TRỞ VỀ



LÝ THỊ MINH CHÂU

       Vứt lên trời bầy chim sâu xám xịt, cánh vỗ phừng phực bay về miệt rừng. Bầy chim xấu xí kết thành dải lụa quái dạng, vắt qua những dãy đồi chạy dích dzắc hai bên cánh đồng. Cánh đồng bé tẹo không tên, lác đác những chùm bông phượng loe hoe đỏ trải dọc triền suối, tung ra cái nóng hừng hực sưởi chín những bông lúa cong quẹo, vàng rươm. Giáp biên cánh đồng là rừng hổn giao, nơi có những lùm tre gai xanh dìu dịu điểm xuyết cho bộ mặt ủ rũ của đám cây dầu. Ở đó có con lộ đỏ chót màu đất bazan. Con lộ có vẻ yếu đuối ốm tong, ốm teo nhưng cõng trên vai nó hàng ba, bốn chục nóc nhà lá, một tàu ngựa tổ chảng và vài ba chuồng trâu, bò cùng với năm bảy ụ rơm to tướng. Trên một ngọn đồi thấp đĩnh đạc ở rìa làng, người ta kiến tạo một ngôi chùa khá khang trang, mái cũng lợp lá nhưng là thứ lá mây sáp chắc và bền có thể cằn cựa với mưa nắng hàng chục năm.

    Chùa dành hai phòng để dạy học cho con em trong xóm, có nhiều lớp cùng học chung một phòng. Cha mẹ chúng đóng học phí cho con cái mình bằng những ngày làm công quả trên chùa, nếu không có công thì đóng hiện vật. Nói chung là có gì đóng nấy, ấy vậy mà nhiều đứa trong đám học trò quê mùa này cũng đỗ đạt đàng hoàng cấp tiểu học như ai. Thầy thì trẻ như anh, chẳng phải chú tiểu mà cũng chẳng phải sư, thầy cũng muốn làm người lớn nên ưa xoa đầu bọn trẻ. Cái bọn khét lẹt mùi nắng gió, mùi mũi dãi, mùi bùn mà dễ dạy.

    Duy nhất ở cái làng này là ngôi đình được lợp ngói âm dương, rường cột bằng gỗ mun bóng lựng. Phía trước sân đình là tấm bình phong xây bằng gạch thẻ nung chạm hình con hổ đang diễu võ giương oai. Cái đình thì bé tẹo mà cái sân thì quá rộng chứa cả dân làng còn dư. Đó là chỗ cho gánh hát bội nhóc con nào đó ghé ngang vét những đồng bạc khó của vụ mùa vừa thu hoạch. Tường rào bao quanh sân diễn ùm bà lằng vỏ thùng giấy, bao tải cũ, vải bạt rách, dây nhợ giăng ngang, giăng dọc nhí nhố ấy vậy mà chẳng ai xé rào vào coi cọp. Chỉ có bọn trẻ con là phá phách nhất nhưng chúng cũng chả thèm, chúng leo lên hai cây đa mà người xưa trồng làm cổng đình ngồi xem thỏa thích mà chẳng cần quan ngại ai. Chúng cười hí hố khi thấy ai đó thay áo, thay quần vẽ mắt, kẽ môi. Chúng la ó khi cô đào nào đó ôm chầm ông kép nưng niu cái chỗ mà tụi nó chưa bao giờ được nghe ai gọi.

    Con suối là mạch sống chính của làng, người ta dành chỗ sâu nhất làm bến tắm ngựa. Những con ngựa hàng ngày phải đi về hai, ba chục cây số để nối nơi đìu hiu này với phố xá văn minh. Phía bên trên bến tắm ngựa là bến tắm của làng. Cứ đận chiều là trai tráng quy tụ về đây tắm giặt, đàn bà con gái cũng lén phén ra đó gánh nước, gội đầu, liếc dọc liếc ngang. Con suối ban ngày yên ắng là thế nhưng ban đêm chằng chịt tiếng cười, tiếng thầm thĩ của người, của vật. Cóc nhái, ễnh ương, dế mọi nghe tiếng người cũng động cỡn, thúc giục nhau đàn ca xướng họa ĩ ôi. Hôm nào không có ánh trăng chúng càng la lối tợn. Hình như chỉ chờ có thế, bọn đom đóm chạy tới, chạy lui dọc theo đường làng như để coi mặt mấy đứa con trai, con gái lén lút tâm sự đâu đó. Tiếng chuông trên chùa lá buồn buồn, lạt lẽo, họa hoằn lắm mới gióng giả linh đình một đôi ngày lễ hội.

    Làng không có tên, người ta gọi tên làng theo nhân định của người qua đường là gió mát rười rượi khi bước chân ra khỏi con tàu nóng như lửa. Eo Gió là tên làng, là tên ga. Nói là ga chứ chẳng thấy ai buôn bán gì, các chuyến tàu chỉ dừng đây ít phút để ăn củi, uống nước, cho ai đó lên xuống rồi lại vút đi. Ga là thế, còn tàu là những cỗ máy hơi nước xập xà xập xệ trầy tróc lung tung. Chúng có tuổi đời hàng trăm năm già, chạy chậm như rùa, bọn trẻ con trèo lên nhảy xuống dễ như không. Cả đoàn tàu chỉ có một toa hàng chợ chứa đủ mọi loại mắm muối, thịt cá từ miền xuôi chở lên miền ngược còn lại là những toa hàng quân dụng. Thời chiến nên tàu lúc nào cũng lúc nhúc những lính là lính. Ngứa tay, ai đó thả một băng đạn lên trời, khơi khơi vậy nhưng cũng làm cho lũ con nít khoái quá vỗ tay nháo nhào. Đạn bom nghe quen riết hóa nhàm, một cái cầu sập, một tiếng mìn, một chiếc xe tăng banh xác đâu đó cứ sao mà dửng dưng. Mấy cái hòm phủ cờ ba sọc theo tàu chạy lên, chạy xuống giống nhau như đúc diễn ra hằng ngày, riết rồi không ai lấy đó làm đau xót. Sống chết sao mà bình thường đến lạ, vô tư đến lạ. Nhà bên kia đám tang, nhà bên đây đám cưới. Người ta dễ dàng khóc bên này, cười bên kia một cách vô tư. Buồn đó, vui đó chưa xanh mộ chồng thì bầu đã lum lúp. Chiến tranh hình như không thể ngăn cản sự rậm rựt của trai gái, của đàn ông, đàn bà. Chết như rạ dân số vẫn tăng vù vù, tăng đến chóng mặt, tăng đến nổi người ta phải mang bao cao su đến phát từng nhà. Dân mình ăn thuở ở thì đã quen, sống với thiên nhiên trần trụi đã quen, tình yêu cũng phải thiên nhiên mới thích và trẻ con cứ thế tung tăng chào đời. Ở cái làng này không có công trình nào là quan trọng nên chẳng có bốt đồn nào canh phòng. Ban đêm chỉ có tốp dân vệ quanh quẩn ở sân ga nhậu nhẹt, đánh bạc là chính nên cái xóm đìu hiu ấy vẫn cứ đìu hiu.

    Một cái quán xập xệ mọc bên cạnh ga, quán của Út nhỏ. Chồng chết trận đâu miệt ngoài, nó bảo thế thì người ta nghe thế. Cũng có thể nó bảo thế để người ta gờm cái mác cô nhi quả phụ để nó dễ làm ăn chăng ? Nói gì nói chớ đụng tới cô nhi quả phụ mà rách việc. Đó là cái cớ để cho cánh thương binh quậy phá, yêu sách này nọ với chính quyền. Họ nhân danh kẻ bảo vệ những người vợ của các chiến sĩ đã tử nạn chiến trường, bằng vũ khí là những cái tay, cái chân đã cụt ngủn. Cái quán vô thừa nhận ấy là chỗ duy nhất tiêu thụ những con gà ỉa chảy gù rù chờ chết. Những con gà mà thuốc đạn M16 trộn với nước tỏi cho uống cũng chẳng ăn thua gì. Hồi đó người ta gọi căn bệnh này gà phải gió khi thời tiết thay đổi giữa hai mùa mưa nắng chớ có biết H5N1,..N2 gì đâu. Gà tiu nguỷu, heo héo là thịt tuốt luốt, đánh chén ngon ơ.

    Út nhỏ có cái quy định bất thành văn là gà sống thì mua thoải mái đã đành, gà chết cũng mua nhưng phải làm lông sạch sẽ rồi mới đem tới quán cho nó. Ai dám khẳng định là con gà đã làm lông sạch sẽ đó đã chết vì bệnh, vì toi ? Không ăn thì thôi, đừng có bẻm mép mà vạ dính mồm. Đã thế, có ai chết vì ăn phải cháo gà này của nó đâu, bọn dân vệ vẫn mập ú ra đó thôi. Chỉ có dân làng này là biết tỏng mà cũng chẳng ngán, đám nhậu thì càng không thể khô mỏ. Ai đó nói ra, nói vào thì cánh lưu linh này vẫn cười khinh khỉnh :“ Mẹ kiếp, nước sôi cả trăm độ thế kia con quái nào sống được, sá gì ba con vi trùng bé tẹo “, và chúng vẫn ngửa cổ dzô dzô hằng đêm.

