi con chim trĩ của ta,
Ta đã phí hoài đạn đi săn loài chiền chiện.
Rồi giờ thì, ta chỉ còn nước nhìn mi
Trái tim ta phải rỉ máu vì bực hận. "

Ông nội vỗ tay nói :

- Này các vị Kapitan , bụng các vị chưa đầy phải không ? Tôi có cảm tưởng là bao tử các vị nở rộng ra đấy. Nào, đủ rồi! Lau râu ria quý vị đi, rửa tay, buộc lại thắt lưng rồi lại đây. Tôi có vài điều muốn nói với các vị chính vì vậy tôi đã phải thỉnh mời các vị lại đây đó.

"Còn ông thấy giáo ơi, quẳng cái đàn xuống, bỏ mặc mấy con chiền chiện rồi để yên mấy viên đạn kia đi , đủ rồi! Còn mấy người, cụ quay lại nói với đám đàn bà và bầy cháu chắt, mang nước lại đây để các vị kapétan rửa tay. Mang thêm nước hoa cam nữa để các vị ấy được thơm tho một chút. Lau rửa các ông ấy, giúp các ông ấy lại gần đây.

Đám con gái vảy nước hoa lên người các vị Kapitan già rồi cho các vị ấy ngửi nước hoa hồng để tỉnh táo lại. Sau đó, dìu họ tới gốc cây chanh, đặt họ ngồi theo lối người Thổ, hai vị Kapitan ngồi hai bên ông nội , vị giáo viên già ngồi dưới chân.

Kapitan Sifakas mở rộng hai cánh tay, và, làm như lần đầu tiên cụ mới nhìn thấy ba người khách , cất lời chào đón, theo kiểu của các bậc công hầu :

- Kapitan Mandakas, cụ chủ nhà nói, chiến sĩ bộ binh lừng danh; Kapitan Katsirmas, người cướp biển không bao giờ nhân nhượng, và anh, Kapitan Giáo viên , người đã từng âm thầm chiến đấu, thư ký Cách Mạng đặc trách liên lạc với bọn Thổ và Pháp, xin ngàn lần đón chào các vị đã đặt chân tới nơi cư ngụ khiêm nhượng của tôi!.

- Xin chào ngài , Kapitan Sifakas! Ba người khách già đồng lên tiếng, bàn tay họ đặt trước ngực mình.

Ông nội đã mệt, ngưng lại uống một ngụm nước rồi tiếp tục :

- Các anh em, hẳn các vị cũng nhớ lại được rằng : khởi đầu mỗi một cuộc cách mạng, mọi người đều tụ tập dưới một cây sối già hay trong một tu viện. Người ta bàn thảo rồi tuyên thệ, trước khi từ biệt lên đường đi vào cõi chết mọi người đều ôm nhau hôn ...Cũng như thế, hôm nay, chúng ta tụ tập tại đây dưới cây chanh của kẻ già Sifakas này!. Từ nhiều ngày qua, ngày qua ngày, tôi đã nhiều lần nói vĩnh biệt cuộc đời này nhưng tôi vẫn chưa đi được. Tôi đã đi xưng tội, đã chịu lễ ban thánh thể song tôi vẫn luôn luôn sống. Tôi cũng sẽ không đi được, ba vị kapétan ơi, trước khi tâm sự với các vị. Đó là một thứ cách mạng lần này nữa, các chiến hữu anh em ơi; hãy chú tâm vào những quyết định mà các vị sẽ phải thực hiện...Các vị có nghe tôi nói hay không ? Tinh thần các vị có sáng suốt không ? Các vị đã hả rượu chưa, có hay không ? Các vị có thể hiểu được những lời tôi nói và để trả lời tôi hay không ? Hay là tôi còn nói chuyện với những bức tường ?

- Có thể được! Cả ba vị khách già đáp lại, bàn tay họ đặt trên ngực hệt như những người đang làm lễ tuyên thệ.

