30.4.75 - SàiGòn: Một cảnh bỏ của cải tháo thân leo
hàng rào chạy vào Đại sứ quán Hoa Kỳ để được di tản ...































THẾ PHONG


KỲ THỨ 13 KẾT THÚC


Sáng hôm sau Đỗ bước lên phi cơ C130 bay Phan Rang, trạm đầu tiên đáp xuống Biên Hoà để nhận lính Du. Nhìn cách ăn mặc quần áo xộc xệch, tinh thần sa sút hiện rõ lên khuôn mặt. Đỗ nghĩ tới thân phận anh, một khi cùng họ bay đến đó không biết có còn cơ hội trở về nữa không? Tuy nhiên đã quyết định, như giờ này đây đã leo lên lưng cọp, chẳng còn cơ hội leo xuống; Đỗ cứ bước mạnh dạn lên ngồi theo hàng chen chúc ở sàn máy bay. Chẳng còn thảnh thơi như xưa, ngồi vào ghế vải dọc theo hai thân máy bay, bởi khoảng giữa bụng thường để chở xe tăng hoặc khí tài quân sự. Quả thực C130 được gọi là Hercule cũng đúng, chiếc xe tăng M48 nặng nề mà hai động cơ bán phản lực của C130 cất cánh ngon lành. Từ phi trường Biên Hòa nhìn xuống dưới đất, cảnh thanh bình như chẳng có gì là chiến tranh khốc liệt. Kìa giải đồi vẫn xanh, này vườn cây ăn quả vẫn trĩu trái, còn cánh đồng lúa đang vào thì con gái xanh mơn mởn ngọn lướt theo nhau qua chiều gió thổi.

Máy bay đáp xuống phi trường Phan Rang an toàn, bạn bên cạnh cho biết nếu muốn ra phố tìm người nhà, không thể không mặc quân phục treilli , bằng không chẳng tài nao xuất trại được. Chỉ còn một cách thuê xe ôm ra phố là gọn, nhất. Bây giờ lúc dầu sôi lửa bỏng, Đỗ nhớ lại vẫn mặc đồ dân sự; chứ không như có lần trung tá họa sĩ Tạ Tỵ đưa anh vào thăm đại tá làm thơ Cao Tiêu, cục trưởng Tâm lý chiến, bị ông ta hạnh họe. Nào là giờ hành chánh, hạ sĩ quan, binh sĩ thì nhất định trăm phần trăm không được phép mặc dân sự. Thì bây giờ đây, chẳng cần đại tá kia khuyên thế này thế no, vẫn phải mặc bộ quân phục dày mo bên mình, bằng không không thể xuất trại. Có đôi ba chiếc trực thăng HUIB lượn quanh khu quân sự quanh quanh phi trường. Còn lính tráng, từ tướng tới lính bây giờ đây mỗi người như đội một khối đá lớn trên đầu. Bây giờ lính KQ không còn cảnh vui, tếu nhộn như xưa, nét mặt lầm lì, chỉ nói năng khi thật cần thiết. Đỗ ăn bữa trưa dã chiến, bánh mì chả anh mua từ phi trường Biên Hoà, sẵn bi đông cà phê, cả gói Lucky strike bên mình, ôi thôi một bữa cơm trưa đầy thú vị ở nơi gió cát đầy không khí ngột thở chiến tranh sắp tới hồi kết thúc, qua bom nổ bốc khói mịt mù ở chân trời. Đến xế trưa, một trực thăng HUIB đáp xuống, một VIP như là tướng Lục quân nào có vẻ tầm cỡ Tham mưu trưởng Liên quân thị sát phi trường Phan Rang. Đỗ thấy có tướng Không quân đi cùng tướng ba sao, nói với nhau bằng tiếng Pháp: “...il faut abandonner champ de bataille..”. Ngay sau đó tướng Lành KQ nhìn thấy Đỗ, vẫy lại hỏi đi đâu hẹn giờ cùng về Sài Gòn luôn thể. Tướng Không quân này rất thích thơ Hàn Mặc Tử, đọc luôn: “... Ở đây sương khói mờ nhân ảnh/ Ai biết tình ai có đậm đà..” , nói tiếp: “... Ở đây không có ý thơ lãng mạn đâu, chỉ có khói nhân ảnh chiến tranh mờ mịt. Ông nhớ về Sài Gòn cùng tôi chiều nay nhé”.