    Út nhỏ ở trọ cuối xóm, trong cái hốc bà tó phía sau đồi chùa, cạnh nhà thằng Độ. Ruộng rẫy chẳng có gì, nó hẳn là cư dân trẻ nhất trong cái làng già nua cú đế này rồi. Nghe đồn nó là đứa con vụng trộm của mẹ nó với ông trưởng ấp ở quê. Quê nó ở đâu thì có Chúa may ra mới biết. Vừa sinh ra mẹ nó treo nó trước cổng chùa làng rồi đi biền biệt. Lớn lên nó trốn chùa rồi trôi giạt vào xứ này, nó chẳng hề biết mặt cha mẹ cũng như tên họ của nó là gì. Cái tên Diệu Hương mà nhà chùa ban cho nó cũng đã lên mốc, lên meo từ lâu rồi. Hình như nó cố quên đi sự bao dung quý giá ấy để vào đời cho đỡ thẹn..

    Út nhỏ chắc là cái tên của ai đó gọi riết thành quen. Nhỏ thó, lanh lợi, khôn ngoan đáo để là biểu trưng của nó. Út nhỏ có nét đẹp hừng hực của ngọn lửa, thứ lửa của gốc tre già khô khốc, đanh chắc, trùng trục màu thời gian của miền trung chó ăn đá gà ăn sỏi, thứ lửa đó đốt đồng cũng chảy, đốt sắt cũng tan. Út nhỏ có tật tắm giặt ban sáng khi mà tiếng gà còn ngái ngủ nó đã dậy rồi. Nhóm bếp bắc nồi nước, cởi trần ra ngồi hiên nhà mà tắm. Nó bảo quê nó miệt biển chỉ mỗi cái xì líp, xu chiêng là long nhong khắp bãi thoải mái, ai cũng thế nên chẳng có gì phải bàn.

    - Quen riết thành tật, tắm dzậy mới khoái; mà nữa, trời tối in ỉn thế kia ai mà thấy gì.

    Có  bữa bọn nhậu trêu nó : “ Tui thấy hàng hiếm cả rồi, sáng nay “. Nó tỉnh queo “ Dóc..dữ cha nội, rình hả “, rồi như sợ mất lòng khách quen nó kề tai gã dê xồm thì thào “ Thấy…có đã hông “? Thằng bợm cũng đỏ rần lỗ tai con khỉ đột, cười the thé theo kiểu mắc dịch. Nhiều lúc con Út vô tình hay cố ý đưa tay sờ nắn dây nịt vú căng cứng của nó làm cho cánh đàn ông líu quíu, mặt mũi tối sầm. Nó nổi tiếng dữ từ hôm lia con dao bay phén ngón tay thằng nhậu chùa, cả làng binh nó, kẻ thương tích tiu nguỷu ôm bàn tay máu biến tiệt. Binh nó cũng phải, bởi nó nhỏ nhẹ từng lời với bà con chòm xóm, chưa mặt nặng mày nhẹ với ai bao giờ, cho mượn cho vay mà chẳng hề lấy lãi xu nào, cả làng mắc nợ nó.

    Buôn bán phọt phẹt thế mà vàng đeo đỏ tay mới ngộ, mấy kẻ ác miệng, ác mồm bảo con Út làm tiền với đám ăn bạc. Thằng Độ không nghĩ thế, nó nhìn con Út bằng cái nhìn phục lăn. Đứa con trai mới lớn như nó phải theo mấy ông anh dân vệ ra ngủ nhà làng, bởi ông trưởng ấp từng hăm he “ tụi mày tính theo Việt Cộng hay sao mà ngủ ở nhà “. Cha nó bảo nó cứ đi đi cho biết người biết ta, vậy là đêm nào nó cũng quấn tấm chăn màu lông chuột ra ngồi ngơ ngơ ở quán con Út, xem bọn dân vệ đánh bài, uống rượu. Lâu lâu lén nhìn Út nhỏ vậy thôi, vậy mà con Út cũng bắt bí : “ Nhìn gì trân trân dzậy cưng, sao không ăn uống gì.. chê đồ của Út hả ” làm thằng Độ xấu hổ muốn chết, nó nghĩ chắc hai vành tai mình đỏ rân như mào gà chọi, may sao có ai đó chở che :

    - Nè nè đừng thấy trai tơ mà tơm tớp nghe gái già, tội dụ dỗ vị thành niên xé lịch không nổi đâu bà cố, tui mà ghen tui đốt quán à nghen.

    Út nhỏ cười, cái cười rất mắc :

    - Chẳng lẽ dụ ông.

    Rồi nó bíu tay thằng Độ kéo vô ngồi lên chiếc giường của nó như thách thức. Chiếc giường là chỗ ban ngày nó dùng để chất hàng, ban đêm để ngủ, mùa mưa nó giăng ni lông tứ phía nhà gió kêu sồn sột nghe cũng vui vui. “ Ngồi đây đi cưng, chị nói này cho nghe..” mà nó có nói gì đâu, nó dọn bánh tráng thịt luộc, rau sống ra bảo ăn khuya. Nó cuốn cho thằng Độ một cuốn to tướng rồi giở tay thằng Độ ra đặt vào, nó bảo : “ Ăn đi, ngồi với mấy ông xỉn đó làm gì, mai mốt quen mùi cuốc mấy đất cũng không đủ rượu “. Lơ ngơ thế nào mà thằng Độ quên chấm nước mắm cứ thế mà nhai lạt. Út nhỏ cười như phải thụt lét, nhìn thằng Độ khiêu khích : “ Biết yêu rồi hả, thấy cưng là tui nhớ bồ…sứt cạp”.- “ Biết hộc máu chết liền “, “ Thề độc dữ há “. Thằng Độ lí nhí trong cổ : “ Bà chị ơi, xạo hoài, tui biết tỏng, bà có bạn bè quái quỷ nào đâu, chồng mổng chồng mông thì có, chồng rồi sao ngực cứ vun như núi thế kia…!”.

    Người ta bảo gò má con Út cao sát chồng đứa nào va vào phải vạ, ấy nên chồng nó đứt bóng mà chưa kịp để lại hậu duệ nối dõi tông đường. Cuốn bánh thứ hai con Út gắp mắm bỏ vào luôn, nhiều quá, mặn chát, thằng Độ xin nó miếng chanh thái mỏng.

    Từ  đó đêm nào thằng Độ cũng lảng vảng quanh nó, không ăn gì thì tán gẫu. Con Út nói chuyện có duyên đáo để, cái răng khểnh dễ thương làm sao, thằng Độ ngồi nghe chuyện mà mặt cứ đực ra.

    Hôm nào cũng vậy, trước khi đóng quán con Út đều bảo thằng Độ mai ra quán uống cà phê rồi hẳn đi làm. Thằng Độ không trông mong gì, cũng không mừng, nó nghĩ con Út thấy nhà nó nghèo rớt hột nên thương hại nói thế; chứ lý nào một cô gái đẹp có của ăn, của để như kia lại sà vào chia sớt gian nan với nó. Nhiều hôm chỉ có hai đứa, con Út vẫn ngồi thừ ra nhìn mưa rơi mà chẳng bộc lộ một ánh mắt chờ đợi nào. Một sự mơ tưởng không lô gíc nhưng suốt ngày cứ lởn vởn trong đầu nó. Hình bóng của Út nhỏ như ai dán trước mắt, nó mong sao đêm nhanh đến để nó được ngồi bên khối nam châm ấy mà nhìn ngắm vu vơ.

    Nó  tập uống rượu, chẳng khó khăn gì bởi mùi rượu đâu xa lạ với nó. Mấy hớp thôi mà đầu óc nó đã nhảy lambada rồi, con Út chẳng nói chẳng rằng có vẻ không thích. Mặc nó uống tới mửa mật xanh, mật vàng con Út vẫn điềm nhiên. Cả tuần sau nó không đến quán, con Út nhắn hết người nọ, người kia cũng chẳng kết quả gì. Con Út đành qua nhà làng tìm nó, nhìn nó nằm chèo queo trên tấm phản lạnh con Út chạnh lòng :

    - Dậy đi, Út nè…đàn ông con trai gì mà làm nũng ra nước, qua quán uống rượu !

    - Thôi, bà già ngầy rồi.

    - Sợ thiệt hả, sao tui nói hổng nghe.

    - Thì đang nghe mà.

    - Nghe sao hổng ngồi dậy.

    Thằng Độ chống tay uể oải, con Út quàng tay qua lưng nó nâng lên. “ Bước xuống đi cha nội “, - “ Từ từ đã nào “, nó cầm tay con Út mân mê, hình như tay nó run run, bất ngờ con Út hun cái chụt lên má nó rồi biến mất.

    Tiếng lành đồn xa, tiếng dữ cũng đồn xa, cha thằng Độ giận lắm, đánh cho một trận thừa chết, thiếu sống.

    Nó bỏ làng ra đi, năm đó nó mười bảy tuổi, Út nhỏ hai mươi.