- Vậy thì xin qúy vị nghe đây. Tôi đã được 100 tuổi rồi. Các vị đã biết rõ chuyện đời tôi nên các vị cũng chẳng cần tôi phải kể ra đây... Tôi dấn mình vào các cuộc đấu tranh , tôi làm việc, tôi biết được điều vui và nỗi khổ, và trôi đã làm bổn phẩn của một người đàn ông, các vị cũng đều đã chứng kiến. Tuy nhiên giờ cuối cùng của tôi chưa tới. Đất đai đang sụp dưới chân tôi và đất cũng muốn chôn vuì tôi. Thì cứ chôn vuì tôi đi cũng chẳng sao ! Nhưng suốt thời gian đó, qúy vị hãy nhìn đi, bây giờ thì tôi để lại sau lưng!

Kapitan Sifakas ngưng lại và chỉ tay về những người con, cháu, chắt của cụ.

- Tôi để lại cả một đàn. Tôi chẳng sợ gì cái Chết. Cái Chết mà tôi đã từng chiến thắng ... nhưng tôi còn có những nỗi lo ngại khác .

Ông nội thở ra, ngưng lại rồi thở ra tiếp.

- Thời gian gần đây, tôi không tài nào nhắm mắt lại được, lần đầu tiên cụ chủ nhà nói với một giọng run run. Tôi không thể nào còn ngủ được ba vị kapétan ơi; một con sâu đục khoét tôi...

Tới đây ông nội ngưng lại, nhìn ba người khách già; nhìn từng người, lắc đầu và hét lớn :

- Các vị có nghe tôi nói hay không? Các vị có chú tâm đến lời tôi nói không? Ông ngủ hay sao vậy? ông thầy giáo!

- Tôi đang nghe đây! người giáo viên giật nẩy mình đáp lại. Ông đang nói tới con sâu nào chứ ?

- Con sâu nó đục khoét tôi, các anh em ơi! Tôi nhìn lại sau lưng tôi, tôi thấy đấy là cuộc đời của tôi, tôi nhìn về phía trước, đấy là cái chết của tôi hiện ra.Và tôi tự hỏi : Người ta từ đâu mà ra? Rồi sẽ đi về đâu? Đó, con sâu đó đục khoét tôi!.

Đôi môi Kapitan Sifakas run rảy , ông ngừng nói. Cả ba vị khách như bị trấn động. Người thầy giáo già đưa tay gãi gãi cái đầu nhón và sói của mình vừa định mở miệng nói nhưng ông kịp dừng lại vì ông cũng nhận được ra là chẳng biết phải nói điều gì .

- Các ông chưa bao giờ nghĩ như thế phải không ? Ông nội lại cất tiếng hỏi. Con sâu đó chưa bao giờ nhúc nhích trong đầu các ông có phải không ?

- Chưa bao giờ, cả ba vị khách đồng lên tiếng đáp lại.

- Tôi cũng như thế, có ông trời làm chứng! nhưng từ những ngày gần đây, tôi không tài nào nhắm mắt ngủ yên được. Con sâu đã như từ lòng đất chui lên, thấm nhập vào người tôi, đục khoét tôi Tôi lại chẳng có ai để nói ra được nỗi quay quắt này. Các con trai tôi thì còn trẻ, năm mươi, sáu mươi, bọn nó chưa có đủ kinh nghiệm để hiểu được! Con trai lớn của tôi, thằng Kostaros , nếu còn sống thì năm nay cũng đã hơn bảy mươi tuổi; nó, nói bắt đầu hiểu nhưng nó lại bị thiêu sống ở Arcadi...Vì vậy nên tôi tự nhủ : phải tụ họp các bạn vong niên của mình lại để bàn thảo. Đầu óc các ông đã chín mùi, đầy kinh nghiệm sống, các ông Kapitan ơi. Các ông chắc chắn cũng đã cảm nhận được một điều gì đó trong lòng mình, hãy nói ra đây! Mở rộng con tim các ông , các ông cũng đã uống rượu nhờ thế cũng sẽ giúp được phần nào, hãy thú nhận đi các người anh em của tôi ơi! Tôi không muốn chết trong sự mù quáng. Kapétan Mandakas, ông nói trước đi, ông là người già nhất trong ba vị. Vào năm 1821 ông được bao nhiêu tuổi ?