Đỗ cảm ơn, gật đầu và lại thuê xe ôm ra phố tìm gia đình ông bà ngoại. Đi tìm người nhà chẳng thấy, đanh trở lại phi trường Phan Rang tìm chiếc C130 sáng nay vẫn còn nằm trên đường băng. Trưởng phi cơ thấy Đỗ quen mặt buổi sáng, vẫy Đỗ lại cho hay máy bay sắp cất cánh trở về Biên Hòa, lấy tay chỉ ra xa xa phía chân trời, từng cụm khói đen từ hỏa tiễn đối phương bắn vào rớt ở vòng đai phi trường, cũng có ít trái rớt xuống biển.

Máy bay cất cánh lượn một vòng cao rồi hướng thẳng bay về Biên Hòa. Buổi tối hôm ấy, không còn chiếc nào bay về Tân Sơn Nhất, Đỗ đành ngủ lại đây một đêm.

Chợt nhớ ra ở đây, bạn anh là Cận có ngưới bạn gái, cô Ngọc y tá làm ở bệnh viện, đã từ lâu không gặp. Tuy Đỗ vẫn nói Ngọc là bạn gái của bạn mình; nhưng thật ra Đỗ giấu hẳn có nhiều đêm phóng đãng chung chăn gối với nàng. Khúc phim dĩ vãng lan tỏa mờ mịt tâm trí , từ từ quay lại từng khúc si mê. Một buổi đi uống cà phê ở Nhà hàng Việt Mỹ có cả Ngọc, Cận, Phát, và Đỗ. Nàng là y tá một bệnh viện mạn Lục tỉnh, mỗi lần về Sài Gòn, thường ngủ lại nhà bà con ở Vườn Chuối, rủ Cận đi chơi. Phát, Đỗ và Cận thân nhau, Cận rủ luôn cả Ngọc cùng đi chung. Ngọc là một cô gái duyên dáng mặn mà, đa tình, biết gợi ý cho đàn ông biết điều nàng cần. Uống cà phê xong, nàng nói với Cận sao đó, rồi Cận nói với Đỗ:

- Anh chở Ngọc về nhà bà con cô ấy, và tôi ngồi sau xe Phát. Để hôm nào Phát làm xong Lệnh di chuyển đi Cần Thơ thì anh đến đón giùm.

Quay sang Phát, Cận hỏi:

- Anh lấy chuyến máy bay buổi chiều cho cô ấy dễ đi hơn, chứ buổi sáng sớm vào phi trường lập cập lắm.

- Máy bay đi miền Tây sớm lắm, hay là anh Đỗ biết nhà thì ra đón cô ấy vào là tiện nhất.

- Được rồi, bây giờ đi Cần Thơ gần hai trăm cây số cũng phải đi máy bay cho an toàn; thực ra đi xe hơi là sướng nhất, à mà cho đi chuyến mấy giờ sáng? Đỗ hỏi.

- Năm giờ sáng, ông ơi. Mà phải đến từ bốn rưỡi sáng làm thủ tục ở Trạm Hàng Không Quân Sự. Phát trả lời, hay là vào trong nhà anh Đỗ ngủ rồi đỡ lập cập.

Cận quay sang Ngọc:

- Cô có chịu không, để tôi vào nói với chị Đỗ cho ngủ nhờ.

Ngọc gật đầu. Và Phat bảo Cận:

- Anh vào gặp chị Khuê xin cho cô Ngọc ngủ nhờ để tránh cho anh Đỗ khó xử.