    Giữa năm sáu tám có hai tu sĩ từ xa lên tu ở chùa này. Hai người còn trẻ lắm chỉ độ hăm mốt, hăm hai gì đó giọng nói rặt miền sông nước, một người tên Phước, một người tên Huệ. Hồi đó thằng Độ học đệ thất, làng không có lớp phải đạp xe ra thị trấn để học. Đường xa ngót mười cây số.  Cũng từ đó, nó thành bà nội trợ của gia đình chuyên lo chợ búa hồi nào không hay. Tan trường nó ghé chợ mua cá, mua rau về cho mẹ. Lắm bữa mua phải cá cũ đã có giòi trong bụng, mấy con heo nhà nó được bữa no nê, sướng lòng. Cha nó đe : “ Ngu quá, lần sau đánh đòn “. Nó chừa mặt bà hàng cá đó, mua chỗ khác. Nhưng chỗ khác có tốt lành hơn đâu, có lần làm nó thót tim, vãi đái. Nó làm sao biết hết mánh khóe của người buôn bán. Nó mua lầm cá ươn ướp đá hay urê gì đó nên săn chắc vô cùng, vừa về tới nhà, mở túi ra thì đã nghe tiếng o o của mấy con nhặng thính mũi đón chào. Nó hoảng quá không dám đổ đi, nó nấu nước thật sôi trụng cá, rửa sạch, bẻ đầu, bỏ ruột để ráo nước. Nó ngửi ngửi, hít hít chẳng nghe mùi gì. Ổn rồi. Lấy vài tép hành hương, vài tép tỏi băm nhuyễn, phi thơm lên rồi chiên mớ cá đó thật vàng. Nước mắm ớt chanh đường giã cho kẹo, thơm phức, cay xé màng tang…Cá chiên giòn ăn với rau sống, đưa cơm thì chẳng nồi niêu nào còn. Hôm đó cả nhà khen nó khéo tay. Từ miếng thịt cũ tới con cá ươn, từ trái mướp xơ tới quả bầu héo, thời gian giúp nó học được tất, nhưng cái giá phải trả hơi nhiều. Lần dò rồi nó cũng nấu được bát canh ngon, kho được tộ cá đã miệng, cái công việc tưởng chừng không dành cho lứa tuổi ngây thơ như nó.

    Làng không có điện. Nhà có tiền thì thắp đèn dầu lửa, loại đèn Hoa Kỳ có bóng có hình hoa chuông. Chỉ chùa hay đình hay đám hát bội mới dùng đèn măng xông. Đèn măng xông nhiều tiền nhưng hao dầu lắm, nó uống dầu như bợm uống rượu, loáng cái bay mất lít. Người ta phải bơm nén hơi cho dầu phun lên tiêm đèn làm bằng ăm-nhăng để thắp. Đèn cho ánh sáng trắng, kêu khè khè, khi hết hơi thì ánh sáng ngã màu vàng ệch, người ta lại bơm tiếp. Thằng Độ thích cái đèn ấy lắm, nó ao ước có được bằng cách trời cho như trong truyện thần tiên để học bài. Chả bù với mấy cái đèn hột vịt tối đen, tối mù của nhà nó. Chú Phước, chú Huệ - thấy người ta gọi vậy nó gọi vậy - thường tới chơi nhà nó. Kè kè bên mình các chú là cái radio ba băng hiệu Panasonic bọc da mới cáu cạnh. Mấy chú thường rù rì với cha nó về tin chiến sự gì đó, về cuộc biểu tình của sinh viên Phật tử đòi hỏi nhân quyền đâu đó…Mặc, nó chỉ thích nghe nhạc thôi. Sau vài tuần trà - trà thì nhà nó lúc nào chẳng có, trà được trồng kín vườn chùa, cha nó lại là thợ chính trong công đoạn sấy ướp nên chỉ cần một kí trà bột uống cũng muốn xỉu cả tháng, trà bột là thứ vứt đi bởi nó làm cho nước đục - cha nó theo chú Huệ lên chùa, chú Phước ở lại dạy nó học, khi cha nó về thì chú Phước mới về.

    Thằng Độ là đứa trẻ hoang nhất làng, nó nghĩ ra những trò chơi mà những đứa trẻ cùng trang lứa nó chưa hề nghĩ đến. Hái trái ngũ sắc loại trái còn xanh làm đạn. Súng là cái vỏ bút nguyên tử. Lấy tre vót cho vừa lọt ruột vỏ bút, chừa ra một khúc để cầm. Chiều dài thanh tre vừa đủ để không đẩy lọt trái ngũ sắc ra ngoài. Lắp đạn vào súng, đẩy lên đầu nòng, lấy tiếp một trái đạn nữa nhét vào đáy nòng rồi dùng thanh tre đẩy mạnh về phía trước, sức ép không khí nén lại giữa hai trái ngũ sắc làm cho trái ngũ sắc đầu tiên bay đi. Chỉ đơn thuần là thế nhưng thằng Độ nghĩ ra chiêu khác. Nó lấy trái ngũ sắc chín đã ngã màu đen cho vào trước, trái thứ hai còn xanh kè sát trái chín bởi trái chín không giữ được hơi. Xong, đẩy cả hai trái lên miệng súng, lắp thêm trái thứ ba vào rồi bắn. Màu ngũ sắc chín đen thùi lùi dính vào áo trắng khỏi giặt, trúng vào mắt có khi mù chứ chẳng giỡn. Đứa không biết thì chẳng bao giờ làm cho trái ngũ sắc chín bay xa được. Chỉ có mấy đứa thuộc phe của nó mới được nó bật mí cho cách làm này.

    Ở quê, trẻ con đứa nào cũng có cái ná thun kè kè bên mình, đó là thứ vũ khí cực kỳ lợi hại để bắn chim, bắn chuột. Sỏi hạt nhãn là thứ đạn dành cho ná thun mà không phải mua. Lũ trẻ rất ưa thích loại đạn đá này, luôn cất sẵn đâu đó trong góc nhà, đụng chuyện là xách ra thi thố. Thử nghĩ xem, một hòn đá tuy nhỏ nhưng được bắn đi với vận tốc hàng trăm kí lô mét giờ, bum vào đầu thì sẽ ra sao, nhưng thằng Độ vẫn chê kiểu ná này. Nó chế ra loại ná bắn đạn sắt từ dây thép gai uốn hình chữ U vô cùng lợi hại, chỉ cần ba hay bốn sợi dây thun loại cột đồ là mũi đinh sắt lao đi như viên đạn thật, khiếp lắm. May là kiểu ná này bắn không chính xác vì tầm trương của sợi thun quá ngắn, chứ không thì chim chóc trong làng nó chắc hẳn không còn. Nó phá đến nỗi chỉ nghĩ ra điều gì đó hay hay là nó thực hiện ngay mà không cần nghĩ xem hậu quả ra sao. Nhớ có lần tết, sân đình đầy ắp người chơi xuân, nào bầu cua cá cọp, xóc đĩa, bài chòi… Thời đó, pháo chuột pháo tống bày bán tràn lan. Pháo tết tha hồ đốt, nổ như đánh trận, mà thành trận thiệt. Nó lượm cái mo cau đựng bãi cứt bò ướt nhét viên pháo vào đó rồi đặt gần chỗ người ta vui chơi mà đốt. Thành tích nó nhận được cho cái sáng kiến vĩ đại kia là mấy bạt tai nảy lửa để đời, thêm mấy rổ chửi bới không ngớt từ trăm cái miệng toang hoác của nhiều bà quần lành, áo lặn. Nó căm lắm, về nhà mang cái ná bắn đinh sắt ấy ra núp bên đường chờ phục thù đứa tát tai nó. Nó kéo hết lực dây thun, viên đạn lao vút đi…cắm vào màng tang của đứa con gái đi bên cạnh kẻ thù của nó.  Con bé la thất thanh gục xuống, máu me đầy mặt. Nó trốn biệt.

    Đúng ra, nếu không có gì quá quan trọng thì người ta sẽ không mắng mỏ nhau trong ngày đầu năm. Đằng này gia đình con bé kéo cả họ hàng tới nhà nó ăn vạ, thế mới khốn. Cha nó xin lỗi họ hết lời, không ổn, ông bỏ nó vào bao bố rồi quăng xuống mương nước trước nhà. Mẹ nó la ơi ới sợ nó chết ngộp. Mương nước không sâu, nó ngọ ngoạy theo thế lom khom trong cái bao bố. Họ hàng người ăn vạ sợ quá cút biến, trước khi cút cũng kịp kéo nó quẳng lên bờ. Từ đó, nó theo chú Huệ ngủ luôn trên chùa, khi thèm cá thịt thì về lục cơm ăn, nó thành người xuất gia không chuyên của làng. Cũng từ đây nó biết đàn, biết hát, biết nhân quả luân hồi. Nó thuộc nhiều nhạc đạo, nhạc đời.