- Hai mươi hai, người anh em Sifakas của tôi ơi, bộ ông không nhớ ra được hay sao chứ ?

- Khi đó tôi cũng đã ba mươi . Tôi hơn ông tám tuổi. Hãy nói trước đi. Ông sống , chiến đấu cũng đã lâu năm rồi. Ông hiểu chưa?

Kapitan Mandakas đưa bàn tay trước miệng mình, từ từ hạ xuống, mơn trớn hàm râu dầy và suy nghĩ thật lâu rồi lên tiếng :

- Vì vậy mà ông triệu tập bọn tôi phải không ông bạn già Sifakas? Cuối cùng thì Kapitan Madakas lên tiếng. Ông làm cho bọn này rất áy náy . Ông đã phải trả giá rất đắt rượu , thịt cho bọn tôi. Này thầy giáo! ông nghĩ sao ?

- Hãy để ông ta được yên thân, ông nội la lớn, ông bàn chuyện với tôi chứ không phải với ông thầy giáo! Ông chiến đấu bao nhiêu năm để là gì chứ ? Ông có thể nói được với tôi những gì mà cuộc đời này mang lại cho ông hay không ? Tôi hỏi ông, trả lời đi. Đừng thách đố tôi nghe chưa. Hãy nói một cách trung thực như một bậc trượng phu!.

Kapitan Mandakas rút bọc thuốc lá từ trong túi ông ta ra, chậm rãi vấn một điếu, vẻ lo âu.

- Ông hỏi tôi một cách bất ngờ, ông Sifakas già của tôi ơi, một lúc sau Kapitan Mandakas lên tiếng. Ông muốn tôi nói gì bây giờ ? Tôi không biết phải nói cái gì trước cái gì sau .... Tôi, tôi đã sống một cách mù quáng suốt cuộc đời tôi, như ông cũng đã từng nói , nhưng tôi chẳng tiếc nuối gì. Tôi mù quáng lúc lao mình vào cuộc chiến. Tôi đã thắt thật chặt chiếc khăn quàng trên đầu tôi, thật chặt, như để ngăn chận cho óc tôi khỏi bị vỡ tung ra khi lao mình vào đám Thổ. Tôi cũng đã mù quáng khi lấy vợ, mù quáng lúc tạo ra những đứa con, khi vào nhà thờ đốt đèn cầy qùy lạy trước các các bức hình thánh . Tôi mù quáng khi gieo hạt , lúc gặt, lúc đập luá, và, chưa hết, tôi cũng mù quáng khi ăn những miếng bánh mì. Chưa bao giờ tôi đặt ra câu hỏi vì sao tôi phải ăn, vì sao tôi lại phải cầu nguyện, vì sao tôi lại phải giết chóc. Nhân danh Trời đất, chờ tôi một chút, Kapitan Sifakas, để tôi lục lạo trong trí nhớ của tôi...Ông có vội vã gì không nào ?.

- Thôi được, tôi sẽ kiên nhẫn. Lục lạo lại trong trí nhớ của ông đi, Kapitan Mandakas, ông nội đáp lại rồi chắp tay trước ngực mình.

Kapitan Mandakas ngoảnh lại đàng sau, bảo với người con nuôi :

- Yanacos, sách lại đây cho ta cái ba lô!


__________________________

... CÒN TIẾP ...


* Mời đọc
- Tiểu sử Nikos Kazantzaki tại: http://newvietart.com/index4.26.html.


- Các phần trước trong trang : http://www.newvietart.com/TUVU_phap.html
La Serénité - Troyes, 15 giờ 20 ngày 10.03.2011.



© Dịch giả giữ bản quyền.
. Lần đầu tiên đăng tải trên Newvietart.com ngày 11.03.2011.
. Tất cả các bản sao chép lại không ghi rõ nguồn Newvietart.com
là những bản xử dụng bất chính, thiếu văn hóa và bất hợp pháp.