Ngọc ngồi phía sau xe gắn máy rất tự nhiên, ngồi sát Đỗ; bộ ngực tròn, nẩy nở chà sát lưng gây cho anh cảm giác nhột nhạt. Anh phóng nhanh và thắng gấp, thì bộ ngực lại chà sát mạnh hơn, và Ngọc vỗ vai; đưa mặt ra phía trước nói với Đỗ:

-Có khi nào anh lái xe chở chị ấy cũng thắng gấp như vậy “hôn” ? Chạm vào da thịt anh, người muốn bủn rủn hết đây nè!

Đỗ không trả lời thẳng ngay câu hỏi của Ngọc; nhưng lòng cũng bủn rủn. Đỗ không biết rằng tình bạn của Ngọc đối với Cận ra sao, Đỗ nghĩ bụng, giá bị nàng cám dỗ thì bây giờ khó tránh khỏi. Ngọc lại nỉ non:

-Nghe nói Không quân các anh có một quán cà phê đẹp, thơ mộng tuyệt vời “Mây Bốn Phương Trời” , tối nay đưa đến đó cho biết nghe.

Đỗ gật đầu , thì đúng lúc đó Ngọc ra hiệu vẫy tay dừng xe trước cửa nhà bà con rồi hẹn Đỗ đến đón vào tám giờ tối.

Phòng khách nhà Đỗ, ngoài bộ sa lông, bàn ăn, giường ngủ của Đỗ cạnh tủ sách lớn, bìa đóng gáy da mạ chữ vàng, là tác phẩm của nhà văn và bạn bè tặng. Phòng trong kê hai giường lớn, một giường cho bà chị vợ ngủ, nay bà đã dọn đi chỗ khác; còn giường phía trong cùng là của vợ con anh. Khuê bảo chồng:

- Anh để cô Ngọc ngủ ngoài phòng khách có tiện không?

Đỗ sắp đặt trước việc này khi Ngọc và anh ngồi trong quán “Mây Bốn Phương Trời” ; khi hai người ngồi đối diện nhau, chân họ phía dưới bàn đã chồng lên nhau, như thoả thuận “tình trong như đã..” . Và trên bàn, đầu Ngọc đã ngả vào vai Đỗ rồi, cả hai chỉ chờ cơ hội thuận tiện mà thôi. Đỗ trả lời vợ:

- Anh ngủ ngoài tiện hơn, đêm trực chiến xong về nhà không làm ai mất ngủ cả. Cô Ngọc ngủ ở giường bác Thư là tiện nhất Khuê ạ.

- Em chỉ sợ ban đêm con khóc cô ấy mất ngủ thôi!

- Tốt nhất là em hỏi ý kiến cô ấy.

Và Ngọc đã chọn ngủ ở giường trong nhà, và cho biết rất dễ ngủ, đặt mình xuống ngủ ngay. “Em là y tá mà chị, em ngủ trực bệnh viện thường xuyên quen rồi”.

Chợt tỉnh, Đỗ được cô y tá trực bệnh viện Biên Hoà cho biết:

- Chàng phi công ơi, bữa nay cô Ngọc không có ở đây. Hình như cô ấy và con trai cô về Sài Gòn rồi.

Đỗ nhớ lại ngay là đêm xưa, khi thức giấc, có người đánh thức và bịt miệng anh lại. Nụ hôn tới tấp và vong ôm da diết để lại hậu quả, sau đó Ngọc sinh được một bé trai rất kháu khỉnh. Rồi có lần Cận đưa cho anh xem tấm ảnh nhỏ khổ 3x4 nói là con Ngọc. Cô ấy không liên lạc thường xuyên với Cận nữa; nhưng bản tính ít nói, thâm trầm, nên Đỗ cũng không biết là Cận có biết rõ chuyện tình tay ba này đến mức nào?

Khi đài BBC loan tin buổi chiều tối là Phan Rang đã thất thủ, phi trường này đã lọt vào tay đối phương. Đỗ bàng hoàng, cho đây la dịp may lớn nhất đối với anh; giờ này ở Sài Gòn vợ không thấy chồng về, rồi lại nghe được tin này hẳn lo âu không ít! Đỗ bước vào quán, gọi món ăn hợp khẩu vị, như gọi một ly cà phê đen đậm đặc, hút điếu thuốc để tự thưởng cho bản thân thoát hiểm. Rồi đến phi đoàn trực thăng H34 tìm Đào Vũ Anh Hùng tá túc một đêm. Nhìn thấy cánh mai bạc đã lẻ loi rơi vào mũ ca lô của chàng này hồi nào không biết nữa. Khuôn mặt Hùng đen xạm, nỗi lo âu hằn lên nét mặt, gò má xương xương, gầy guộc. Chẳng nói với nhau được lời nào, chỉ nhìn nhau, thở dài; rồi mỗi người tự tìm quên trong giấc ngủ vùi.