    Cái làng này tuy xấu xí nhưng sinh ra những đứa con gái, con trai coi rất được, da dẻ hồng hào, nhất là con gái đôi má cứ như hai trái đào tiên rừng rựng phấn hồng, môi đỏ như ngậm giấy điều, mốt tóc thề mười đứa như chục, ngực áo bà ba căng đến khó thở người nhìn. Thằng Độ không phải là mỹ nam tử, mỹ nam tiết gì đâu nhưng nếu không tính áo quần xuề xòa thì nó cũng chẳng thua kém ai. Mỗi khi có dịp thi thố văn nghệ, văn gừng nào đó giữa các làng với nhau thì cánh nam thanh, nữ tú này như được lộc. Chúng hăng say tập ca, tập múa, tập kịch đêm ngày để giựt giải khoe đời. Thằng Độ là cây đàn guitar chủ lực của làng, vây quanh nó là các kiều nữ thơm như bông lý, bông ngâu. Một khi nó thích ai đó thì tập cho đứa đó bằng được. Được…thì múa được, kịch được chứ hát thì phải có giọng trời cho, thằng Độ biết nhưng cứ tập bởi nó không cưỡng nổi cái ước ao nào đó trong lòng. Thây kệ, đến ngày tổng dợt hẳn hay, đứa nào dở thì bị đào thải còn nó chẳng có tội tình gì, miễn là người ta biết nó nhiệt tình với người ta là được rồi. Cho dù cuối cùng không được lên cấp quận thi thố thì cũng được trình diễn ở làng rồi, liên làng rồi, còn gì hơn cho những con người quanh năm chỉ biết lao động đầu tắt, mặt tối nơi bùn lầy. Con Nữ, con Hân và nhiều đứa khác nữa sướng rơn. Hai ả này đẹp nức đất, mỗi người một vẻ, vẻ nào cũng làm cho người ta đê mê quá hớp. Hằng đêm con Nữ chờ nó đưa về, như đã xí phần. Cứ thế, cho đến một ngày con Nữ ôm quàng lưng nó, nó biết phải làm gì. Đó là lần đầu tiên trong đời nó hôn một đứa con gái. Cái hôn đầu tiên ấy bao giờ cũng êm ái nồng nàn suốt cả đời người, cái hôn mà đến bây giờ nó vẫn còn nghe ngây ngất. Hôn má, hôn môi hôn thật lâu, lâu đến nổi nó muốn tắt thở. Con Nữ cùng tuổi nó, chắc đã yêu rồi, nó nghĩ vậy và nó phải liều lĩnh chứ không thể nhút nhát được, bản năng đàn ông khuyến khích nó tiến lên. Những đêm sau đó, sau đó nó vẫn đưa con Nữ về, chọn nơi nào đó tối tối, khuất khuất hai đứa lại diễn trò thương nhớ. Từ hôn má, hôn môi, cái hôn dạy nó biết hôn cái cổ thơm lừng mùi thiên thần của con Nữ, biết hôn đôi vai trần tròn lẳng mằn mặn vị đê mê của đất trời. Nó hôn xuống nữa, xuống nữa, xuống nữa…cho tới khi nghe tiếng con Nữ rên nhè nhẹ, mười ngón tay con Nữ bấu vào lưng nó đau điếng nó mới biết mình đã làm gì.

    - Sao em không phản ứng.

    - Em để bầu luôn, ai biểu hôm qua anh vuốt tóc con Hân em thấy.

    - Thì cũng phải an ủi, động viên người ta chớ em.

    - Em không biết, có bầu là em nói cho cha em hay.

    - Ê đừng giỡn à nha bồ, tui trốn mất ráng chịu.

    - Thách anh đó…

    Nó  không trốn mà cũng như trốn thiệt.

    Tháng chín năm đó cha nó bị lính bắn gãy tay, rách da bụng, chú Phước chết bên hàng rào nhà ga với mớ truyền đơn và cây đèn bão hết dầu. Chú Huệ dìu cha nó về nhà rịt vết thương bằng bột ngọt và sợi thuốc lá. Chú đốt hết các giấy tờ gì đó rồi đổ tro vào hố phân lợn lấy rơm phủ lên. Cha nó bị tù ba năm về tội gì không biết, chú Huệ ra bưng. Gia đình con Nữ cắt dây chuông với nó. Con Nữ cũng khó tìm gặp được nó, nó có tự ái của mình. Hàng trăm lá thư con Nữ viết cho nó gửi qua chị nó, nó vẫn đọc nhưng tuyệt đối không trả lời.  

    Nó vào đời bằng cái lá gan của mình. Mẹ nó tất bật làm lụng cũng không nuôi nổi cha nó tù đày và hai đứa em gái nó còn nhỏ. Chị nó vào làm sở Mỹ, chắc là làm tạp vụ lặt vặt gì đó nên chả ai quan tâm tới lý lịch, lý lẹo làm gì. Hàng tháng chị cho nó mấy đồng đô la đỏ thẳng tắp, loại tiền dành riêng cho quân đội Mỹ tiêu dùng ở Đông Dương, và mấy bao thuốc lá có hình con Lạc đà. Nhà nó có máy thu băng đầu tiên của xóm, loại máy mà lính Mỹ không ưa thì vứt xọt rác. Máy chạy bằng pin PRC 25 mà nó đổi được của cánh lính địa phương quân. Đó là loại pin quân dụng dùng cho máy truyền tin. Mỗi hộp có mười sáu cục pin nhỏ bên trong được lắp nối tiếp với nhau công suất hăm bốn vôn, máy hát nhà nó chỉ cần bốn cục là vận hành tốt. Chiều chiều, tối tối khi đi làm về nó mở vài tiếng đồng hồ tân nhạc thì dùng được cả tháng.

    Nó  chặt tre, đốn củi, bẻ măng trong suốt ba tháng hè, ai cần gì cũng làm, tiền đưa cho mẹ. Ở cái xó xỉnh này kiếm được đồng tiền thật khó, may mà rừng còn nhiều và chất đốt duy nhất cho mọi gia đình là than, củi, còn rơm rạ chẳng mấy ai dùng. Rừng nuôi người bằng sự điêu tàn dần mòn của nó, rừng giết người bằng sự trả thù hung hãn của nó : bão lụt, khô hạn, thiên tai. Hẳn là chưa đến lúc đó, ơn trời vẫn hai mùa mưa nắng, mùa mưa là mùa măng rộ cũng là mùa nghỉ hè. Nó tận dụng chín mươi ngày rong chơi với mồ hôi, ve vắt, rắn rít để kiếm đồng tiền nhỏ giọt của rừng. Mười bảy tuổi vào đời bằng cái lưỡi hái sắc bén, một gô cơm có miếng khô mặn chát và cái bao tải, vốn liếng chỉ thế. đói khi nào ăn khi đó, khát đâu uống đó, ngàn sông vạn suối mà.

    Ngày  đầu tiên theo đoàn bẻ măng rừng trong tâm nó chủ yếu học hỏi là chính, kiếm được hay không kiếm được chẳng thành vấn đề, mẹ nó bảo vậy. Nơi nó nhập sơn đầu tiên là cánh rừng tre Là A bạt ngàn dọc đèo Ngoạn Mục, loại tre mà người dân tộc Rắk Lai dùng làm nhà và đan lát. Đó là loại tre có làn da xanh màu ngọc, có phấn trăng trắng bao bọc khi còn non, cây to khoẻ, cao vòi vọi, đường kính thân cây có khi tới mười lăm, mười bảy cen-ti-mét là chuyện bình thường. Cây tre này cũng là nguồn cung cấp nguyên vật liệu để làm ra nhiều sản phẩm cần cho đời sống con người ở nhiều vùng lân cận. Quan trọng nhất là cái nhà, người ta dùng tre làm cột kèo, đập dập chúng ra làm phên, làm giường, làm chõng, chẻ nhỏ chúng ra làm đũa, làm tăm, làm lạt để đan lát, làm chông tên, mũi lao để săn thú, bắn chim…Nhiều người khéo tay đã gọt giũa tạo thành những vật dụng sinh hoạt gia đình rất tiện ích và đẹp mắt như đũa cả, muỗng múc canh, ống điếu, làm đàn, làm sáo…Nếu có dịp đi vào các buôn làng của đồng bào dân tộc ít người, qua nhiều con sông, con suối chúng ta sẽ gặp đây đó những cái xe nước quay rỉ rả suốt ngày đưa nước lên nương. Những cái máng nước, những đường ống dẫn nước ấy người ta đều làm bằng tre - một công trình thuỷ lợi rất hiệu quả, gọn nhẹ vào bậc nhất hành tinh - mà tự ngàn xưa đến nay vẫn còn tiện ích.

    Cây tre Là A cho măng to, măng có bao màu xanh đọt chuối nõn, có lớp phấn trắng bao quanh, măng không lông nên việc thu hái rất dễ và sạch sẽ. Rừng tre Là A ngày ấy mọc san sát hai bên đường quốc lộ, ngồi trên xe chạy ngang cũng có thể thấy được măng mọc tua tủa khắp nơi. Người ta thường thu hái loại măng cao cỡ mười lăm đến bốn mươi cen-ti-mét, loại măng này kinh tế nhất, trọng lượng tịnh nhiều nhất. Măng tre Là A dễ lột vỏ, dùng liềm phát một nhát ngang đỉnh đầu rồi róc một đường mỏng dọc thân dùng tay bóc lớp vỏ ấy ra gọn ơ, sạch bóng. Măng Là A khi luộc chín có màu hồng hồng nơi đốt măng, ăn ngọt lựng, thơm mùi đặc trưng của đất, của rừng, của thiên nhiên kỳ vĩ…Gỏi măng Là A là món ăn dân dã nhưng ngon vào loại dzách lầu. Măng luộc chín lấy gai bưởi tướt măng ra thành sợi nhỏ, trộn với rau mùi, rau răm xắt nhỏ và đậu phộng rang giã dập…xúc bánh tráng, chấm mắm chua ngọt…Món này tuyệt hảo với mấy chị em đang bầu, thòm thèm cả đến chín tháng mười ngày chứ chẳng ít...Có người bảo ăn măng mỏi người, chắc cũng đúng với ai đó hôi cơm tanh cá, còn nhà nó không ăn măng thì ăn gì. Măng xắt vuông con cờ kho giò heo, kho thịt vịt thì nó chỉ dám mơ thôi, còn măng xào tỏi, kho cá hấp hay bóp gỏi với lạc thì nhà nó là cơm bữa.