Buổi chiều tà 28 tháng tư không dễ quên; bởi từ xa vọng lại còi hụ báo động liên hồi, Đỗ bỏ tờ báo “Chính Luận” đọc dang dở chạy ra; thì biết phi trường Tân Sơn Nhất bị ba chiếc A37 ném bom. Anh phụ trách trông coi súng phòng không lại không về kịp, và trở về chỉ chậm một hai phut gì đó nên phi trường Tân Sơn Nhất bị mưa bom. Đỗ và vợ đồng ý với nhau, ngay từ đêm nay, mỗi khi ăn cơm chiều xong là phải đưa các con xuống hầm ngủ. Ngoài đường, xe cộ nườm nượp chở va li ra Air Terminal để thoát thân ra nước ngoài. Xe hơi, gắn máy, Vespa bị ném bỏ ở ngoài đường, gần phi đạo, nhiều hằng hà sa số! Những chiếc xe này đã hoàn thành xong công việc cho chủ cất cánh bay xa, còn nó thì bị bỏ lại. Cô Hòa, hàng xóm, sang báo tin cho Khuê biết chuẩn bị đi là vừa; “thế nào khuya này cũng phải ra đi thôi”. Những cơn mưa pháo kích đã dội vào sân bay không ngớt. Không còn là đôi ba tiếng oành oành như trước; còn bây giờ thì phi trường mù mịt khói và tai hầu như bị điếc, vì hoả tiễn giội từ ngoài vào. Những đám cháy lớn, máy bay bị trúng hoả tiễn, tạo thành những cột khói đen tỏa ngút bầu trời. Những tiếng kêu “mau mau lên bỏ của thôi” từ xa vang vọng lại. Hai vợ chồng Đỗ bàn với nhau, giờ này đi ra cũng chết, thà nằm lại đây để chờ thì may ra còn sống sót. Khuya đêm, có tiếng cô Hòa gọi báo tin:

- Chị Khuê ơi, máy bay Galaxy không thể đáp xuống được nữa rồi. Nếu ai tìm được phương tiện riêng nào thích hợp thì cứ đi.

Chưa bao giờ hỏa tiễn pháo vào sân bay Tân Sơn Nhất lại nhiều và liên tục như đêm hôm đó. “Nữ quân nhân trở thành heo quay hết rồi...!” tiếng than khóc như ri. Một trái hỏa tiễn 122 ly rơi vào gần chỗ dẫy nhà trên làm bị thương con trai thượng sĩ Minh Triệu, nhà văn quân đội cùng Khối với Đỗ ở Bộ Tư lệnh xưa. Mỗi lần hoả tiễn nổ, Đỗ như mất hết bình tĩnh, còn vợ anh thì bình tĩnh như không. Nàng đi ra cửa hầm tắt quạt, vì giây điện bị chập, cường độ tăng khiến cho chiếc quạt xưa kia chạy chậm rì, nay kêu vo vo như tiếng máy bay. Qua một đêm, sáng hôm sau hầm trú ẩn của nhà Đỗ vẫn nguyên vẹn. Đỗ lấy chiếc xe Honda chạy ra Air Terminal để xem có chiếc máy bay nào còn cất cánh được nữa không?

Thì một chiếc C119 đang nằm ngoài phi đạo. Nhìn thấy Đỗ, trưởng phi cơ vẫy Đỗ lại và bảo : “.. hãy nhanh nhanh chở vợ con ra đây...”. Đỗ quay về nhà giục vợ con đem theo hành lý gọn, nhẹ; rồi chất tất cả hai vợ chồng và năm đứa con lên đó chạy ra phi đạo trực chỉ tới bãi, nơi có chiếc máy bay đang chờ bốc cất cánh. Nhưng khi tới Air Terminal , từ cổng nhìn vào, thì chiếc C119 kia đang bốc khói vì trúng hỏa tiễn.

Đỗ quay lại bàn với vợ:

- Chúng ta không có cơ duyên ra đi rồi đó em. Hay là chúng ta bỏ ý định này, thay vào đó chúng ta ra Tân Định tạm trú ở nhà chị Hòa vậy.

Khuê gật đầu, Đỗ lái xe chở vợ con ra khỏi cổng Phi Hùng. Quân cảnh gác cổng không kiểm soát người đi ra; chỉ khống chế người đi vào sân bay. Nhiều người đi vào nhìn thấy họ đi ra, ngạc nhiên, Vợ chồng anh biết vậy, vẫn trực chỉ ra ngoài phố.. nơi nhà bà chị họ ở 13 Trần Khát Chân, Tân Định. Khi đến cầu Kiệu, một cảnh sát viên giang tay cản lại, Đỗ tưởng chừng sao còn chuyện lạ vậy. Nhưng anh ta cười thân thiện, muốn dò hỏi tin tức:

- Sao xếp lại chở gia đình ra ngoài mà không ở lại để đi? Tôi xin lỗi xếp, sao xếp dại thế; người ta muốn vào Tân Sơn Nhất để đi không được, còn xếp cùng gia đình lại đi ra? Xếp cứ ở trong đó thì sớm muộn gì cũng đi được thôi mà!

Khi gõ cửa nhà số 13, chủ nhân đi ra bắt gặp gia đình Khuê chạy loạn, bà chị họ của Khuê ngạc nhiên không ít; nhưng chị vẫn mở cửa, an ủi:

- Cô chú và các cháu vào nhà đi, hãy dọn vào phòng trong, trải chiếu ra ngủ, nấu ăn và hãy coi như là ở nhà vậy nhé.

Buổi chiều 29 tháng tư, một buổi chiều đáng nhớ, cũng khó quên như chiều tối 28 có ba chiếc máy bay A37 thả bom xuống Tân Sơn Nhất vậy. Nhà hàng xóm bà chị họ, số nhà 11 lại đang sửa soạn ra đi bằng tàu thủy ở bến Bạch Đằng. Khuê nhìn chồng, nhìn họ, nói bâng quơ:

- Hai vợ chồng mình chỉ còn vài ngàn bạc tiền Việt Nam trong túi, chỉ một đô la cũng không. Vậy thì có đi, ở giữa đàng, năm con kêu đói, thì lấy đâu ra tien mua bánh mì cho chúng ăn đỡ lòng.

- Đúng thế, thôi thì đành vậy!

Buổi trưa ngày 30 tháng tư, một buổi thời tiết đẹp, nắng hanh vàng chan hòa ngoài phố xá. Và từ chiếc radio phát ra vào lúc 11 giờ trưa, Đài phát thanh Sài Gòn loan tin binh sĩ Việt Nam Cộng Hoà hãy buông súng. Tiếp theo, Đại tướng Dương Văn Minh đọc lời hiệu triệu, giọng thật chậm rãi, lời lẽ ôn tồn; khiến Đỗ là người nghe có cảm tưởng như là ông ngập ngừng đọc lời của chính ông chăng?

Tiếp đến, tiếng động cơ máy bay phản lực F5 rít trên bầu trời Sài Gòn. Đỗ nhìn lên, có dăm ba chiếc bay về hướng tây, nam sang Thái Lan; như gửi lời chào vĩnh biệt.

Đỗ quay vào nhà, Khuê đưa tiền bảo chồng đi mua mấy ổ bánh mì cho con đang khóc kêu la đói bụng./.



Sài Gòn, 30 tháng Tư năm 2003

__________________________________________________________________











© Tác giả giữ bản quyền.
.Cập nhật theo nguyên bản tác giả gởi ngày 10.03.2011.
. Trích đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com