    Mùa măng nở rộ vào khoảng tháng sáu, tháng bảy âm lịch. Chợ nào cũng vàng chóe những măng là măng, giá cả rẻ mạt, người ta phơi khô để dành. Măng khô nấu với thịt rừng là bài thuốc trường sinh của ông Bành Tổ, bây giờ thịt rừng khan hiếm, thịt vịt có lẽ là phương án thay thế tốt nhất. Vịt nơi nào cũng có, măng nấu vịt ăn với bún, với cơm nguội đều ngon, hợp khẩu vị nhiều người.

    - Mày giành hết rừng luôn đi.

    - Nhà mày trồng hả.

    - Mày chừa cho tao với chớ, trước đây ai bày cho mày - Con Điểm vừa xỉ vả, vừa van nài thằng Độ.

    - Tao biết rồi, nhưng tại mày ục ịch như rùa, tao không bẻ nhanh thì tụi nó bẻ hết, tao bẻ cho tao xong, tao bẻ cho mày, mày dạt qua phía bên kia đi.

    Con Điểm tiếc lắm nhưng biết làm sao khác được, nó đành để luồng măng nhiều quá hớp cho thằng Độ. Thằng Độ thư thả lại không tả xung hữu đột, tay bẻ chân đạp như ít phút trước nữa. Nó dí mũi hái sâu vào đất bứng từng gốc măng to tổ bổ, rịn nước. Người ta thích mua loại măng này nhất, măng nanh heo mà, mua về không bỏ tí gì, non từ đầu tới đuôi. Chưa hết luồng măng trời cho ấy bao tải nó đã đầy nhóc, những mụt măng trắng hếu sắp lớp ngay ngắn trồi lên miệng bao tải thấy mà thèm. Nó bẻ một ít lá dại phủ lên rồi may miệng bao lại, chặt một lóng tre dài, tước ra làm quai đeo. Khi mọi việc đâu vào đó, nó bẻ măng cho con Điểm thật, bẻ đâu vất đó. Nó bảo con bé : “ Mày đi nhặt măng lại đây tao róc cho mau “, gọi là mày tao nhưng con Điểm lớn hơn nó hai, ba tuổi gì đó. Con Điểm mừng quýnh, líu quíu chạy đi, chạy lại cúi cúi, khom khom để chường ra mảng mông trắng hếu chỗ miếng vá bị gai tre cào rách. 

    Ngày cha nó ra tù cũng là ngày nó đỗ tú  tài đôi, với bằng cấp này nó cầm chắc trong tay cái lon thiếu úy nếu gia nhập quân ngũ. Nó không làm vậy, nó cũng không theo bước chân cha nó, nó xin vào làm việc tại khu Kiều lộ II Nam trung phần. Rày đây mai đó trên những con đường không an ninh của sáu tỉnh Tuyên Đức, Lâm Đồng, Phan Rang, Phan Thiết, Dak Lak, Khánh Hòa. Nó và đồng đội nó phải đến những nơi gian khổ vào loại nhất nước nơi mà cầu gãy vì bom mìn, núi lở phủ lấp đường sá vì mưa bão…Cuộc sống nó gắn liền với toa xe chuyên dụng của ngành, mùng mền chiếu gối nhàu nhét, xoong nồi lĩnh kĩnh, vài ba bó rau, vài ba lọ mắm, muối, mấy can nước sạch, thế là đủ. Bọn nó giong ruổi khắp nơi chẳng bao giờ được ngơi  nghỉ.

    Chiến tranh giúp cho người ta có khối việc để làm.

    Cuối năm bảy hai chiến trường rất khốc liệt, cánh lính gọi mùa hè đỏ lửa mà. Công việc chính của tụi nó là hàn gắn vết thương chiến tranh, nghe có vẻ to tát quá, nhưng thật ra nhiệm vụ chính để tụi nó hoàn thành là : Bom mìn có thể giật tung một cây cầu hôm qua, hôm nay phải có cây cầu khác thay thế trừ những cây cầu lớn bắc qua sông lớn thì đã có quân đội canh phòng. Đường sập, núi lở, đắp mô…thì san ủi.

    Cầu Xéo là cây cầu bê tông cốt thép có từ thời Pháp thuộc nằm trên đèo Hòn Bồ thuộc quốc lộ hăm mốt là một ví dụ. Người ta đặt tên là cầu Xéo rất đúng với bản chất của nó bởi hình dạng nó xéo xẹo, không thể vuông vức như trăm ngàn cây cầu khác, ôm theo địa hình núi non vòng vo, đèo dốc. Cầu không dài khoảng hơn chục mét, phía dưới là đường xe lửa. Đây là tuyến đường độc đạo mà cũng gần nhất để quân đội Mỹ tiếp vận cho đài ra đa Cầu Đất, ra đa Núi Bà và sân bay quân sự Cam Ly Đà Lạt. Cầu Xéo cách cầu Treo không đầy hai cây số nơi có binh lính địa phương canh phòng nhưng nó đã bay mất bởi  tiếng mìn của Việt Cộng trong một đêm không trăng. Sáng hôm sau đoàn thiết kế khu có mặt kịp thời, trước mắt tập trung nhân lực, máy móc dọn đường cho xe lửa thông thương. Một cây cầu sắt tiền chế cũng cùng lúc được khẩn trương lắp ráp. Người ta điều một chiếc D7 của quận Đơn Dương phía dưới đèo lên hổ trợ việc thông cầu, như sợ chiếc D7 bánh xích này quá nhỏ, người ta tăng cường thêm một cần cẩu hai mươi tấn nữa. Xế chiều thông đường ngon ơ. Đoàn công voa của quân đội Mỹ có hàng trăm chiếc xếp rồng rắn dưới chân đèo hoan hỷ trở mình, chiếc xe quân sự mở đường thấm thoát đã tới chỗ cây cầu mới. Lời chào chiến thắng bằng dấu hiệu hai ngón tay trỏ và giữa xếp thành hình chữ V – Victoria Cross – là phần thưởng quân sự cao nhất về lòng dũng cảm của lính Mỹ dành cho bọn nó. Hàng chục thùng beer Hem, hàng chục hộp B3 thơm phức, lính Mỹ tặng thưởng cho bọn nó đủ để say nghiêng ngả cả thị trấn nhỏ bé dưới chân đèo đêm đó.

    Một  đêm thật ngọt ngào.

    Khó  nhọc vậy, nguy hiểm là vậy nên đồng lương của nó ngang ngang mức lương đại úy bốn, năm con. Con càng đông phụ cấp càng nhiều, không khuyến khích thì cánh vợ lính, vợ quan lúc nào cũng sẵn sàng có bầu.” Ba năm du kích cận kề, không bằng anh lính nó về một đêm “ là không láo toét lắm đâu.

    Dọc  đường chiến sự gian khổ, nguy nan đã đành trong vùng sâu, vùng xa cái khó khăn, vất vả càng nhân lên gấp nhiều lần. Như một quy luật bất thành văn nơi thôn xóm nào có vẻ thanh bình, yên ả bao nhiêu thì càng dễ mất mạng bấy nhiêu. Đó là nơi các “ ổng “ thường xuyên lui tới ăn hàng, mấy đồn bốt lính nơi đó có mà cũng như không, có khi ông trung đội trưởng nào đó của quân đội quốc gia lại là Việt Cộng. Đêm, lính kích đầu làng thì các “ ổng “ về cuối làng, lính kích giữa làng thì các “ ổng “ về hai đầu làng, lính kích đầu đêm thì các “ ổng “ về cuối sáng, cứ như trò ảo thuật. Tướng giỏi, tướng dở gì của của quốc gia cũng phải bứt tóc, vò đầu. “ Ổng “ ở đây là anh hai cẳng, là con người, là mấy ông nội trong rừng, là Việt Cộng chứ ai. Mở mắt ra là thấy cờ Giải phóng tung tăng đâu đó, nhắm mắt lại nghe tiếng súng gầm gào đâu đó, không bị tâm thần phân liệt là phước ba đời. Tuy là ngành cầu đường dân sự nhưng trong mắt các ổng là cái gai, đều là bọn tay sai của Mỹ Ngụy cả, kẻ phá bỏ, người xây dựng nhìn nhau đương nhiên là chẳng có cảm tình gì. Ai cũng biết cánh đồng Nam bộ là to nhất nước nhưng miền Nam vẫn phải ăn gạo Thái, gạo Mỹ vì chiến tranh, vì đạn bom, vì gom dân vào ấp chiến lược hay vì làm cho lắm tắm cũng ở truồng !. Nghĩ tới Quảng Trị, Khe Sanh chẳng ai muốn làm ăn gì, sống chết cứ như lật, úp bàn tay. Nó cũng thế, trông tới tháng lãnh lương là chính trừ tiền ăn, tiền thuốc lá còn bao nhiêu nó đem về đưa cho mẹ nó. Hồi đó xì ke, ma túy buôn bán tràn lan, phim ảnh sex, playboy bày bán công khai tại các quầy báo mà có ai thèm mua đâu. Có chăng là cánh lính nay sống, mai chết tìm cảm giác trong các chất trắng trắng, hồng hồng của nàng tiên trắng, tiên nâu, của đôi vú căng tròn trên ngực bầy gái điếm. Thư sinh như nó tuy đã vào đời nhưng tuổi còn non choẹt thế kia, vẫn phải nằm dài ra cho cha đánh đòn khi lầm lỗi, vẫn phải vòng tay cúi đầu khi gặp thầy, cô giáo cũ thì những chuyện kia quả quá xa vời. Nó chẳng ham trai gái, rượu chè thứ mà cánh dân quê nghèo nàn như nó cho là xa xỉ. Mối tình đầu tan vỡ đủ làm đau người ta một đời, nhìn mái nhà tranh tre nứa lá của gia đình nó liệu có cô gái nào dám xả thân cho tình yêu. Với nó, sự quyến rũ của đàn bà chỉ thắng thế khi bản thân nó đã có sự nghiệp vững vàng.

    Núi Phượng Hoàng là căn cứ khét tiếng của Việt Cộng miệt rừng cực nam Tây nguyên có thể không bằng Bàu Trắng, Bác Ái của Ninh Thuận, Bình Thuận nhưng núi Phượng Hoàng nằm sát quốc lộ hăm hai án ngữ cửa vào thành phố Buôn Ma Thuột, cao nguyên Dak Lak rộng lớn và trù phú. Núi Phượng Hoàng cao sừng sững, ôm trong lòng nó là đèo Ma Đrăk hay còn gọi là đèo Khánh Dương, nơi gieo rắc không biết bao nhiêu kinh hoàng cho Mỹ ngụy. Hai bên đường là rừng xanh bạt ngàn, có những cây cổ thụ to đến năm, bảy người ôm không hết, bom đạn khó bề lay chuyển. Chính vì vậy mà máy bay Mỹ đã rải thuốc khai quang dọc theo con đèo chiến lược này. Phía dưới chân núi là quân trường Dục Mỹ nơi huấn luyện bộ binh của Việt Nam Cộng hòa, mấy ai nghĩ nơi này mất an ninh khi chỉ cách quân trường có vài ba cây số.

    Một ngày, đoàn nó đến chân đèo Phượng Hoàng thì trời đã hửng sáng, trên đầu trực thăng bay lượn ầm ầm. Giờ này còn vắng lắm chưa có chiếc xe nào dám xuống đèo, một tốp lính hớt ha, hớt hải súng đạn đầy người chặn trước đầu xe bọn nó.

    - Tất cả xuống xe – Ai đó ra lịnh.

    - Chuyển thương binh về ngay quân trường, gã truyền tin với máy PRC 25 trên lưng, súng colt cầm tay la í ới.

    - Sao không cho hạ trực thăng xuống bốc thương binh phải hay hơn không ? - Thằng Độ chân thành.

    - Đù má mày biết gì, ông lia cho phát đạn.

    Nói là làm, gã chỉ huy máu lạnh hướng nòng súng lục về phía thằng Độ bóp cò, diễn biến nhanh quá chẳng ai kịp can ngăn. Máu ướt đẫm cánh tay phải của nó, người tài xế lúc này mới hoàn hồn, quay đầu xe cái rẹt. Thằng Độ được băng bó bằng băng cá nhân của một tên lính nào đó, viên đạn xuyên qua cánh tay nó chỉ hơi tê tê thôi chứ không đau chút nào. Lần đầu tiên nó biết là đạn qua người không đau, cái chết sẽ êm ái biết bao nếu viên đạn đi vào chỗ khác. Nó đủ nghị lực để nhìn những chuyện xấu xí đã qua mà không rơi nước mắt và thừa can đảm đón nhận những gì sẽ tới dù phải đau thương. Anh em trong đoàn dìu nó lên xe nằm chung với cánh lính bị thương. Xe chật ních người và súng đạn, ai đó lo xa “ Tụi mày khóa chốt an toàn lại đi, quen thói giang hồ với cả anh em là không ổn “, rồi hắn nhích lại chỗ bọn thằng Độ phân trần : “ Bọn nó quen tay sử dụng đồ giả với mấy đám đánh bạc rồi, bung trái lựu đạn nhưng không có kíp, hay chĩa súng vào ai đó bóp cò với viên đạn không hạt nổ. Đã có thằng ham vơ tiền tới mức quên phén trái lựu đạn nào là thật, trái nào là giả và nó cũng banh xác với mấy con bạc khi bung cần. Chơi dao có ngày đứt tay mà, bắn người thì phải tù “. Thằng Độ biết hắn ám chỉ ai, lão chỉ huy nhìn thằng Độ ái ngại : “ Thật tình tui không cố ý, nhưng thấy anh em bị thương nặng máu ra nhiều quá tui nóng mặt, chú em tha thứ cho tui, tui còn mẹ già…” Ai chẳng có mẹ nhưng mẹ trong trường hợp này sao nghe chua xót quá, người ta chỉ nghĩ tới mẹ người ta sao người ta không nghĩ tới mẹ nó. Nếu ai cũng nghĩ tới tất cả những người mẹ đang gian khó, tảo tần trên cõi đời này có lẽ người ta sẽ hành động lương thiện hơn nhiều.

    Tới quân trường Dục Mỹ, tốp lính được chuyển lên trực thăng còn thằng Độ vẫn nằm xe về bệnh viện Nha Trang. Cuộc đời nó sang trang từ đó. Hai ngày sau hồ sơ pháp y của quân cảnh tư pháp địa phương xác nhận là do súng cướp cò, biên bản có trưởng đoàn của nó xác nhận một bên, viện phí tự trang trải chờ tòa án quân sự giải quyết. Nó cắn răng nén căm hờn nhưng trong lòng nó đã đẫm nước mắt, lúc này nó nghĩ và thương cha nó vô cùng. Cơ quan tạm ứng cho nó ba tháng lương để lo liệu, từ đây nó phải một thân, một mình quyết định tất cả, nó bảo anh em trong đoàn không cho gia đình nó biết chuyện này. May mà viên đạn chỉ nắn gân ba ngón tay phía áp út của nó. Mười lăm ngày sau nó ra viện với mảnh giấy trình diện tại quân lao Nha Trang. Các giấy tờ tùy thân như thẻ căn cước, lược giải cá nhân bị tạm giữ, nó chẳng biết cơ quan nào giữ, nó chỉ biết là nó chẳng thể làm gì khác ngoài sự phục tùng mệnh lệnh của mảnh giấy uy quyền kia. Không có lược giải cá nhân hay giấy tạm hoãn dịch cơ quan nó cũng từ chối cho nó tiếp tục làm việc. Lý do rất đơn giản mà tòa án quân sự Nha Trang đưa ra là “ Nghi vấn đương sự nhờ người hủy hoại thân thể để khỏi nhập ngũ “, thật đáng xấu hổ cho cái chính quyền có Tổng thống, có Thủ tướng, có quốc hội hẳn hoi. Nó nguyền rủa bọn đầu trâu, mặt ngựa của cả bộ máy chuyên chế ấy.

    Nó  ở khu B trong quân lao Nha Trang với những người lính tẩy chay cuộc chiến bằng cách hủy hoại thân thể mình. Bằng những trái mìn con cóc, những kíp nổ của lựu đạn M26 ngốn mất vài ba ngón chân, hay viên đạn M16 tiện đứt bàn tay…Có người vết thương không đáng gì nhưng các quân y viện không ủng hộ loại hình phản chiến này nên để cho nhiễm trùng phải tháo khớp thành ra tàn phế. Khu B có bốn sam, mỗi sam chứa hai chục giường. Tuy mang tiếng ở tù nhưng cơm ăn ngày ba bữa, tắm rửa tuần một lần, cũng sướng chán. Sam bằng tôn sóng có dạng hình ống cắt dọc, úp xuống đất, hai đầu có cửa ra vào, có hàng rào kẽm gai bao bọc chung quanh. Buổi trưa nóng như lửa rang, giấc khuya lạnh như nước đá. Hôm nó vừa nhập lao người ta bắt nó kê khai tất cả những gì nó có rồi giao nộp cho họ, họ vào sổ, bắt nó ký một bên. Sau đó người lính già dắt nó về sam, gã trưởng sam ra ký nhận nó. Nó cúi đầu chào gã và người lính già lễ phép, nó vốn quen vậy mà, có lẽ nhờ thế mà nó chiếm được cảm tình của gã trưởng sam sau đó chăng.

    - Mày không biết chào ai hả - một ánh mắt quét ngang người nó.

    - Em kính chào mấy anh – nó xo ro như gà mở cửa mả.

    - Thế thôi ?

    - Dạ em không biết phải làm sao nữa ạ

    - Hăm bốn giờ kỷ luật mày chưa nghe ai nói thiệt sao.

    - Dạ chưa.

    - Ngồi xếp bằng vô cái góc đó đó, không được hé môi nếu không sẽ bị ăn đòn.

    - Dạ.

    Nó  ngồi xuống xếp bằng theo kiểu kiết già mà chú Huệ ngày trước đã bày cho nó, niệm Nam mô cứu khổ cứu nạn Quan Thế Âm Bồ tát một trăm lẻ tám lần, tai sẽ qua, nạn sẽ khỏi. Buổi trưa nó chẳng được ăn gì, chắc tiêu chuẩn của nó chưa tới tay nhà bếp. Nó đành ngồi im bất động, nó chấp hành mệnh lệnh của cái quái quỷ gì ở đây như thế, thứ mệnh lệnh mà sau này nó biết ở các sam khác khắc nghiệt hơn nhiều. Bằng những trận đòn mềm xương bởi nghiệp chướng tù viên đã gieo ngoài đời, là những thương tật dễ dàng cướp đi mạng sống, là sự trả thù khủng khiếp bằng cách đóng đóng đũa vào tai, nhỏ mủ đu đủ vào mắt…Đó là địa ngục trần gian của những khu E, khu F, khu xì ke ma túy, giết chồng cướp vợ, cướp của đốt nhà của những thằng lính không còn tính người. Hai mươi bốn giờ kỷ luật của bọn hung ác này là hình phạt đứng thẳng người, úp mặt vào tường. Một chiếc giường sắt kẹp cứng đôi chân được hai người đạp dí chặt chúng như dán vô vách. Một “ đội thi hành án “ tha hồ đánh đá mà không cần hỏi han gì, tất cả tù viên trong sam ai cũng phải đánh đập khi tới lượt mình. Nếu lỡ gây ra án mạng thì tất cả tù nhân trong sam cùng hiên ngang nhận tội. “Giết một thằng quá ác ôn chẳng phải đỡ tốn mấy viên đạn cho quốc gia đó sao, không ai tử hình cả đám đâu mà lo “, gã sam trưởng bảo thế. Quá trưa mồ hôi rịn ra khắp thân thể thằng Độ, lần đầu tiên nó thấy cái đói tệ hại như thế nào, khuôn mặt thư sinh hồng hào gốc xứ lạnh của nó bỗng nhiên tái mét, gã sam trưởng thấy tội nghiệp quẳng cho nó khúc bánh mì cứng như đá :

    - Ăn đi nhóc.

    - Dạ, em cảm ơn sếp.

    - Mày làm gì bên ngoài.

    - Dạ công nhân cầu đường.

    Gã  trợn tròn con mắt hí :

    - Cầu đường thì lấy súng đạn đâu ra mà hủy hoại thân thể.

    - Dạ, lính bắn – nó trả lời nhát gừng.

    - Mẹ kiếp, bắn con người ta rồi đưa vô đây, khốn nạn thật.

    Rồi gã ban ân : Tha cho mày đó, đứng lên đi.

    Nó  dạ lí nhí trong cổ họng, nó nghĩ chắc những lời cầu khẩn của nó đã tới tai đức Phật.

    Tuần lao động bốn ngày, cánh tay còn đeo toòng teng dưới cổ nên người ta cho nó chỉ nhổ cỏ trong vườn rau thôi. Cái vườn rau sạch hơn sân nhà nó, chẳng có cọng cỏ tí ti nào, từ sáng tới trưa nó chẳng biết phải làm gì. Vườn rau này đâu có nhỏ, rau cải thì xanh um, đất trồng thì bóng loáng giống như tranh cổ tích, nói chẳng ai tin. Hẳn là ngày nào cũng có người nhổ cỏ, người đông mà cỏ ít, tréo cẳng ngỗng thật. Chẳng lẽ gã sam trưởng không có mắt, gã biết tỏng nhưng vẫn cắt tay chân thân tín của gã làm cái công việc nhàn hạ nhất trần gian này. Nó thầm cảm ơn gã lắm lắm, gã cho nó thêm một ân huệ bất ngờ nữa. Ngày hôm sau cũng thế, nó ái ngại nhìn gã sam trưởng, chừng như gã hiểu, hất đầu về phía nó dõng dạc :

    - Phân công đâu chấp hành đó, đứa nào lén phén ăn đòn.

    Và  nó lại đi lang thang dưới cái nắng khủng khiếp, ngột ngạt của quân lao. Lê la trò chuyện với một ai đó, hoặc rít vài hơi thuốc Ruby quân tiếp vụ thơm phức của ai đó mời.

    Một ngày mẹ nó đến thăm nó, thấy nó hốc hác đen nhỉn mẹ nó khóc thút thít, nó an ủi mẹ : “ Không sao đâu mà “. Gã sam trưởng cũng đến bên rào kẽm gai động viên mẹ nó : “ Thím tính đi, ở đây cơm ăn ngày ba bữa tuy chẳng ra gì nhưng không phải chết trận, mấy ngón tay co quắp thế mà hên, miễn dịch là cái chắc, thím có tiền là xong tất “. Nói rồi gã nhìn mẹ nó như nghĩ ra điều gì, gã chép miệng thở dài thườn thượt. Nhìn lại người đàn bà xa lạ một lần nữa với đôi bàn tay chai sần, khuôn mặt khắc khổ, bộ bà ba đen đã bạc hếu trên người, gã quay mặt đi.

    - Nhà có gì đâu con, thím chỉ gom được ít quả trứng gà cho em nó thôi.

    - Có con, chẳng thiếu gì đâu thím.

    Hình như mẹ nó mừng.

    Nó  quay qua thầm thĩ với gã sam trưởng điều gì đó, gã gật đầu. Gã bụm tay làm loa gọi khu trưởng ở sam bên kia đến bàn bạc.

    Khu trưởng đồng ý mở rào cho mẹ con nó gặp nhau, vừa dẫn mẹ con nó lên văn phòng vừa chỉ vẽ mẹ nó : “ Nhớ nói đúng tên họ trong căn cước, chỗ ở, năm sinh của nó nếu người ta yêu cầu thím “, “ Dạ, tôi nhớ “, mẹ nó cũng lễ phép như nó. Nó yêu cầu người ta trả lại mấy tháng lương của nó cho mẹ nó, chỉ để lại hai trăm đồng có hình vua Quang Trung phòng khi được thả có tiền về xe. Yêu cầu của nó là chính đáng người ta vui vẻ chấp nhận.

    Ba tháng lương cộng với phụ cấp các thứ của nó tương đương hai lượng vàng, một số tiền mà mẹ nó chưa bao giờ cầm được trong tay, mẹ nó run run :

    - Con giữ lại ít để tiêu.

    - Trong này mua được gì hả mẹ, hổm rày con chỉ xài tiền của anh em trong cơ quan cho thôi, lương còn nguyên mẹ đem về sắm ít đồ cho mấy em mừng, vài bữa con về.

    - Vài bữa là chừng nào hở con.

    - Không tới già đâu mà.

    Nó  cười.

    Mẹ  nó cũng cười.

    Nó  quyết về là về được, cho dù người ta bắt nó cầm súng nó cũng về, có khi mang theo cả súng của người ta hổng chừng. Nó chia cục tiền ra làm đôi bỏ vào hai túi hai bên áo trong của mẹ nó, ghim lại. Ít bạc lẻ để ngoài đủ lộ phí cho mẹ đi đường. Nó nói mẹ nó ở quê chất phác lắm, mấy khi cầm được những tờ bạc “ lớn “ thế này, giữa chốn đông người đem ra tính tới tính lui lỡ ai đó cuỗm mất thì nguy. Chia tay mẹ nó gần cổng ra vào quân lao, mẹ nó giúi vào tay gã khu trưởng nhúm bạc, gã từ chối thẳng thừng. Nó cầm tay mẹ nó nói thay :“ Cảm ơn khu trưởng “, rồi giục mẹ : “ Mẹ về đi không khéo tới nhà khuya mất, ba không dỗ được em đâu “. “ Ừ mẹ về “. Nó biết thế nào mẹ nó cũng bịn rịn, quay tới quay lui, nó níu tay gã khu trưởng bước nhanh về phía sam tù.  

    Tòa  án quân sự được quân khu II thành lập chớp nhoáng cốt đưa lính còn xài được ra chiến trường, người ta lấy cái búa gỗ gõ vào cùi chỏ cánh tay bị thương của nó nhưng chẳng thấy nhúc nhích gì. Mấy ngón tay nó co quắp không thể bóp cò súng được, người ta cho nó hoãn địch sáu tháng. Cảm ơn Chúa, đâu ai biết nhiều đêm trước nó bó băng chặt cứng mấy đầu ngón tay quắp lại. Máu đọng sưng húp, da dẻ co rúm dị thường do vùi cả bàn tay trong xô nước lạnh suốt đêm, gã sam trưởng bày cho nó cách đó. Lão bác sĩ quân y hình như nửa tin, nửa ngờ. Lật qua, lật lại bàn tay nó cả chục bận rồi cũng ký vào biên bản. Có thể lão tin vì nó không giống mọi người dùng tiền chạy chọt. Có thể lão ngờ vì biết đâu thằng này nghèo rớt mồng tơi.

    Không có cuộc chia tay nào giữa các bạn tù, thằng lên đường nhập ngũ đã có xe quân trường chực sẵn, đứa về dân nhận lại đồ đạc của mình rồi lủi thủi bước qua cổng phụ. Họ không dám vẫy tay chào nhau, nhanh chân bước đi như ma đuổi, như sợ ai đó đổi ý, như sợ cái diễm phúc vừa cầm được sẽ tan biến vào hư vô.

    Ra tù, gặp lại anh em cùng ngành Kiều lộ ở trạm cân xe Du Long mừng vui khôn xiết, thằng Cư, thằng Thanh, thằng Mẫn cùng tốt nghiệp khóa thư ký Khu với nó ngày nào. Vẫn những cái mồm rôm rả, huyên thuyên những chuyện không đầu không đuôi, chuyện gái gú, chuyện ăn nhậu, chuyện chiến tranh đang lù lù bên đít. Hai tháng rồi cả đoàn không có đồng lương, sống bằng tiền phúng điếu của cánh xe kéo gỗ lúc nào cũng quá tải. Nghe đâu Buôn Ma Thuột không còn, hàng hàng lớp lớp đoàn xe quân sự kéo về hướng Sài Gòn ngày cũng như đêm. Những chiếc xe tải, xe khách, xe dân sự chở lút bin người, tài sản của cánh dân di tản. Chẳng ai còn gan dạ đâu để tính chuyện làm ăn, lão trưởng đoàn cân xe bảo tụi nó :“ Chuồn nhanh thôi, không khéo có đứa thù oán nhân loạn lạc này tung cho quả lựu đạn thì toi cả đám “. Trong đêm đó bọn nó cũng lê được tới Phan Rang, nó nhớ không lầm là ngày một tháng tư thì phải, ngày thế giới nói dối mà chẳng thấy dối tí nào.

    Phan Rang lúc này là lò thiêu sống con người, xác chết nằm la liệt bên vệ đường, trong thành phố, trên bãi biển thì khỏi phải nói. Có những cái xác bẹp dí xe cộ cán qua, cán lại đến bấy; có những cái xác chùm khum trên đống của cướp, ruồi nhặng bâu đen nghịt; có xác vắt vẻo trên thành xe, trên ban công, trên hàng rào…Hàng trăm xe không biết đi về đâu đậu va vất đây đó bị quân xa ủi xuống ruộng. Nghe đâu rừng lá đang xáp lá cà, cánh lính chen lấn nhau xuống tàu thoát theo đường biển không dám đi xe vào Phan Thiết. Bất cứ phương tiện lưu thông thủy nào cũng có lính, không cho nó lên nó bắn, cho nó lên ra khơi nó cũng bắn. Ranh giới giữa cái chết và cái sống dù chỉ là gang tấc thì người ta vẫn chọn sống trong cái khoảnh khắc ngắn ngủi của gang tấc ấy. Thật kinh hoàng, cái thị xã Phan Rang bé tẹo làm sao dung dưỡng nổi bao nhiêu là lính từ miền trung, tây nguyên đổ về. Hàng đoàn lính dài như bất tận từ Tuyên Đức, Lâm Đồng vỡ trận ngày đi đêm nghĩ, lê lết quân trang, quân dụng như món nợ khổ sai đổ về. Họ là những sĩ quan hiện dịch đầu tên mũi đạn, mặc áo lính suốt đời. Những cái tên như trường Võ bị Quốc gia, trường Chính trị Quốc gia oai danh lẫm liệt một thời, nay như con rắn không đầu, thoi thóp, quằn quại. Cấp chỉ huy của chúng đã leo lên trực thăng bay tọt về Sài Gòn từ hồi nảo hồi nao ! Đoàn quân này mang trên vai nó cái gậy uy quyền cuối cùng của hai tỉnh Tuyên Đức, Lâm Đồng, cái gậy rỗng ruột.

    Vừa qua Tân Mỹ là chúng đánh sập cầu, thế là đoàn người di tản phía sau đành dồn lại. Rơm rớm nước mắt hay khóc bù lu bù loa cũng chẳng được gì, họ tràn xuống sông Cái chen chúc bơi qua, nhiều người bơi giỏi đã tới được chỗ ông bà.

    Cánh lính miệt ngoài cũng chẳng hơn gì, những cái tên như Thần Long, Thần Hổ, Thần Sấm của Bình Định, Quảng Ngãi, Khánh Hòa mất hồn tự bao giờ, thất thểu trước đám thủy quân lục chiến bắn, phá tứ tung. Chỉ một ánh nhìn thôi có khi cũng mất mạng. Cánh lính địa phương nhắm không giành nổi tàu bè để thoát vào Vũng Tàu, Sài Gòn với lính chủ lực bèn quay ra cướp của, giết người ngay cả ban ngày trên khắp thị xã bé nhỏ đầy tang thương này.

    Vòng hoa thay cho vành khăn trắng, vòng hoa được thiên nhiên kết trên tàn phượng đỏ, rưng rưng trên hàng vạn cái đầu bất hạnh, trên hàng nghìn bàn tay khát máu. Hoa phượng Phan Rang nổi tiếng là đẹp nhất nước cũng trở thành màu tang tóc dưới con mắt của kẻ mất vợ, của người mất chồng, cha mất con…Hoa phượng là màu chia ly, là mùa chia ly, mùa của sự lưu luyến trong trái tim bé bỏng của tuổi học trò. Là màu chiến thắng, mùa chiến thắng của nhiều cuộc chiến tranh vĩ đại bảo vệ tổ quốc của nhiều dân tộc trên thế giới.

    Hoa phượng trong mắt thằng Độ là màu của hy vọng.

    Đoàn Kiều lộ của nó đã tan rã từ hôm trước phần ai nấy lo, chiếc xe Ford chuyên dụng đành bỏ lại dọc đường với lĩnh kĩnh biển báo, biển hiệu, nồi niêu xoong chảo. May cho nó là thằng Cư cũng dân Tuyên Đức, hai nhà cách nhau chỉ dăm cây số nên chung đường về. Không về thì biết đi đâu, chẳng lẽ ở lại đây làm cửu vạn cho dân Chàm. Cánh tay thằng Độ không còn đau nhức gì nhưng cũng chưa mạnh mẽ hẳn, nó bảo thằng Cư :“ Tao biết đường về nhà gần nhất, chắc trên đường đó không nguy hiểm gì, mày kiếm đồ ăn cho hai đứa đủ ngày rưỡi là được “. Điều đó không khó, thiên hạ bỏ của chạy lấy người, cơm gạo vương vãi đầy đường…Người ta ầm ầm tranh nhau xuống biển, mình lọt tọt bò lên núi quả là chuyện khôi hài. Chúng nó men theo đường xe lửa qua cầu Tân Mỹ ngon lành mà không phải lội xuống sông, tới K’Rong Pha nó coi như đã tới nhà  chỉ còn con đèo Ngoạn Mục bé tẹo. Con đèo đó chẳng có gì là xa lạ với nó, nó đã thuộc nằm lòng từ thời lam lũ, đốn tre, bẻ măng suốt ba tháng hè ròng rã nhiều năm, ngày hai bận đi về nó nhớ từng con dốc, từng khúc quanh.

    Chiều xuống hai thằng ghé vào ngôi nhà bỏ ngõ bên đường, nằm dài trên thềm nhà mát rượi nhìn thiên hạ lũ lượt về xuôi mà nhói cả lòng. Cái thị trấn có biệt danh chảo lửa của cả nước này chỉ có dừa là đặc sản, dừa cao bằng đầu người đã chi chít trái, trái to, hai thằng uống một trái là vỡ bụng. Cơm xong, hai đứa bàn nhau lên đèo, nhìn trời xăm xắp tối thằng Cư e ngại, nó bảo thằng Cư : “ Đèn xe sáng rực cả con đèo thế kia, sợ gì, đi đêm cho mát “. Cực chẳng đã, chứ thằng Cư oải lắm rồi, nó có quen đi bộ cả ngày dưới cái nắng hừng hực như lửa thế đâu. Mà cái nắng tháng tư của Phan Rang thì chẳng bút mực nào tả xiết, chỉ cần phơi một loáng là tàu lá chuối giòn rụm ra rồi. Huống chi trên đường chúng nó qua, trên đầu thì nắng trút xuống, dưới chân thì lửa hắt lên, không say nắng toi mạng là may lắm rồi. Chừng như hiểu thằng Cư không quen dãi dầu như nó, nó vỗ về :“ Mày đi được không, nếu không thì ngủ lại…”. Ngước nhìn lên đèo thằng Cư do dự, nó phục người Pháp sát đất khi đặt tên cho con lộ ngoằn ngoèo này là “ Belle vue “, là Ngoạn Mục.

    Nhìn từ chân núi lên đến đỉnh đèo đèn xe nối đuôi nhau sáng rực, như một con rắn lân tinh khổng lồ với chiều dài hai mươi sáu cây số lung linh theo vũ điệu hồng trần. Con rắn mình đồng da sắt ấy liệu có chịu nổi bão lửa của biển đông đang dâng trào phía thăm thẳm kia.

    Có  bao nhiêu ánh mắt mang hình dấu hỏi của kẻ ra đi nhìn người trở về. Có bao nhiêu xa xót của người trở về nhìn kẻ ra đi. Chỉ có trường đời mới có thể chỉ cho người ta những bài học xương máu. Nó nhớ một câu nói bất hủ của Einstien :” Hạnh phúc chẳng ở đâu xa, ở ngay trong bản thân mình, nơi mình, chung quanh mình và ngay dưới chân mình “.

    Nó phấn khích :“ Nào, chúng ta đi “. 


    __________________________________  
    © Tác giả giữ bản quyền.
    . Cập nhật theo nguyên bản của tác giả gởi từ Đà Lạt ngày 21.02.2011.
    . Trích đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com.